skkn các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở trường thpt lê lai ngọc lặc thanh hóa - Pdf 19

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Để một nền kinh tế bền vững thì nhân tố con người luôn đóng vai
trò quyết định. Vì vậy, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước trên thế
giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Cùng với xu hướng trên,
Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ
thuật cho người lao động, nhằm đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Tuy giáo dục đóng vai trò quan trọng là vậy, nhưng thời gian gần
đây dư luận đang “ nóng “ lên vì những thông tin học sinh bỏ học. Theo
kết quả kiểm tra phong trào thi đua “ trường học thân thiện học sinh tích
cực ” năm học 2011-2012 tại 12 tỉnh thành gồm có : Lạng Sơn, Quảng
Ninh, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Bình Định, Quảng Ngãi, Tây
Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sóc Trăng, Hậu Giang, TP Hồ Chí Minh con
số bỏ học tính riêng học kỳ I lên tới gần 14.000, nhiều nhất là TP HCM
với trên 5.600. Số vụ học sinh đánh nhau là 384 (nhiều nhất là ở Quảng
Ninh 169 vụ), số học sinh vi phạm bị kỷ luật là 376 (nhiều nhất là Lạng
Sơn 151 em).Tình trạng học sinh bỏ học đang tăng hàng loạt ở các địa
phương khiến những ai quan tâm đến giáo dục không khỏi băn khoăn,
trăn trở. Nếu vấn đề này không được quan tâm đúng mức sẽ đưa đến
những hậu quả xấu cho chính bản thân các em, gia đình các em và xã
hội.
Có thể thấy rằng, việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ học hiện
nay là vấn đề hết sức bức thiết và đòi hỏi sự quan tâm của tất cả các ban
ngành. Là một giáo viên chủ nhiệm lớp từ nhiều năm nay, bản thân tôi
cũng đúc rút ra một số kinh nghiệm mà tôi đã thực hiện và thấy có hiệu
quả nên tôi chọn đề tài: “ Các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh
bỏ học ở trường THPT Lê Lai - Ngọc Lặc - Thanh Hóa”, nhằm góp phần
tìm hiểu thực trạng và nêu lên những suy nghĩ về biện pháp khắc phục
vấn đề này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

của huyện Ngọc Lặc, trường đóng trên địa bàn của xã Kiên Thọ, là
2
huyện miền núi nên đa số học sinh của trường là con em nông thôn, đời
sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, nhận thức của người dân
về học tập chưa cao, độ tuổi các em học sinh THPT lại là độ tuổi lao
động chính của các gia đình, đây là một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng nhiều học sinh phải bỏ học, là hiện tượng đáng lo ngại,
cần được quan tâm và suy nghĩ.
2. Nguyên nhân học sinh bỏ học.
Trong những năm học trước do số học sinh của nhà trường bỏ học
nhiều. Cụ thể năm học 2010 – 2011 là 60 em, năm học 2011 – 2012 là 62
em, năm học 2012- 2013 là 61 em. Qua tìm hiểu thực tế tôi được biết học
sinh trường THPT Lê Lai – Ngọc Lặc bỏ học gồm một số nguyên nhân
sau:
2.1/ Nguyên nhân từ phía gia đình học sinh:
Địa bàn tuyển sinh của trường THPT Lê Lai gồm 10 xã, nhưng có
tới 05 xã thuộc vùng 135 đó là Vân Am, Phùng Giáo, Phùng Minh, Phúc
Thịnh, Nguyệt Ấn, như vậy có khoảng 50% số học sinh trong trường
thuộc vùng 135, vì điều kiện kinh tế của gia đình còn quá khó khăn, cha
mẹ các em phải đi làm ăn xa ( trong thành phố Hồ Chí Minh, Bình
Dương, Lâm Đồng ) nên ít có điều kiện quan tâm đến việc học của con
em. Những đối tượng học sinh này phần lớn sống với ông bà, những
người bà con, các em ít được chỉ bảo, động viên trong việc học dẫn đến
học yếu,chán nản và bỏ học. Bên cạnh đó có một số đối tượng do hoàn
cảnh gia đình bị đổ vỡ, cha mẹ ly hôn, cảm giác các em như bị bỏ rơi,
chán nản không có ý thức phấn đấu trong học tập dần dần sa sút, xấu hổ
với bạn bè sinh ra bỏ học.
Ngoài những em học sinh phải bỏ học vì gia đình khó khăn thì
cũng có em gia đình khá giả, bản thân cũng muốn đi học nhưng bố mẹ
lại muốn các em ở nhà phụ giúp việc buôn bán hay làm một số công việc

bạn bè, không có môi trường để rèn luyện đạo đức dễ dàng đưa các em
đến với những thói hư tật xấu, những hành vi lệch chuẩn. Hoặc trong
một tương lai không xa khi các em trưởng thành, xã hội sẽ đón nhận các
em như thế nào khi nền kinh tế đang trong xu thế toàn cầu hóa, làm sao
các em có thể xin được việc làm khi chưa tốt nghiệp THPT. Và lúc đó,
các em sẽ thật sự trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Với những
em có hoàn cảnh kinh tế khá giả, bố mẹ có thể bao bọc hoặc lo cho các
em một công việc nào đó nhưng còn những em có hoàn cảnh khó khăn
4
thì sao? Khi không có công ăn việc làm, khó khăn sẽ chồng chất khó
khăn và nếu không có bản lĩnh các em sẽ trở thành “tay sai” của tệ nạn
xã hội (như trộm cướp, bài bạc, mại dâm ).
Có thể nói hậu quả từ việc bỏ học là rất tệ hại mà chúng ta không
thể lường hết được. Nó tác động xấu đến sự phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội của cả nước nói chung và của địa phương có học sinh bỏ học như
huyện Ngọc Lặc nói riêng.Thậm chí ở những địa phương có tỷ lệ học
sinh bỏ học đông sẽ xảy ra tình trạng “khủng hoảng cộng đồng”. Vì một
số thanh niên ở địa phương không có tri thức kéo theo không có nghề
nghiệp, không có thu nhập, cuộc sống nghèo khó. Không có tri thức rất
dễ sinh nhiều con, ảnh hưởng của sự gia tăng dân số. Còn sự nghèo khó
nó sẽ dẫn đến con đường tội phạm, làm ăn phi pháp.
III. Các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở trường
THPT Lê Lai – Ngọc Lặc.
Xuất phát từ nguyên nhân, thực trạng và những hậu quả của tình
trạng bỏ học của học sinh phổ thông nói chung và học sinh trường THPT
Lê Lai nói riêng, qua quá trình tìm hiểu thực tế kết hợp với ý kiến của
ban giám hiệu nhà trường tôi xin nêu lên một số giải pháp đối với vấn đề
này như sau:
1. Giải pháp tức thời
1.1/ cần có ngay một cuộc vận động “ nói không với hiện tượng học sinh

viên phân tích của tôi và bác hội trưởng hội cựu giáo chức thì em
Phương đã quay trở lại học bình thường, năm học lớp 12 em Phương đã
tâm sự với tôi, “ May mà cô đã quan tâm và phân tích động viên em đi
học trở lại, bố mẹ em là nông thôn không hiểu rõ được thiệt thòi của việc
bỏ học nên ngày đó bố mẹ em đồng ý để em bỏ học ”. Như vậy nếu được
sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể cũng như gia đình các em sẽ có
những quyết định đúng đắn nhất để có một tương lai tốt đẹp, đồng thời
các em cũng thấy được tác hại của việc bỏ học ảnh hưởng như thế nào
đến tương lai của mình. Từ đó các em có cách nhìn, cách nghĩ mới và
quyết định trở lại trường học.
1.3/ Phân loại đối tượng học sinh :
Mỗi giáo viên chủ nhiệm phải lên danh sách những học sinh có
nguy cơ bỏ học ( có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cuộc sống gia đình
6
không hạnh phúc, học sinh học kém ) phân nhóm để có những biện pháp
phù hợp giúp đỡ các em, đối với những học sinh có nguy cơ bỏ học giáo
viên phải thường xuyên tới thăm gia đình các em, trò chuyện với các bậc
phụ huynh, hiểu được những suy nghĩ của các em và gia đình để kịp thời
có những biện pháp giải quyết. Đối với học sinh học kém, học sinh ở lại
lớp giáo viên cần tìm hiểu nguyên nhân, nếu do còn yếu kém kiến thức ở
lớp dưới thì tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo để học sinh theo kịp bạn bè.
Ví dụ: Cuối năm học 2010 – 2011 tôi đã nhờ riêng ba giáo viên đó là
thầy Lê Đức Quang dạy bộ môn toán, cô Hoàng Thị Liên dạy bộ môn
hóa học và cô Hoàng Thị Hằng dạy bộ môn tiếng Anh ra ba đề thi khảo
sát, mục tiêu của đề thi khảo sát là tìm những học sinh còn yếu kiến
thức cơ bản của ba môn này, với vai trò là giáo viên chủ nhiệm lớp
10C1, tôi đã cho lớp tiến hành thi khảo sát ba môn này, sau đó nhờ các
giáo viên trực tiếp ra đề chấm và phân loại học sinh hổng kiến thức cơ
bản của ba môn này. Sau khi có kết quả khảo sát tôi đã đích thân nhờ các
giáo viên dạy phụ đạo ba môn này cho các em. Kết quả đến năm lớp 11

đạo thêm để các em có một khối kiến thức vững vàng có thể học tốt hơn
ở các lớp trên.
2.2/ Thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập ở các trường phổ
thông nói chung và trường THPT Lê Lai nói riêng.
Hiện nay một số giáo viên có trình độ sư phạm yếu, trong quá
trình giảng dạy đã gây cho học sinh cảm giác nhàm chán, chính vì vậy,
các trường nên quan tâm đến trình độ sư phạm của các giáo viên này để
biết cách bồi dưỡng như: tổ chức các kỳ thi giáo viên giỏi cấp trường
một năm học hai lần, quy định mỗi giáo viên trong một tháng phải đi dự
giờ thăm lớp của các đồng nghiệp ít nhất hai tiết, trong một học kỳ nhà
trường tổ chức thao giảng bắt buộc ít nhất hai lần để các giáo viên dự
giờ và góp ý cho nhau Từ đó các giáo viên được bồi dưỡng thêm về
chuyên môn như cách giảng bài, cách truyền đạt kiến thức ngắn gọn, dễ
hiểu gây được hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em biết tư duy
sáng tạo, độc lập suy nghĩ.
Một vấn đề nữa gây ra sự khô khan cho học sinh khi học trên lớp đó là,
giáo viên luôn dạy theo cách truyền thống, không đổi mới phương pháp,
không sử dụng hoặc rất ít sử dụng đồ dùng dạy học. Hàng năm các nhà
trường nên rà soát lại toàn bộ đồ dùng dạy học và các thiết bị thí nghiệm
để bổ sung thật đầy đủ, từ đó có biện pháp bắt buộc giáo viên phải sử
dụng đồ dùng hoặc thiết bị thí nghiệm. Tôi tin rằng với những thay đổi
8
trong phương pháp truyền đạt kiến thức theo hướng tích cực sẽ giúp các
em cảm thấy thú vị, yêu thích việc học tập hơn và nhận thấy rất nhiều
điều bổ ích trong việc học tập, từ đó sẽ khắc phục tình trạnh học sinh
chán học dẫn đến bỏ học.
2.3/ Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp
trong việc đưa trẻ đến trường, ngăn chặn tình trạng bỏ học.
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo chặt chẽ của
chính quyền các cấp. Đặc biệt là sự nổ lực của ban chỉ đạo phổ cập cấp

Quan hệ thầy trò vốn là mối quan hệ tách biệt từ ngàn xưa. Trong
nền giáo dục hiện tại, nhất là từ năm 2008 đến nay ta đang tích cực thực
hiện cuộc vân động “ xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ”
quan hệ đó đã được thay đổi, thầy trò ngày nay có tình cảm thân mật gần
gũi hơn, bởi có quan hệ gần gũi thì mới biết được những tâm tư nguyện
vọng của các em, chúng ta mới có những biện pháp giáo dục thích hợp
hơn. Và vì lẽ đó chúng ta mới thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục toàn diện.
Đối với học sinh cá biệt việc gần gũi với các em quả là một vần đề
không đơn giản, nếu GVCN thiếu tế nhị một chút thôi thì khó mà có thể
gần gũi với các em được, chẳng hạn thường xuyên phê bình, dùng nhiều
lới xúc phạm đến các em đều có thể làm tổn thương đến mối quan hệ
này. Hơn nữa vì các em thường xuyên vi phạm nên các em càng lẩn
tránh tiếp xúc với giáo viên nhất là giáo viên chủ nhiệm lớp.
Để thấy được hết cá tính của học sinh, GVCN cần tạo đựơc mối
quan hệ gần gũi với các em, thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy nhất sau cha
mẹ của các em. Chú ý khi giao tiếp với các em ta phải luôn cởi mở, chân
tình, vui vẻ dễ cảm hóa được các em, khi có được mối quan hệ tốt các
em sẽ thổ lộ những tâm tư tình cảm với GVCN mà không một chút ngần
ngại. Những lời khuyên răn dạy bảo của chúng ta sẽ có tác dụng lớn đối
với các em.
Ví dụ:Em Ngô Thị Hương Dung- học sinh lớp 10C1 do tôi chủ
nhiệm là một học sinh học rất yếu, em thường xuyên không thuộc bài cũ
và điểm rất kém ở các bài kiểm tra, em chán nản và có ý định bỏ học
nhưng vì gia đình ép nên em đành phải đi học. Em tỏ ra lầm lì ít nói, mặc
cảm với bạn bè, với thầy cô, xa lánh mọi người, nhất là đối với tôi em lại
càng lẩn tránh hơn.
Thấy vậy tôi tìm cách gần gũi em bằng cách: Trong tuần học thứ
10 em không thuộc bài 2 lần đều bị điểm 1 và giáo viên bộ môn ghi tên
10
vào sổ đầu bài- Lẽ ra như các tuần trước, những em không thuộc bài thì

gặp riêng em sau gìơ học cuối cùng của ngày thứ bảy- cả lớp đã ra về tôi
gọi em ở lại để khuyên nhủ em, trước mặt tôi em rất ngoan ngoãn không
có biểu hiện gì. Tôi bắt đầu từ việc hỏi thăm gia đình em, mẹ em thế
nào? cô nghe nói vừa qua mẹ em bị ốm nặng bây giờ thế nào rồi trước
11
sự quan tâm chân tình của cô giáo chủ nhiệm với bản tính lương thiện
của trẻ em- Hoàng nói chuyện với tôi chân tình. Khi thấy em không ngần
ngại gì trong tâm sự cùng tôi, tôi bắt đầu gợi ý nhắc nhở từng vi phạm
của em, chú ý trong các vi phạm của em tôi đều đưa em vào thế bị lôi
kéo theo bạn mà hư. Tôi dùng tình cảm của người mẹ để tâm sự cùng
em: Em là niềm an ủi duy nhất đối với mẹ - mẹ là chỗ dựa duy nhất của
em, mẹ tần tảo nuôi em ăn học là muốn em trở thành người tốt, bao vất
vả nặng nhọc mẹ đều gánh chịu để em được có điều kiện tốt mà học tập
bằng bạn bằng bè, thế mà vừa rồi cô nghe mẹ ngã bệnh là do biết em
theo các bạn bỏ học, trộm cắp em không thương mẹ sao? Nói đến đây,
tôi thấy đôi mắt em chớp chớp, rưng rưng Tôi đã cảm hoá được em, từ
đó tôi thường xuyên trao đổi với em, mỗi lần trao đổi riêng, tôi đều tìm
cách khen ngợi những tiến bộ của em.
Một trường hợp khác, gia đình kinh tế khá giả, cha mẹ buôn bán, lo
việc kinh doanh không quan tâm đến việc học tập của con em, như gia
đình em Lê Đức Tài. Tài là một học sinh học khá từ những năm học ở
THCS, lên THPT Tài theo bạn bè hay bỏ học, được cha mẹ thường
xuyên cho tiền nên Tài tha hồ chơi điện tử, thường xuyên bỏ học, có lần
Tài đã “ dọa ” bố mẹ bỏ nhà đi, khi bố mẹ và chị gái của em gọi điện
nhưng em cố tình không nghe điện thoại, chỉ khi tôi gọi thì em nghe và
hứa sáng mai về đi học luôn Với Tài tôi dùng biện pháp khác tôi theo
dõi em nhiều hơn, hễ em có vi phạm gì là tôi biết ngay và mỗi lần trao
đổi với em tôi đều đưa ra những chi tiết rất chính xác, ví dụ chiều nay em
bỏ học tiết 2, 3 đi chơi điện tử ở quán với em , sáng thứ ba em xin
nghỉ học với lý do ốm đau nhưng cô biết em chơi điện tử với

bè các em sẽ bộc lộ rõ cá tính không e ngại. Tôi thường xuyên giữ mối
quan hệ với các em này tìm hiểu những khó khăn khi phải thuyết phục
HS cá biệt để tháo gỡ khó khăn cho các em, thường xuyên cung cấp biện
pháp xử lý kịp thời những biến động của các đối tượng và động viên các
em, tạo cho các em có niềm tin thuyết phục, giúp đỡ học sinh cá biệt tiến
bộ.
Trong biện pháp này cũng có thể dùng cách “ lấy độc trị độc ”.
Qua các hoạt động của lớp, GVCN cần theo dõi kỹ, qua từng hoạt động
các em có những biểu hiện như thế nào: say mê, hứng thú, nhiệt tình,
tích cực hay qua loa chiếu lệ, đùn đẩy, Hoạt động này em thích dẫn đến
nhiệt tình, hoạt động kia không thích thì né tránh
Từ việc theo dõi trên GVCN có biện pháp phát huy sở trường của
từng em lấy đó làm đòn bẩy để tiến hành ngăn chặn những biểu hiện tiêu
cực khác nảy sinh ở các em.
13
Ví dụ: Em Trần Văn Khanh là học sinh thường xuyên nói chuyện riêng
trong lớp, khi ban cán sự lớp phê bình là em hăm doạ đánh bạn. Để vừa
ngăn chặn được sự mất đoàn kết trong lớp đồng thời xây dựng nề nếp tiết
học tốt tôi phân em làm lớp phó kỷ luật - giao nhiệm vụ theo dõi các bạn
đồng thời trước lớp tôi quy định những em cán sự lớp phải luôn gương
mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, nếu vi phạm thì hình thức kỷ luật sẽ
nặng hơn. Khi nhận chức danh lớp phó Khanh rất thích, tuần đầu tiên
Khanh có tiến bộ nhưng vẫn còn một vài lần bị phê bình là nói chuyện
riêng, cuối tuần nhận xét tình hình chung của lớp tôi cho các em phát
biểu phê bình vai trò trách nhiệm của Khanh. Sau đó tôi nhận xét
chung."Tuy rằng trong tuần qua bạn Khanh vẫn còn sai sót - có vi phạm
kỷ luật, nhưng so với các tuần trước nề nếp của lớp ta tuần này tiến bộ
hơn và bản thân Khanh cũng có tiến bộ, vì sự tiến bộ của lớp ta có thể xí
xoá cho bạn và cho bạn cơ hội để khẳng định vai trò của mình ở tuần
học tiếp theo". Về sau Khanh đã ý thức được trách nhiệm của mình và

ngại nói ra những điều mà ta cần tìm hiểu, trao đổi.
Có thể trao đổi bằng điện thoại, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu
năm tôi đã xin số điện thoại của toàn bộ phụ huynh, và đưa số điện thoại
của tôi cho tòan bộ phụ huynh của lớp biết, để từ đó giữa phụ huynh và
GVCN có thể trao đổi về tình học tập của các em bất cứ lúc nào cần
thiết. Cách làm này có thể thường xuyên trao đổi với phụ huynh và kịp
thời giáo dục, chấn chỉnh những sai phạm của các em.
3.4/ Kết hợp với giáo viên bộ môn
Như phần trình bày nguyên nhân trên, một phần biểu hiện cá biệt
của các em là do quan hệ giữa giáo viên và học sinh chưa tốt, có em có
những phản kháng đối với những hành động quá đáng của một vài giáo
viên. ví dụ như có GV dùng những lời quá nặng nề trong việc nhận xét
HS không thuộc bài cũ, không hiểu được bài hay có những biểu hiện áp
đặt, thiếu công bằng Để xác định chính xác cá biệt của HS từ nguyên
nhân này hay không, tôi thăm dò hỏi tất cả giáo viên dạy bộ môn của lớp
để có biện pháp giáo dục thích hợp và cũng từ đó tôi có thể góp ý ngay
với GV trong việc cần phải tôn trọng và công bằng trong đối xử với HS .
Cũng có thể do tính cách cá biệt của các em, ở mỗi môn học em có
một biểu hiện cá biệt khác nhau, tôi tổng hợp các ý kiến để xác định
nguyên nhân cơ bản.
15
Từ việc trao đổi trên tôi tìm ra những ưu điểm của các em để động
viên đồng thời lồng vào từng chút một những khuyết điểm của các em để
nhắc nhở khắc phục.
Ví dụ: em Phan Thanh Sự là một học sinh cá biệt của lớp tôi chủ nhiệm
năm học 2011 - 2012
Các môn học thuộc lĩnh vực tự nhiên em học rất tốt, nhưng các
môn đòi hỏi học thuộc bài thì em học rất yếu, thậm chí môn Tiếng Anh
em đạt điểm kém. Em luôn đem đến sự phiền toái cho lớp như thường
xuyên nói chuyện trong giờ học, bỏ học đi chơi điện tử, xem đá bóng,

- Thứ ba: Bảo đảm thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà trường.
Biện pháp này chỉ có hiệu lực khi hai bên cùng thực hiện đúng những
quy định chung về sự phát triển toàn diện của học sinh. Sau khi thấy học
sinh nghỉ học nhiều lần, nhà trường mà cụ thể là giáo viên chủ nhiệm cần
có sự thông tin kịp thời và cần thiết cho gia đình để cùng nhau phối hợp
giải quyết.
- Thứ tư: Phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường
khảo sát, điều tra nắm chắc và kịp thời về tình hình diễn biến của số
lượng học sinh bỏ học ở địa phương để có thể ngăn chặn kịp thời và có
hiệu quả. Biện pháp này chỉ mang lại hiệu quả nếu nhà trường luôn trung
thực về số lượng học sinh bỏ học, không chạy theo thành tích, để có thể
đưa ra những con số chính xác, phối hợp với các tổ chức ban ngành để
ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học.
- Thứ năm: Cải thiện đời sống cán bộ, giáo viên bằng các chế độ
chính sách phù hợp với tay nghề, cải thiện môi trường sư phạm ngày
càng đạt chất lượng và đạt chuẩn để thu hút học sinh tới trường.
Như vậy những giải pháp cơ bản trên vừa nhằm tạo thêm nhiều cơ
hội cho các em học sinh nghèo, học sinh là con em đồng bào dân tộc,
vùng đặc biệt khó khăn có cơ hội đến trường, các em có học lực yếu kém
có nguy cơ bỏ học được quan tâm bồi dưỡng phụ đạo thêm để các em có
thể được trang bị đầy đủ kiến thức để tiếp tục đến trường. Để các giải
pháp này triển khai được tốt cần có sự lãnh đạo của sở giáo dục, sự quan
tâm của ban giám hiệu nhà trường, của gia đình các em học sinh và các
tổ chức xã hội, theo tôi các giải pháp này phải thực hiện đồng bộ, vừa
thực hiện các giải pháp ngắn hạn, vừa tiến hành triển khai xen kẽ các giải
pháp dài hạn đồng thời chú ý đến các đối tượng học sinh cá biệt, coi các
giải pháp ngắn hạn là tiền đề cho việc thực hiện cho việc thực hiện giải
pháp dài hạn đạt kết quả tốt, giúp các em học sinh có những điều kiện tốt
nhất để tiếp tục được đến trường.
17

2 10C
2
50 48 02 01 bỏ do lực học yếu, 01 do hoàn cảnh
gia đình khó khăn
3 10C
3
47 44 03 02 bỏ do hoàn cảnh gia đình khó khăn,
01 bỏ do lực học yếu.
4 10C
4
52 52 0 Lớp chọn toán
5 10C
5
52 50 02 02 bỏ do lực học yếu
6 10C
6
51 51 0 Lớp chọn văn
7 10C
7
47 46 01 Bố mẹ ít quan tâm đến việc học của
con dẫn đến chơi bời và bỏ học
8 10C
8
45 43 02 01 bỏ do hoàn cảnh gia đình khó khăn,
01 là học sinh cá biệt bị đình chỉ học
18
9 10C
9
47 38 09 04 bỏ do lực học yếu, 02 bỏ do nhà xa
trường, 02 bỏ do hoàn cảnh khó khăn,

01bỏ do gia đình ít quan tâm,
dẫn đến chơi bời, 03 bỏ do
lực học yếu, 02 bỏ vì là học
sinh cá biệt bị đình chỉ học
4 11C4 0 52 52 0 Lớp chọn toán
5 11C5 02 52 51 01 Bỏ do lực học yếu
6 11C6 0 51 51 0 Lớp chọn văn
7 11C7 06 52 47 05 02 bỏ do gia đình không cho
đi học, 01 bỏ do theo bạn đi
Hà Nội, 02 bỏ do lực học yếu
8 11C8 08 51 49 02 01 bỏ do hoàn cảnh gia đình,
01 là học sinh cá biệt, bị đình
chỉ học
9 11C9 Giải tán lớp do tụt sỹ số nhiều
10 11C10 06 52 47 05 01 bỏ do lực học yếu, 02 bỏ
19
vì là học sinh cá biệt bị đình
chỉ học, 02 bỏ vì hoàn cảnh
gia đình khó khăn
11 Tổng 38 467 441 26
Năm học 2012 – 2013
ST
T
Lớp Nhận
thêm
từ
C3
Sỹ số
đầu
năm

C1 chỉ có 01 em bỏ học từ năm lớp 10 với một lý do bất khả kháng, điều
đó cho thấy tôi đã áp dụng có hiệu quả một số giải pháp trên. Theo tôi
nếu được sự quan tâm của tất cả các cấp lãnh đạo để triển khai một cách
đồng bộ các giải pháp trên thì chắc chắn kết quả sẽ còn tốt hơn nhiều.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. Kết luận
1. Hiện tượng bỏ học của học sinh ở bậc THPT nói chung, trường
THPT Lê Lai – Ngọc Lặc – Thanh Hóa nói riêng vẫn còn xảy ra, việc
ngăn ngừa hiện tượng bỏ học của học sinh là trách nhiệm của những
người làm công tác giáo dục, việc tìm ra những nguyên nhân tác động dù
là khách quan hay chủ quan để đưa ra biện pháp ngăn ngừa kịp thời để
hạn chế đến mức thấp nhất là việc làm cần thiết phù hợp với quy luật
phát triển của xã hội và yêu cầu về phổ cập giáo dục THPt hiện nay,
song song với việc tìm tòi, nghiên cứu, nắm bắt hiện tượng để thấy bản
chất của hiện tượng là việc làm nghiêm túc, từ đó khắc phục hiện tượng
học sinh bỏ học, tiến đến chỉnh đốn về chất lượng và đảm bảo về số
lượng trong nhà trường với mục tiêu của ngành giáo dục đề ra. “Nâng
cao chất lượng và hiệu quả trong giáo dục”.
II. Đề xuất
- Sở giáo dục và đào tạo sớm có các giải pháp chung về chuyên đề
“ khắc phục tình trạng học sinh bỏ học” để tập huấn, triển khai đến toàn
bộ các bậc học trong toàn ngành giáo dục.
- Mỗi nhà trường nên phối hợp, tham mưu với tất cả các ban ngành,
các cấp lãnh đạo từ cấp huyện đến cấp xã, thôn bản để có giải pháp khắc
phục tình trạng học sinh bỏ học ở địa phương mình một cách phù hợp và
có hiệu quả nhất.
- Trên đây là một vài giải pháp và kết quả đạt được của bản thân
trong quá trình chủ nhiệm lớp. Tuy nhiên với những kinh nghiệm của
21
bản thân tôi còn nhiều hạn chế, nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những

III. Các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở trường
THPT Lê Lai - Ngọc
Lặc 4
1. Giải pháp tức
thời 4
1.1 Cần có ngay cuộc vận động "Nói không với
hiện " 4
1.2 Nhà trường cần phối hợp với các cơ quan đoàn thể
khác 5
1.3 Phân loại đối với học
sinh 5
1.4 Cần có chế tài đối với những trường hợp buộc học
sinh 6
2. Giải pháp dài
hạn 6
23
2.1 Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "hai
không" 6
2.2 Thay đổi phương pháp dạy và
học 6
2.3 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Đảng 7
3. Giải pháp giáo dục học sinh cá
biệt 7
3.1 Giáo dục bằng tâm
lý 8
3.2 Giáo dục bằng tập
thể 10
3.3 Kết hợp với phụ huynh học
sinh 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status