SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Hồng Bàng
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC
SINH ĐẦU CẤP BỎ HỌC TẠI TRƯỜNG THPT HỒNG BÀNG
Người thực hiện: Phạm Việt Thắng
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2013-2014
BM 01-Bia SKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Phạm Việt Thắng
2. Ngày tháng năm sinh: 01/03/1980
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Trường THPT Hồng Bàng
5. Điện thoại:0919.620.469 (CQ)/ 0613.741284 (NR); ĐTDĐ:
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Phó hiệu trưởng
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Hồng Bàng
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2005
học
sinh
bỏ
học
tỷ lệ
%
khối
11
SL
học
sinh
bỏ
học
tỷ lệ
%
khối
12
SL
học
sinh
bỏ
học
tỷ lệ
%
Tổng
Số
HS
Cuố
i
năm
10%. Như vậy mỗi năm học chỉ tính riêng khối 10 nhà trường bị giảm học sinh từ
1 đến 2 lớp và đương nhiên là phải dồn lớp.
3
Duy trì sĩ số học sinh, giữ chân được các em nhất là học sinh đầu cấp (khối
10) của nhà trường được xem như là một giải pháp quan trọng, nó vừa có ý nghĩa
để duy trì tốt hoạt động giáo dục đào tạo, vừa có ý nghĩa cho việc ổn định nguồn
thu tài chính của trường, tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên an
tâm công tác lâu dài tại trường, tạo động lực cho sự phát triển chung các hoạt động
khác.
Xuất phát từ thực trạng trên bản thân tôi về công tác tại trường được 9 năm
làm quản lý được 5 năm thiết nghĩ nếu có được những giải pháp tốt để duy trì sĩ số
học sinh nhất là học sinh đầu cấp (khối 10) điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với
sự tồn tại và phát triển của nhà trường, qua kết quả thống kê hàng năm bản thân
luôn trăn trở suy nghĩ mình phải làm gì để góp một phần công sức nhỏ bé vào sự
phát triển chung của nhà trường, giảm bớt tình trạng học sinh bỏ học nói chung và
học sinh đầu cấp nói riêng, bản thân tôi mạnh dạn đề xuất đề tài “Một số giải pháp
khắc phục tình trạng học sinh đầu cấp bỏ học tại trường THPT Hồng Bàng”
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận.
Hiện tượng học sinh bỏ học trong các năm học gần đây đang là vấn đề đáng
quan tâm không những chỉ các trường ngoài công lập mà còn trong phạm vi các
trường tốp dưới trong tỉnh Đồng Nai và nhiều vùng trên cả nước. Đây là một thực
trạng đáng lo ngại, đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các ban
ngành đoàn thể xã hội, ngành giáo dục và mọi gia đình cần có những biện pháp
chấn chỉnh kịp thời để hạn chế tình trạng học sinh bỏ học.
Thực tế cho thấy, việc học sinh bỏ học có thể kéo theo nhiều hệ lụy cả trước
mắt lẫn lâu dài, không chỉ đối với cá nhân, gia đình học sinh mà cả với nhà trường
và xã hội. Khi bỏ học, tâm trạng thường chán nản khiến những học sinh này dễ bị
kích động, lôi kéo. Từ đó có thể hình thành nên một lượng thanh thiếu niên thất
học, lêu lổng, dễ sa vào các thói hư tật xấu, có thể sa vào các tệ nạn xã hội, vi
Ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu, Hội đồng quản trị, các tổ trưởng, nhóm
trưởng chuyên môn trong nhà trường đã họp đưa ra nhiều giải pháp trong đó việc
làm đầu tiên là phải tiến hành phân loại học lực của học sinh thật chính xác đối với
học sinh mới được tuyển vào trường. Qua đợt khảo sát chất lượng đầu năm phải
phân loại học lực học sinh.
Ban giám hiệu đã bố trí lựa chọn những giáo viên có năng lực chuyên môn và
nghiệp vụ sư phạm tốt, tiến hành phụ đạo, bồi dưỡng thêm kiến thức cho những
học sinh yếu kém. Thực hiện tốt phong trào “Hai không” là tránh tình trạng học
sinh “ngồi nhầm lớp”, không phải cho học sinh ở lại lớp nhiều, mà phải tìm nhiều
biện pháp nâng cao trình độ để học sinh có thể lên lớp và tiếp thu được kiến thức
mới. bên cạnh đó đẩy mạnh các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động hưởng
ứng tích cực phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực”. Tổ chức có hiệu quả các hoạt động ngoại khóa như: tổ chức cho học sinh về
nguồn thăm một số di tích lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh,
thông qua một số di tích lịch sử tại địa phương, tổ chức biểu diễn văn nghệ nhân
dịp các ngày lễ lớn như 30/4, 26/3… tổ chức cắm trại cho học sinh các khối lớp,
tích cực tham gia các giải thi đấu do địa phương tổ chức như Giải việt giã leo núi
chứa chan Huyện Xuân lộc tổ chức hàng năm và các phong trào khác…
Ban giám hiệu chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm kết hợp tốt với Cha mẹ học sinh,
chính quyền, đoàn thể địa phương để tất cả những học sinh có biểu hiện sa sút về
học tập hoặc vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật phải được quản lý và có biện
pháp ngăn ngừa, giáo dục ngay từ đầu. Hơn lúc nào hết, đối với những học sinh
này rất cần sự nghiêm khắc và bao dung, độ lượng, nhiệt tình của các lực lượng
trong xã hội.
3. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp.
Qua nhiều năm giảng dạy tại trường và hiện tại đang làm công tác quản lý tại
trường, tôi thấy ở trường các em học sinh đầu cấp(lớp 10) bỏ học do những nguyên
nhân cơ bản sau:
3.1 Nguyên nhân khách quan:
Chất lượng tuyển sinh đầu vào học sinh của trường thấp, đa số có học lực
dục học sinh yếu kém, học sinh cá biệt còn những hạn chế nhất định. Việc thực
hiện phân loại học sinh ngay từ đầu năm học để có kế hoạch bồi dưỡng tổ chức
phụ đạo, giúp đỡ học sinh yếu kém ngay từ đầu gặp rất nhiều khó khăn công tác
tuyển sinh đầu vào của nhà trường còn nhiều hạn chế phải nhận hết số học sinh
không đủ điều kiện vào các trường công lập trong huyện.
Đối với những học sinh lười học, học kém thì việc phải ngồi liên tục trong lớp
ở tất cả các tiết học, các buổi học thực sự là một “cực hình”. Khi đó, nội quy nhà
trường không đủ để răn đe nên những học sinh này luôn tìm cách tránh né việc học
làm cho kết quả học tập ngày càng giảm sút, điểm tổng kết thấp dưới trung bình,
tất nhiên là phải lưu ban.
Tình trạng học sinh mới vào trường kết bè kết phái muốn khẳng định mình
không nghe lời giáo dục của thầy cô gây gổ đánh nhau bị nhà trường xử lý kỷ luật
chán nản dẫn đến bỏ học.
Một số em có lối sống buông thả, tụ tập rủ rê, lôi kéo một số học sinh khác bỏ
học, cúp tiết đi chơi nhất là các trò chơi điện tử, lười học,không nghe được thầy cô
giảng dạy, không chép bài có biểu hiện chán nản dẫn đến nghỉ học.
Song song với các nguyên nhân từ bản thân học sinh có lẽ không thể không kể
đến tình trạng học sinh “ Ngồi nhầm lớp” vẫn là câu chuyện dài chưa có hồi kết
trong ngành giáo dục nói chung và trường THPT tư thục Hồng Bàng nói riêng qua
6
giảng dạy tại trường nhiều năm thực tế cho thấy có một bộ phận không nhỏ học
sinh lớp 10 tại trường không biết giải các bài toán cơ bản ở lớp dưới, một số học
sinh đọc viết văn bản sai chính tả rất nhiều.
3.3 Biện pháp thực hiện.
Nhằm giảm tỷ lệ học sinh đầu cấp bỏ học để đảm duy trì sĩ số học sinh, nâng
cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường, bản thân tôi cũng như hội đồng
quản trị nhà trường, các ban chuyên môn, toàn thể hội đồng sư phạm nhà trường đã
có những giải pháp quyết liệt ngay từ đầu năm học mới 2013-2014 về phòng chống
học sinh bỏ học, và để đạt được mục đích giáo dục trong thời gian tới cũng như
thực hiện hoàn thành tốt kế hoạch nhiệm vụ năm học 2013-2014 và các năm tiếp
thấp để làm việc với GVCN về lí do học sinh nghỉ nhiều trên cơ sở đó có biện pháp
chỉ đạo kịp thời.
Học sinh nghỉ học 3 ngày không phép trở lên, không có lí do chính đáng, giáo
viên chủ nhiệm cung cấp danh sách học sinh bỏ học cho BGH. Hiệu trưởng kịp
thời tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến bỏ học, đồng thời có kế hoạch kết hợp với phụ
7
huynh học sinh, giáo viên chủ nhiệm đến nhà từng học sinh vận động học sinh đi
học lại.
Tổ chức thực hiện cam kết trách nhiệm công tác duy trì sĩ số,chống học sinh
bỏ học giữa chừng giữa Hiệu trưởng với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chủ
nhiệm với phụ huynh học sinh và từng cá nhân học sinh. Để các bên hiểu rõ trách
nhiệm cùng thực hiện.
Phân công giáo viên chủ nhiệm có kinh nghiệm xử lý học sinh, có năng lực
phẩm chất đạo đức tốt, được phụ huynh tin tưởng chủ nhiệm các lớp đầu cấp (khối
10)
Gắn công tác thi đua với công tác duy trì sĩ số, đầu năm học BGH kết hợp với
công đoàn soạn thảo thang điểm thi đua của cán bộ giáo viên, công nhân viên trong
đó có quy định GVCN để học sinh bỏ học quá nhiều (Khối 12 không quá 2.5%,
Khối 11 không quá 4% và khối 10 không quá 8% thì cuối năm sẽ hạ một bậc thi
đua, GVCN duy trì sĩ số 100% thì cuối năm nâng 1 bậc thi đua kể cả lớp chọn) Ba
lớp xếp cuối sẽ bị trừ thi đua tuần tự là 20 điểm, 15 điểm, 10 điểm.
Thành lập Ban vân động Học sinh bỏ học giữa chừng Ban vận động gồm
Hiệu trưởng, Chủ tịch Công đoàn, Bí thư đoàn trường Hội PHHS, cán bộ giáo viên
có uy tín, giáo viên chủ nhiệm giỏi, các tổ trưởng chuyên môn, giáo viên có học
sinh bỏ học để thực hiện công tác vận động khi có học sinh bỏ học.
BGH kết hợp với chính quyền địa phương, Hội PHHS, Hội khuyến học quan
trọng nhất là Hội đồng quản trị nhà trường các mạnh thường quân trong hội đồng
vận động hỗ trợ cho học sinh nghèo thiếu điều kiện học tập như Tập vở, SGK, tiền,
để giúp các em an tâm học tập,hạn chế được HS vì nghèo mà bỏ học.
Mạnh dạn đề xuất với Hội đồng quản trị của trường giảm hoặc gia hạn học phí
tập (cá nhân, nhóm, các trò chơi,…) để hạn chế học sinh nhàm chán, giúp các em
có hứng thú học tập và học tập có hiệu quả hơn.
Cải tiến phương pháp giảng dạy trong giờ lên lớp, quan tâm thiết thực đối
tượng HS yếu, kém, xác định đối tượng học sinh của trường vì vậy giáo viên
không những dạy mà còn phải dỗ các em để các em học tốt hơn.
Giáo viên bộ môn luôn gần gũi và hết lòng giúp đỡ học sinh, đặc biệt là học
sinh yếu, với các em học yếu cần đặt những câu hỏi dễ, vừa sức với các em để các
em có hứng thú trả lời, hứng thú học tập. Khi các em trả lời được cần có lời khen
các em kịp thời có như vậy, các em mới ham thích học, không bỏ học vì chán học
Giáo viên bộ môn luôn gần gũi, tạo tình cảm và thương yêu các em nhiều hơn.
Tuyệt đối không được thóa mạ các em, trách phạt các em phải khéo léo. Có như
thế HS mới có ấn tượng tốt với thầy - cô của mình , thương yêu thầy- cô của mình,
vắng thầy- cô của mình là buồn, là nhớ.
Giáo viên bộ môn nắm bắt các em có nguy cơ bỏ học, thông qua giáo viên chủ
nhiệm làm quen với gia đình học sinh để tạo tình cảm với cha mẹ các em . Từ chỗ
thiện cảm này, cha mẹ các em sẽ khó có thể cho các con mình bỏ học .
3.3.4. Đối với công việc của giáo viên chủ nhiệm :
Xác định đây là khâu quan trọng nhất để khắc phục tình trạng học sinh bỏ
học, BGH xây dựng kế hoạch cho giáo viên chủ nhiệm đăng ký quản lý, giáo dục
học sinh có dấu hiệu vi phạm và có nguy cơ bỏ học.
Giáo viên chủ nhiệm dựa trên kế hoạch chủ nhiệm của nhà trường để lên kế
hoạch chủ nhiệm lớp theo năm, tháng và tuần .
GVCN nắm bắt kịp thời những học sinh cá biệt nhất là những học sinh mới
vào trường chưa nắm được nội quy quy định của nhà trường, thường hay vi phạm.
Trong các tiết sinh hoạt lớp, giáo viên chủ nhiệm phải có giáo án sinh hoạt
chủ nhiệm từng tuần duyệt trước với BGH trong đó có thêm nội dung vận động
HS bỏ học trở lại trường, lớp.
Giáo viên chủ nhiệm tổ chức cho học sinh học nội quy, quy định của nhà
trường, điều lệ trường trung học ký cam kết an toàn giao thông đường bộ, ký cam
kết phòng chống tệ nạn xã hội đầu mỗi năm học.
Tuyên truyền và Tổ chức cho toàn thể HS kí kết không sử dụng ma tuý,
không vi phạm luật Giao thông, không gây gỗ đánh nhau, phòng chống HIV/AIDS.
Xây dựng triển khai kế hoạch lập danh sách học sinh yếu kém có nguy cơ bỏ
học kết hợp với chính quyền địa phương quản lý, giáo dục học sinh trong thời
gian nghỉ hè.
Tổ chức cho các em tham gia tốt các mặt hoạt động ngoài giờ lên lớp , hoạt
để các em có niềm vui trong học tập và rèn luyện.
Tổ chức tốt hộp tiền tiết kiệm, nuôi heo đất ở các lớp để gây quỹ giúp bạn
nghèo tiếp tục học tập nhằm giảm tỷ lệ học sinh bỏ học.
3.3.6 BGH chỉ đạo thực hiện đối với bảo vệ, quản sinh của nhà trường.
Đây cũng là lực lượng không thể thiếu giúp Ban giám hiệu quản lý học sinh
bỏ học hiệu quả, trong từng buổi học, từng ngày. Hàng tuần BGH cụ thể là phó
hiệu trưởng phụ trách công tác nề nếp kỷ luật học sinh đã họp giao ban với bộ
phận bảo vệ quản sinh vào sáng thứ 2 để nắm bắt tình hình và chỉ đạo cho bộ phận
bảo vệ quản sinh thực hiện nghiêm túc việc phát hiện kịp thời những học sinh có
biểu hiện vi phạm nội quy, quy định của nhà trường, bàn giao cho giáo viên chủ
nhiệm xử lý.
Mỗi buổi học bảo vệ quản sinh của từng dãy lầu phải kiểm tra thường xuyên,
tổng hợp những học sinh vắng học có phép, không phép, lý do công bố trên bảng
thông tin của nhà trường kết hợp với GVCN thông báo kịp thời thông qua phần
mềm VNPT cho phụ huynh biết để có biện pháp giáo dục.
10
3.3.7 BGH kết hợp với Hội cha mẹ HS:
BGH xác định để giảm nguy cơ học sinh bỏ học giữa chừng ngoài các biện
pháp nêu trên thì không thể thiếu vai trò của hội cha me học sinh, trong các năm
học vừa qua hội PHHS của trường đã tích cực hỗ trợ cho các hoạt động giáo dục
của trường, tuyên truyền động viên học sinh học tập, rèn luyện nhất là những học
sinh yếu, có nguy cơ bỏ học Hội đã hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động giảng dạy,
thể thao văn nghệ và phần thưởng cho giáo viên, học sinh nhất là những học sinh
nghèo vươn lên trong học tập.
đồng quản trị đưa ra tạo được sự thống nhất cao trong hội đồng sư phạm nhà
trường. được phụ huynh ủng hộ tạo điều kiện tốt nhất cho BGH nhà trường triển
khai.
11
2. Một vài số liệu thống kê kết quả đạt được sau khi thực hiện các giải
pháp:
- Đầu năm học 2013-2014 trường có 33 lớp với 1651 học sinh (giảm 2 lớp
so với năm học 2012-2013). Tổng số giáo viên, công nhân viên của trường là 83
người. Trong đó BGH: 03 người, giáo viên: 67 người, nhân viên: 13 người.
- Khối 12 : 550 hs /11 lớp, Khối 11 : 557 hs / 11 lớp, Khối 10 : 544 hs/
11 lớp. Trong đó tuyển mới vào lớp 10 là 544 hs, giảm 2 lớp 10 so với năm học
trước.
- Về duy trì sĩ số: đầu năm học, trường có 1651 học sinh, cuối năm học còn
lại: 1618 học sinh giảm 33 học sinh chiếm tỉ lệ là 2.04%. trong đó tỉ lệ học sinh bỏ
học khối lớp 10 là 3.82% so với năm học 2012-2013 là 8.1%. (giảm 4.28% so với
năm học 2012-2013) Số học sinh bỏ học có giảm so với năm trước năm học 2012-
2013 là 69 học sinh.
khối
10
khối
11
khối
12 Tổng
khối
10
SL
học
sinh
bỏ
học
sinh
bỏ
học
Toàn
trường
544 557 550 1651 524 20 3.82% 549 8 1.46% 548 5 0.91%
162
1
33 2.04%
- Chất lượng giáo dục Kết quả xếp loại 2 mặt cuối năm học như sau:
+ Học sinh giỏi tỉnh có 07 em trong đó khối 12 là 5 em, khối 10 là 2 em.
+ Học sinh giỏi trường có 18 em = 1.1%, tăng 0.3 % so với năm học trước.
+ Học sinh tiên tiến 449 em = 27.5% . tăng 8.5 % so với năm học trước.
- Nhìn chung xếp loại văn hóa có tăng hơn so với năm trước, ( HS khá giỏi
tăng 9.6 %, HS yếu, kém giảm 7.12%.
- Qua kết quả như trên BGH đánh giá chung tình hình học sinh bỏ học nhất
là học sinh đầu cấp có giảm so với năm học trước nhưng tỷ lệ học sinh bỏ học vẫn
cao so với sĩ số của học sinh.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG.
Đề tài của bản thân tôi mới được nghiên cứu ứng dụng trong phạm vi của
trường THPT Hồng Bàng năm học vừa qua 2013-2014. Mặc dù còn khó khăn
nhưng bước đầu thu được kết quả khả quan, đã giảm thiểu được tình trạng học sinh
(đầu cấp) bỏ học ở trường THPT Hồng Bàng. Để đề tài được triển khai rộng rãi
trong toàn ngành giáo dục, đặc biệt là những trường công lập trong tỉnh mới thành
lập, các trường dân lập, tư thục, công tác tuyển sinh đầu vào còn khó khăn, không
ổn định đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý, ở mỗi trường phải thật sự kiên trì ứng
dụng các giải pháp trên thì với mang lại hiệu quả.Với kết quả như trên hy vọng đề
tài sẽ được áp dụng trong toàn ngành giáo dục của tỉnh nhà.
Đề xuất: đối với Sở Giáo dục đào tạo Đồng Nai nên siết chặt chỉ tiêu tuyển
sinh đầu vào của các trường công lập không thi tuyển nhất là các trường vùng sâu,
đầu cấp bỏ học tại trường THPT Hồng Bàng”
Họ và tên tác giả: Phạm Việt Thắng Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị: Trường THPT Hồng Bàng
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục - Phương pháp dạy học bộ môn:
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt Khá Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và
dễ đi vào cuộc sống: Tốt Khá Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng: Tốt Khá Đạt
Sau khi duyệt xét SKKN, Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có
ký tên xác nhận và chịu trách nhiệm của người có thẩm quyền, đóng dấu của đơn vị và
đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh nghiệm.
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ