Sáng kiến kinh nghiệm
Phần I: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trên lĩnh vực giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học đã được đề cập và bàn
luận sôi nổi từ nhiều thập kỉ qua. Các nhà nghiên cứu phương pháp dạy học đã không
ngừng nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu mới của lí luận dạy học hiện đại để đưa
nền giáo dục nước ta ngày càng hiện đại hơn, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao.
Những năm gần đây, định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được
thống nhất theo tư tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức
hướng dẫn của giáo viên. Học sinh phải tự giác chủ động tìm tòi phát hiện, giải quyết
nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng các kiến thức, kỹ năng thu nhận được. Và
thực tế, việc áp dụng phương pháp dạy học mới đã phát huy tối đa năng lực học tập
của học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh khá trở lên. Còn đối với những đối tượng
học sinh yếu, kém thì sao?
Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS là một thực tế đáng lo
ngại và là nỗi băn khoăn trăn trở của nhiều giáo viên dạy Toán. Tình trạng trên còn
trầm trọng hơn đối với học sinh trên địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Có nhiều nguyên nhân làm cho học sinh học yếu
môn Toán, song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng
đắn, có nhiều lỗ hỗng về kiến thức, kỹ năng. Chính vì vậy, tình trạng học sinh học
yếu môn Toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm
khác làm cho các em càng ngày càng hổng kiến thức hơn.
Từ thực tế đó tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu, tìm ra giải pháp để khắc
phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học
sinh niềm say mê học tập nhất là đối với môn Toán. Vì lí do trên nên tôi chọn đề tài:
Một số giải pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn Toán để nghiên cứu.
Phần II. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000 của quốc hội khóa X về đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu “Xây dựng nội dung chương trình,
phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
GV: Mai Thị Dung Trường THCS Na Sang - Mường Chà
thể đạt được hiệu quả giáo dục cao.
GV: Mai Thị Dung Trường THCS Na Sang - Mường Chà
2
Sáng kiến kinh nghiệm
Trình tự dạy học môn Toán cho học sinh yếu, kém dựa trên các nội dung phụ
đạo học sinh yếu và được áp dụng theo phương pháp dạy học mới nhằm đặt học sinh
ở vị trí trung tâm. Học sinh phải tích cực chủ động, sáng tạo, tự giác, chủ động tìm tòi
phát hiện giải quyết nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt các kiến thức
kỹ năng thu nhận được.
Quy trình chung để giảng dạy đối với học sinh yếu kém theo các bước:
- Tạo tiền đề xuất phát
- Lấp lỗ hỗng kiến thức
- Luyện tập vừa sức.
- Giúp đỡ học sinh có thái độ và phương pháp học tập.
Tìm ra phương pháp bồi dưỡng học sinh học yếu môn Toán là vấn đề mà hầu
như giáo viên dạy Toán nào cũng quan tâm để cải tiến chất lượng bộ môn. Vì lẽ đó
không ít giáo viên đã nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp tốt. Song, thực tế giảng dạy
mỗi vùng, miền, mỗi địa bàn giáo dục lại khác nhau nên tôi tiếp tục nghiên cứu
phương pháp phụ đạo học sinh học yếu môn Toán cho đối tượng học sinh mà tôi
giảng dạy trên địa bàn xã Na Sang. Nội dung chủ yếu là trình bày một số giải pháp để
khắc phục tình trạng học yếu môn Toán của học sinh lớp 6. Gíúp các em tiến bộ hơn
trong học tập.
PHẦN III. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. GIÁO VIÊN
Với đối tượng học sinh lớp 6 - là đối tượng học sinh đầu cấp, các em đã quen
với phương pháp học ở tiểu học, lên đến đầu cấp THCS các em gặp rất nhiều bỡ ngỡ
vì vừa phải làm quen một lúc rất nhiều bộ môn cũng như phương pháp truyền đạt của
mỗi giáo viên là khác nhau nên việc cho học sinh quen dần với phương pháp bộ môn
là rất quan trọng. Tuy nhiên có một số giáo viên nói chung và một số giáo viên bộ
môn Toán nói riêng chưa thật sự quan tâm đến yếu tố này; chưa thực sự quan tâm đến
giáo viên giải bài tập trên bảng rồi chép vào vở, khả năng tập trung chú ý thấp, khả
năng phân tích, tổng hợp rất hạn chế, nắm kiến thức không chắc nên học sinh thường
GV: Mai Thị Dung Trường THCS Na Sang - Mường Chà
4
Sáng kiến kinh nghiệm
vận dụng kiến thức một cách máy móc, không tìm hiểu kỹ yêu cầu đề bài, không biết
phân tích bài toán.
Ví dụ:
- Các bài toán dạng tìm ước chung, bội chung thông qua ước chung lớn nhất
hay bội chung nhỏ nhất nhưng phát biểu khác đi một chút. Chẳng hạn: "Tìm số tự
nhiên x lớn nhất sao cho 84
M
x và 180
M
x và x>6" thì các em không thể phân tích
được bài toán, không hiểu được phải tìm x như thế nào?
- Hoặc các bài tập liên quan đến thực tế thì các em không thể vận dụng kiến
thức để giải. Chẳng hạn bài toán: "Một số sách trong thư viện nếu xếp thành từng
bó 10 quyển, 12 quyển, 15 quyển đều vừa đủ bó. Tính số sách đố biết rằng số sách
trong khoảng 100 đến 150 quyển"
- Không xác định thành phần cũng như quan hệ của các số, các biểu thức
trong bài toán tìm x.
Chẳng hạn: "Tìm x biết 219 – 7(x+1) =100 hay (3x - 6).3 = 3
4
."
Đa số học sinh yếu không biết cách bắt đầu giải ra sao? Phép toán nào phải giải
quyết trước, phép toán nào phải giải quyết sau.
d) Thực hành tính toán kém, hay sai sót, nhầm lẫn.
Đối với học sinh yếu khi thực hiện tính toán thường xuyên sai dấu khi thực
hiện một dãy các phép toán, nhất là các biểu thức có dấu ngoặc, kĩ năng tính rất chậm.
của mình.
Khi học ở nhà, các em cũng không có phương pháp học tập và quy trình làm
việc đúng. Thường là chưa nắm lý thuyết đã vội lao vào làm bài tập, mà lại không bao
giờ làm ngoài nháp. Đây là đặc thù của học sinh học yếu các môn tự nhiên nói chung.
Làm không được lại nản chí, quay sang học lý thuyết một cách miễn cưỡng, hình
thức, bó chặt vào các ví dụ trong sách giáo khoa hay học vẹt để đối phó.
Trong giờ hoạt động nhóm các em học sinh yếu thường rất thờ ơ, bàn quan,
chỉ tham gia cùng các bạn cho có mặt hoặc làm việc một cách qua loa, chiếu lệ, không
nắm được yêu cầu của vấn đề cần thảo luận hay tính toán.
GV: Mai Thị Dung Trường THCS Na Sang - Mường Chà
6
Sáng kiến kinh nghiệm
3. PHỤ HUYNH HỌC SINH
Sự quan tâm của một số phụ huynh đối với việc học của con em mình còn
hạn chế. Đặc biệt có những phụ huynh của những em học sinh yếu không bao giờ
kiểm tra sách vở của các em. Phó thác việc học tập của các em cho nhà trường. Nhiều
em thuộc diện yếu kém được nhà trường tổ chức học phụ đạo miễn phí cũng không
chịu tham gia học nghiêm túc, thường xuyên trốn học đi chơi mà phụ huynh không
hề hay biết. Nhiều học sinh nhà ở xa trường từ 6 đến hơn 12 km, đi học phải qua suối
nên việc đến trường đều đặn của các em học sinh lớp 6 còn nhỏ, mới tập xa gia đình
đã là một cố gắng lớn thế nhưng có một số phụ huynh không quan tâm để con em
mình ăn, ở nội trú mà không xuống thăm nom thường xuyên. Thêm nữa hoàn cảnh gia
đình khó khăn không có điều kiện chăm lo cho bữa cơm hàng ngày của các em, quần
áo không đủ mặc nói gì đến các điều kiện để cho các em học tập như: sách tham khảo,
vở, đồ dùng học tập Chính những khó khăn về phía gia đình cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến kết quả học tập của các em
4. BỘ MÔN TOÁN
Đặc thù của môn Toán là thiếu tính sinh động, hấp dẫn nên học sinh không
có ý thức tìm hiểu, khám phá kiến thức mới như các môn học khác. Hơn nữa thiết bị
dạy học cho môn Toán chưa nhiều, chưa sinh động nên học sinh ít có hứng thứ khi
với các em từ những tiết học đầu tiên bằng cách hỏi thăm tình hình học tập của lớp,
trao đổi một số kinh nghiệm học tập đạt hiệu quả, đặc biệt phân tích cho các em hiểu
sự khác nhau cơ bản về phương pháp học ở bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở, chú ý
đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, động viên các em bằng cách kể những
gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập. Luôn tạo cho các em tâm lí thoải
mái trong giờ học
Trong quá trình dạy giáo viên cần phải có thái độ nhẹ nhàng kể cả khi học sinh
làm bài hoặc trả lời không đúng hay khi mắc khuyết điểm nào đó. Những lúc như vậy
càng cần cư xử khéo léo với các em, xử lí tốt các tình huống Sư phạm
GV: Mai Thị Dung Trường THCS Na Sang - Mường Chà
8
Sáng kiến kinh nghiệm
Bên cạnh đó việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng, khách quan và
công tâm, công khai kết quả sau các giờ kiểm tra, cần phải có nhận xét bài làm của
học sinh. Phải có kiến thức vững vàng để giải đáp các thắc mắc một cách thuyết phục
Để bài giảng hay tiết học của mình thêm sinh động, tôi luôn tìm tòi tài liệu,
tranh, ảnh về các nhà toán học nổi tiếng giới thệu cho các em biết hay những câu
chuyện, câu đố, bài thơ vui về toán học mà tôi sưu tầm trên mạng Internet, sách, báo
Xây dựng cho các em thói quen học tập tích cực, động viên kịp thời những học
sinh tiến bộ, cung cấp cho các em phương pháp học tập đúng, khuyến khích các em
không ngừng cố gắng vượt qua hoàn cảnh khó khăn để vươn lên trong học tập,
khuyến khích các em phát biểu trong giờ học
2. GIẢI PHÁP DẠY HỌC
a) Tạo tiền đề xuất phát
Việc học tập có kết quả trong một tiết học đòi hỏi những tiền đề xuất phát nhất
định về kiến thức, kĩ năng của học sinh. Giáo viên cần phải có trách nhiệm làm tái
hiện những kiến thức, kĩ năng đó. Với học sinh khá, giỏi những kiến thức, kĩ năng có
khi chỉ cần tái hiện một cách ẩn tàng những lúc thích hợp liên quan đến nội dung mới
nhưng đối với học sinh yếu kém thì nên tách thành từng khâu riêng biệt, tái hiện một
cách tường minh.
sức mình. Người giáo viên cần lưu ý các yêu cầu sau:
+ Gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại và cùng mức độ, chẳng hạn cho các
em thực hiện các phép toán cộng, trừ, nhân, chia hai số cho thật nhuần nhuyễn. Các
bài toán có vận dụng tính chất phân phối giữa phép nhân đối với phép cộng cho các
em làm càng nhiều càng tốt mà không sợ bị nhàm chán.
+ Tăng cường các bài tập tìm ước, tìm bội của một số hay ước chung lớn nhất,
bội chung nhỏ nhất của hai hay nhiều số, và các bài tập thực tế.
GV: Mai Thị Dung Trường THCS Na Sang - Mường Chà
10
Sáng kiến kinh nghiệm
+ Sử dụng các dạng bài tập chi tiết hơn. Ví dụ đối với các bài toán tìm x phải
bắt đầu từ những bài đơn giản như:
Dạng 1
a) x + 5 = 10.
b) x - 7 = 15.
c) 2.x = 18
d) 24: x=3
e) x: 6 =12
Dạng 2
a) 3x + 5 = 20.
b) 4x - 7 = 15.
c) 2(x +8) = 18.
d) 24(x -3) =3
e) (3x -6).3 =3
4
Đối với dạng 1 cần cho các em xác định được vai trò của x trong bài toán, cách tìm ra
sao? Một khi các em đã làm tốt rồi thì chuyển sang dạng 2, yêu cầu các em xác định
thành phần cũng như quan hệ của các số, các biểu thức trong bài toán rồi mới thực
hiện.
Khi thực hiện cộng hai số nguyên khác dấu nên phân thành các bước cụ thể như:
nhau xây dựng kiến thức mới. Bằng cách thảo luận, học sinh có thể nói ra điều mình
đang nghĩ, từ đó mỗi học sinh nhận thức rõ được trình độ hiểu biết của mình về vấn
đề được nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì.
Trong phương pháp này, thành công của bài học phụ thuộc vào sự tham gia
nhiệt tình của các thành viên, nó là bước trung gian giữa sự làm việc độc lập của
từng học sinh với sự làm việc chung của cả nhóm.
Khi phân nhóm học tập, giáo viên cần chú ý đến sự đồng bộ giữa các nhóm
phải có đủ các đối tượng học sinh học sinh giỏi, kha, trung bình, yếu để các em có thể
pháp huy hết năng lực của bản thân mình. Sự phân nhóm không nên cứng nhắt,
không phải lúc nào cũng là chia theo bàn mà cũng có khi để các em tự chọn nhóm học
tập cho mình.
Sau mỗi nội dung đã giảng giải, thông qua các kiến thức đã cung cấp, giáo viên
có thể định hướng cho học sinh cách giải quyết vấn đề ccần thảo luận, cần thực hành
GV: Mai Thị Dung Trường THCS Na Sang - Mường Chà
12
Sáng kiến kinh nghiệm
hay tính toán. Tôi nhận thấy theo phương pháp này, học sinh dược cuốn hút vào các
hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó học sinh sẽ tự
khám phá được những điều mình chưa rõ mà không phải thụ động tiếp thu những tri
thức do giáo viên sắp đặt. Hơn nữa, được trực tiếp thảo luận, học sinh sẽ nắm được
kiến thức mới, kỹ năng mới. Tuy nhiên cần tránh khuynh hướng hình thức và đề
phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi
mới phương pháp dạy học, hoạt động nhóm càng nhiều thì phương pháp dạy học càng
đổi mới là sai lầm.
Theo tôi để đạt hiệu quả cao trong hoạt động nhóm thì phương tiện nhất thiết
phải có là bảng phụ nhóm. Vì qua đó, học sinh được theo dõi một cách trực tiếp,
được đóng góp ý kiến và công sức của mình vào bài tập của nhóm mình từ đó các em
sẽ có hứng thú học tập. Khi báo cáo kết quả của nhóm, giáo viên nên khuyến khích
các em mà có lực học yếu hơn mà đã nắm được vấn đề lên trình bày chứ không nhất
phải là em nhóm trưởng.
6A3 30 0 0% 0 0% 6 20% 14 46,7
%
10 33,3
%
Bằng việc áp dụng các giảp pháp để bồi dưỡng học sinh yếu kém đã trình bày
trên đây, kết hợp với phương pháp dạy học mới, cùng với sự nổ lực của thầy và trò,
chất lượng môn Toán của các lớp 6A2 và 6A3 ở trường THCS Na Sang thuộc huyện
Mường Chà năm học 2009 - 2010 và đã có sự chuyển biến rất khả quan. Điều đó thể
hiện qua bảng khảo sát sau:
Kết quả điểm thi môn Toán học kỳ 1 năm học 2009 - 2010
Lớp
Sĩ
số
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu Điểm kém
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
6A2 31 0 0% 3 9,7
%
14 45,1
%
8 25,8
%
6 19,4
%
6A3 30 0 0% 3 10% 12 40% 10 33,4
%
5 16,6
%
Kết quả điểm thi môn Toán học kỳ 2 năm học 2009 - 2010
Lớp Sĩ
số
10 35,7
%
12 42,9
%
3 10,7
%
7A3 27 0 0% 2 7,4% 11 40,8
%
10 37% 4 14,8
%
Kết quả bài kiểm tra học kì I năm học 2010 - 2011
Lớp
Sĩ
số
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu Điểm kém
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
7A2 28 1 3,6
%
5 17,9
%
12 42,8
%
10 35,7
%
0 0%
7A3 27 1 3,7
%
4 14,8
%
13 48,2
B. Giải pháp dạy học.
+ Tạo tiền đề xuất phát.
+ Lấp lỗ hổng kiến thức.
+ Luyện tập vừa sức.
+ Giúp đỡ học sinh về thái độ và phương pháp học tập.
+ Tích cực hoá hoạt động nhóm.
GV: Mai Thị Dung Trường THCS Na Sang - Mường Chà
16
Sáng kiến kinh nghiệm
+ Giúp đỡ học sinh yếu ngoài giờ lên lớp.
2. Kiến nghị
Do điều kiện công tác nên tôi chỉ mới áp dụng được giải pháp này ở trường
THCS Na Sang trong năm học 2009 - 2010 đối với hai lớp 6 và học kì I năm học
2010 - 2011 đối với hai lớp 7. Kết quả đạt được đã có song mới đạt được những kết
quả ban đầu và chưa đạt được đích cuối cùng như giải pháp mong muốn. Tuy nhiên
để thay đổi được tình trạng học sinh học yếu môn Toán, để đưa các em hòa nhịp với
các bạn khác trong lớp không phải một sớm, một chiều mà làm được nhất là đối với
các em học sinh vùng xâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn này. Nhưng tôi tin rằng
với các giải pháp trên sẽ phần nào giúp học sinh khắc phục được tình trạng học yếu
môn Toán và có phương pháp học tập đúng đắn không những riêng bộ môn Toán mà
cho tất cả các môn học khác; không chỉ đối với các em học sinh lớp 6 mà cả các em
học sinh khối lớp khác nữa.
Kết quả thu được có thể chưa cao vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, như sự
phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp, với phụ huynh học sinh…. nhưng tôi tin rằng
với phương pháp dạy như trên chắc chắn học sinh sẽ tiến bộ hơn và ngày càng yêu
thích học môn toán.
Với khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, tôi rất mong nhận
được sự quan tâm đóng góp ý kiến của tổ chuyên môn, sự góp ý của đồng nghiệp để
giải pháp được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
3. Phụ huynh học sinh trang 7
4. Bộ môn Toán trang 7
Phần IV: GIẢI PHÁP
1. Giải pháp tâm lí trang 8
2. Giải pháp dạy học trang 9
Phần V: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM GIẢI PHÁP MỚI trang 14
Phần VI: KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm trang 16
2. Kiến nghị trang 17
* Tài liệu tham khảo trang 18
* Phụ lục trang 19
HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TRƯỜNG THCS NA SANG GV: Mai Thị Dung Trường THCS Na Sang - Mường Chà
19
Sáng kiến kinh nghiệm
HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MƯỜNG CHÀ