A- ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một năm bắt đầu từ
mùa xuân, đời người bắt đầu từ tuổi trẻ”. Nhà nước ta xem giáo dục
là quốc sách hàng đầu, là nghề không cho phép tạo ra phế phẩm.
Giáo dục trong nhà trường bắt đầu từ tuổi trẻ, từ thế hệ trẻ. Vì vậy,
người giáo viên có vai trò, chức năng và nhiệm vụ hết sức quan
trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ. Bởi mục đích của giáo dục là đào
tạo nên những con người có đủ tài và đức để phục vụ cho sự tiến bộ
xã hội.
Thế kỉ XXI đã và sẽ chứng kiến tốc độ phát triển như vũ bão
của khoa học và công nghệ. Do đó không quá khó hiểu khi giới trẻ
hiện nay có xu hướng tìm đến ngoại ngữ, tin học và các môn khoa
học tự nhiên như một sự bảo đảm cho tương lai. Điều đó đã dẫn đến
một thực trạng đáng buồn là một bộ phận học sinh coi nhẹ môn Ngữ
văn và một số môn xã hội nhân văn nói chung, dẫn đến thiếu đầu tư,
yếu kém về năng lực cảm thụ
Dạy văn trong nhà trường phổ thông đang là một thử thách lớn
đối với giáo viên hiện nay. Dạy như thế nào cho hay, cho hiệu quả
cao, tạo được sự hứng thú, say mê cho học sinh nhằm giảm thiểu số
lượng học sinh yếu kém quả thực là cả một vấn đề lớn. Có nhiều
nguyên nhân dẫn tới việc học sinh học yếu kém môn ngữ văn như:
Giáo viên dạy không hay; không cuốn hút; giáo viên chưa có những
phương pháp thích hợp kích thích sự say mê học, cảm thụ văn học
của học sinh…
1
Môn ngữ văn có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục đạo
đức cho học sinh . Vậy, là một giáo viên giảng dạy môn ngữ văn thì
ta phải làm gì đối với những học sinh yếu kém? Đó là vấn đề mà tôi
rất quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi trong suốt quá trình dạy học.
Thật khó nói phải có một kiến thức như thế nào cho đủ, nhưng
dạy văn phải có một kiến thức chuyên môn vững vàng. Kiến thức ấy
nuôi dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc trong mỗi học sinh. Nó cung
3
cấp những kiến thức về văn học, tiếng Việt, tập làm văn Rèn luyện
năng lực tư duy cho học sinh theo hướng rèn luyện nhận thức, lí giải
và tự đề ra được những quyết định, nhằm giải quyết có hiệu quả các
tình huống có vấn đề trong học tập và đời sống. Giúp các em học
tập tốt các bộ môn khác, tiếp thu kiến thức ở các lĩnh vực đời sống
khác để học sinh trở thành những người có năng lực thực hành.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Thực trạng
Ở các trường THPT, việc dạy và học văn hiện nay là vấn đề
đáng suy nghĩ. Môn ngữ văn không được đón nhận nồng nhiệt như
các môn học khác. Học sinh thờ ơ với những vấn đề đặt ra trong tác
phẩm . Số phận nhân vật, tiếng nói tâm tình của tác giả ít gây được
sự đồng cảm với các em học sinh.
Riêng ở trường THPT Trần Phú, một trường thuộc huyện, xa
thành phố, học sinh đại bộ phận là con em nông dân nghèo khó, chất
lượng đầu vào thấp. Mặt khác học sinh đầu tư nhiều vào các môn tự
nhiên, ít có điều kiện đọc sách báo, thông tin xã hội ít tiếp xúc… Vì
vậy môn văn đối với các em như một cực hình, đa số cá em học để
đối phó với kiểm tra thi cử. Thậm chí có rất nhiều em không chịu
học bài. Bài giảng tuần này tuần sau đã quên hoặc chỉ nhớ
loáng thoáng. Khi cho đề về nhà thì lên mạng chép vào, cho
lập dàn ý thì không biết cách diễn đạt thành bài văn hoàn
chỉnh.
4
Từ những sự việc trên, chúng tôi mạn phép đưa ra một
số giải pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn ở trường THPT Trần Phú.
2. Kết quả của thực trạng trên.
sinh yếu kém.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Rèn luyện kĩ năng đọc- hiểu.
Đọc hiểu là hoạt động duy nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp
với các giá trị văn học. Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu
nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu,
hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính cũng như chủ đề của
tác phẩm. Lí giải là hiểu đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội
nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó. Trong quá trình học
đọc những học sinh khá giỏi sẽ biết cách đọc để lí giải, đọc để đánh
giá và đọc sáng tạo, phát hiện. Còn học sinh yếu kém không phải hễ
“đọc” là “hiểu”. Làm sao để biến “cái hiểu của thầy” thành cái “tự
hiểu” của trò. Đọc là cả một núi kiến thức và một núi công việc.
Đối với học sinh yếu kém trong quá trình nhận thức, đọc hiểu
văn bản. Một, tôi giúp học sinh phát hiện những chỗ không hiểu, đối
thoại để bộc lộ chỗ chưa hiểu. Giúp học sinh phát hiện những chỗ
mâu thuẫn, phi lí phi logich, khó hiểu trong văn bản, phải tìm cái
6
chưa hiểu thì mới kích thích hứng thú tìm hiểu của học sinh. Hai,
những chỗ học sinh đã hiểu mà cũng nêu vấn đề thì thực vô ích và
nhàm chán. Vì thế không đòi hỏi cái gì cũng dạy. Cần tập trung vào
chỗ học sinh khó hiểu hay không hiểu, tô đậm hay “lạ hóa” những
chỗ ấy, tạo thành vấn đề cho học sinh. Ba, vận dụng những điều đã
cung cấp, đã biết để lí giải chỗ không hiểu đó. Không bao giờ cung
cấp sẵn ngay kết quả đọc- hiểu cho học sinh.
Rèn luyện phương pháp đọc - hiểu cho học sinh đây cũng là
một trong những phương pháp đổi mới dạy học, phát huy tính tích
cực của học sinh khi làm việc với văn bản. Đối với học sinh yếu
kém, tôi đặc biệt quan tâm nhiều đến phương pháp dạy các em làm
việc nhiều với văn bản văn học từ ba cấp độ của cấu trúc văn bản:
bộ.
3. Rèn kĩ năng dùng từ cho học sinh
Đây là một kĩ năng khó đòi hỏi người dạy và người học phải
kiên trì. Giáo viên sửa cách dùng từ cho học sinh khi ở trên lớp trả
lời bài và sửa trong bài làm văn của học sinh. Khi chấm bài làm văn
của các em, giáo viên đánh dấu những lỗi dùng từ. Sau đó yêu cầu
học sinh sửa lại trong vở sửa lỗi. Có thể đưa ra những tình huống để
học sinh tìm từ phù hợp. Các em cũng có thể học cách dùng từ của
những bạn học tốt.
8
4. Rèn luyện năng lực viết văn nghị luận.
Nghị luận là một hoạt động phức tạp, phong phú và đa
dạng của tư duy và ngôn ngữ, là một năng lực rất tinh vi của trí tuệ
con người. Phải thông qua rèn luyện lâu dài, bền bỉ mới đạt đến
trình độ cao. Ở trường phổ thông, học sinh phải kiên trì học tập để
dần dần có năng lực và trình độ nghị luận ngày một nâng cao. Nghị
luận thường xuất hiện dưới dạng bài văn nghị luận. Đối với đối
tượng học sinh yếu kém trước khi cho các em viết thành bài, nghị
luận cần trải qua bước thành câu và thành đoạn.
4.1 Câu nghị luận
Rèn luyện học sinh yếu kém là cả một quá trình. Với những
học sinh này, mỗi giáo viên cần có phương pháp dạy thích hợp. Để
viết được một đoạn văn nghị luận, khi dạy tôi đưa ra nhiều câu văn
để các em so sánh đối chiếu từ đó nhận biết được đâu là câu nghị
luận.
Ví dụ:
Tôi viết các câu:
Những giọt sương sớm mai đang long lanh trên những chùm
lá biếc (câu 1).
Trên những cành cây đan kết thành một tán rợp, những con
được và viết đúng một đoạn văn nghị luận là cả một quá trình nỗ lực
không ngừng của thầy và trò.
Có khi một ý nghị luận đòi hỏi nhiều câu hợp thành một đoạn
nghị luận. Trở lại câu nghị luận về tình bạn ở phần trên, về tình bạn,
chúng ta có thể viết thành một đoạn. Ví dụ:
Nhiều người nghĩ rằng sống không có bạn bè, không có tình
bạn cũng không sao. Thực ra, tình bạn là một trong những tình cảm
tốt đẹp của con người. Những lúc chúng ta phải sống trong cảnh
vắng vẻ, cô đơn, chúng ta cảm thấy cần có những người bạn thân
để trao đổi, giãi bày tâm sự. Một người bạn tốt có thể giúp đỡ ta, an
ủi ta, khuyến khích ta. Ta cần đến bạn và ta cũng cần cho bạn nữa.
Trong quá trình giảng dạy học sinh yếu kém, ở đoạn văn nghị
luận về tình bạn trên, tôi giúp học sinh phân biệt:
1 câu mở đoạn
3 câu thân đoạn (hay phát triển đoạn)
1 câu kết đoạn
Đồng thời giúp học sinh thấy được một sự nghị luận đầy đủ
thường bao gồm ba khâu chính:
(1)đề xuất vấn đề trong phần mở bài
(2)giải quyết vấn đề trong phần thân bài
(3)kết thúc vấn đề trong phần kết bài
Ba phần trên đây là ba phần chủ yếu chung cho mọi bài văn
nghị luận,
dù các dạng của chúng có thể biến hóa vô cùng.
11
Làm văn là hoạt động tư duy và ngôn ngữ mang tính chủ động
và sáng tạo. Vì là đối tượng học sinh yếu kém nên trong quá trình
giảng dạy đối tượng này tôi đưa ra những đề bài phù hợp với khả
năng của các em, để các em không cảm thấy quá sức khi viết bài.
Để học sinh yếu kém viết được và viết tốt một bài văn nghị luận cần
lời hay ý đẹp, những câu danh ngôn, những đoạn văn - câu thơ
nhằm bổ sung thêm vốn kiến thức hoặc những lỗi chính tả thường
hay mắc phải để ghi nhớ cách viết đúng. Các em nên mua Từ điển
chính tả để tra cứu nghĩa khi gặp những từ khó hiểu và làm giàu
thêm vốn từ vựng tiếng Việt. Trong quá trình giảng dạy, tôi đã
hướng dẫn chi tiết, đặt yêu cầu cụ thể những nội dung tự học cho
tiết học sau, tuần sau rồi nâng dần yêu cầu ngày càng cao hơn để
các em có thời gian và kế hoạch học trước ở nhà. Sau đó hướng dẫn
các em soạn bài bằng các câu hỏi đọc hiểu văn bản ở SGK Ngữ văn,
các câu hỏi tìm hiểu kiến thức hoặc bài tập trong các bài tiếng Việt
hay các bài làm văn. Tôi lựa chọn một số bài đọc hiểu tác phẩm văn
học cho học sinh tự cảm nhận (cá nhân hoặc nhóm) lên lớp trình bày
sự cảm nhận của mình, tập thể lớp và giáo viên nhận xét, góp ý,
định hướng, củng cố lại. Hướng dẫn học sinh sử dụng triệt để SGK
bằng cách gạch chân những ý quan trọng bằng bút chì. Điều này
13
giúp học sinh tiết kiệm được thời gian trên lớp và có thể ôn lại bài
một cách dễ dàng trước các kỳ thi.
Việc tự học không chỉ diễn ra ở nhà mà còn cả trên lớp. Trước
giờ học các em có thể chia ra từng cặp để trao đổi bài vở, ôn luyện
và dò bài. Trong giờ học, giáo viên nên tránh tình trạng “độc diễn”
mà nên giao việc cho học sinh tích cực thảo luận, trao đổi nhóm.
Sau nội dung bài học, giáo viên dành ít thời gian để học sinh hội ý
nhóm giải quyết bài tập, những băn khoăn vướng mắc nếu có, các
thành viên còn lại hỗ trợ nhau để trình bày vấn đề. Các cá nhân khác
thống nhất ý kiến hoặc phản bác nếu có sai sót. Sau giờ học, nếu
học sinh còn có thắc mắc thì chủ động trao đổi với bạn bè hoặc
thầy, cô giáo để hiểu và nắm vững kiến thức.
Vấn đề tự học là vô cùng quan trọng. Nếu rèn luyện cho học
sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ
tòi học hỏi ở học sinh, giúp các em xóa bỏ mặc cảm yếu kém và tự
tin hơn trong học tập.
7. Kết hợp phương pháp dạy học hiện đại với dạy học
truyền thống
Bên cạnh các phương pháp truyền thống như thuyết giảng,
đàm thoại, đóng tiểu phẩm, đọc diễn cảm, ngâm thơ… cũng thu hút
các em vào bài học. Khi dạy đoạn trích Trao duyên hay đoạn trích
15
Nỗi thương mình (Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) tôi gọi một
học sinh đọc văn bản, sau đó tôi ngâm cho các em nghe. Với hình
thức ngâm thơ như vậy, đã kích thích được các em vào bài học, đặc
biệt là đối tượng học sinh yếu kém.
Hiện nay công nghệ thông tin đã rất phát triển và được áp
dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có giáo dục. Tuy
nhiên, qua thử nghiệm và theo dõi, tôi thấy không phải bài nào cũng
có thể áp dụng công nghệ thông tin thành công. Nên chăng có lẽ chỉ
nên áp dụng nó ở phân môn tiếng việt hay tạp làm văn, còn môn
giảng văn… có lẽ nên để cho học sinh thả sức tung hoành trí tưởng
tượng của mình theo những hình tượng văn học dưới sự chỉ đạo
hướng dẫn của thầy. Bản thân tôi cũng đã từng soạn và dạy nhiều
bài giáo án điện tử như: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, Những
yêu cầu về sử dụng tiếng việt, Lập dàn ý bài văn nghị luận, Hiền tài
là nguyên khí quốc gia, đoạn trích Trao Duyên (Tryện Kiều –
Nguyễn Du)… học sinh nghe chăm chú, thảo luận sôi nổi cũng như
ghi chép đầy đủ. Song tôi thấy, nên dạy công nghệ thông tin ở
những giờ tập làm văn, tiếng việt thì hợp hơn, dễ thành công hơn
8. Luôn gần gũi và đặc biệt quan tâm tới học sinh yếu kém.
Đối với những đối tượng học sinh yếu kém không có ý thức
học tập thì nhất định các em về nhà sẽ không học bài và làm bài. Vì
thế, để khắc phục tình hình đó, tôi đã đề ra cách giải quyết như:
lớp 10B, 10I, 10H, tôi thấy bước đầu đã rèn luyện cho học sinh
phương pháp đọc- hiểu. Học sinh ban đầu đọc chữ, đọc câu đã dần
biết đọc hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình
thức câu, hiểu được mạch văn, bố cục, nắm được chủ đề tác phẩm.
Học sinh yếu kém ít nhiều đã biết cách viết câu văn, đoạn văn, bài
văn nghị luận như thế nào. Học sinh hứng thú trong cách tìm hiểu
tác phẩm, tự giác, chủ động trong học tập, đặc biệt trong học bài cũ
và soạn bài ở nhà. Tạo không khí sôi nổi trong tranh luận tìm hiểu
vấn đề, có những phát hiện mới mẻ có tính sáng tạo trong giờ học.
Các em học sinh yếu kém đã tích cực hơn trong học tập như thường
xuyên trao đổi bài với nhau, hỏi bài với thầy cô mỗi khi gặp các bài
khó hoặc không hiểu, tích cực làm việc theo nhóm trong các tiết học
trên lớp và trao đổi thảo luận nhóm ở nhà. Nhờ đó mà số học sinh
yếu kém đã giảm rõ rệt.
Kết quả đầu năm ( trước khi áp
dụng- Thông qua khảo sát chất lượng
đầu năm)
Kết quả cuối học kì I (sau
khi áp dụng)
TS HS Giỏi Khá TB Yếu Kém Giỏi Khá TB Yếu Kém
10B(44) 1 7 17 15 4 1 12 22 7 2
10I(43) 0 6 16 16 5 1 10 23 6 3
10H(42) 0 5 17 14 6 1 9 24 6 2
Kết quả cả năm
Kết quả cả năm thông qua điểm TB các điểm bài kiểm tra
Tổng số
HS
Giỏi Khá Trung
bình
Yếu Kém
trong công tác khắc phục tình trạng học sinh yếu kém (không nên
đổ lỗi hoặc giao hẳn trách nhiệm cho giáo viên).
Thư viện của nhà trường cần có thêm nhiều tranh ảnh về tác
giả, tác phẩm, cả các tác giả và tác phẩm văn học nước ngoài,thêm
băng đĩa để giáo viên trình chiếu, giới thiệu cho học sinh, đặc biệt là
các học sinh yếu kém có điều kiện hiểu hơn về bài học.
Con đường dẫn đến thành công trong việc giảng dạy tạo cho
học sinh hứng thú học tập và học tập tiến bộ môn ngữ văn có lẽ
không phải là một con đường bằng phẳng, nhưng tôi tin các bạn sẽ
tìm cho mình một con đường với những giải pháp hay nhất để vượt
qua tất cả và hoàn thành nhiệm vụ quan trọng nặng nề mà xã hội
giao cho. Đó là “sự nghiệp trồng người”.
Nội dung SKKN trên là một phần không thể thiếu góp phần
giúp tôi hoàn thành tốt quá trình dạy học, nâng cao chất lượng dạy
học nhằm giảm thiểu học sinh yếu kém tại trường THPT Trần Phú.
Rất mong sự góp ý chân thành của quý thầy cô, nhằm giúp tôi
hoàn thiện hơn trong công tác.
Tôi xin chân thành cảm
ơn!
20
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 25
tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là
SKKN của
mình viết, không sao chép
nội dung
của người khác.
Trần Thị Thùy
Dung
4.3. Bố cục một bài văn nghị
luận…………………………………. 9
5. Rèn luyện kĩ năng tự học cho học
sinh……………………………. 10
6. Xây dựng các “mô hình” học
tập………………………………… 11
7. Kết hợp phương pháp dạy học hiện đại với dạy học truyền
thống.12
8. Luôn gần gũi và đặc biệt quan tâm tới học sinh yếu
kém………. 13
IV. HIỆU QUẢ TRONG VIỆC TRIỂN KHAI
SKKN………………. 14
C- KẾT LUẬN VÀ ĐỀ
XUẤT 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
23
1. Phương pháp giảng dạy văn học – Phan Trọng Luận ( NXB
Giáo dục)
2. Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 10
3. 199 bài và đoạn văn hay lớp 10 (NXB ĐHQG Hà Nội)
4. Đổi mới giảng dạy văn trong nhà trường (ĐHSP Huế 2002)
5.Tạp chí Văn học và tuổi trẻ
24