skkn một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ văn - Pdf 24

Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

Phần A: MỞ ĐẦU
*************************
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết
Thế kỉ XXI đã và sẽ chứng kiến tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học và
cơng nghệ. Do đó khơng q khó hiểu khi giới trẻ hiện nay có xu hướng tìm đến ngoại
ngữ, tin học và các mơn khoa học tự nhiên như một sự bảo đảm cho tương lai. Điều đó
đã dẫn đến một thực trạng đáng buồn là một bộ phận học sinh coi nhẹ mơn Ngữ văn và
một số mơn xã hội nhân văn nói chung, dẫn đến thiếu đầu tư, yếu kém về năng lực cảm
thụ Từ năm học 2006-2007, tơi được nhà trường phân cơng dạy mơn Ngữ văn khối lớp
9. Trong những năm học này, mặc dù tơi đã rất cố gắng trong cơng tác giảng dạy, tìm
nhiều biện pháp để đưa chất lượng dạy học ngày càng được nâng cao, song hiệu quả
mang lại vẫn chưa đạt như mong muốn. Qua từng tiết dạy vẫn còn nhiều em chưa hào
hứng, đặc biệt qua các bài kiểm tra, bài thi có thể nhận thấy nhiều học sinh học theo kiểu
đối phó, học vẹt, lạm dụng tài liệu tham khảo, khơng chú ý đến khả năng diễn đạt, dùng
câu, từ thiếu sự sáng tạo…Kết quả điểm mơn ngữ văn những lớp tơi được phân cơng đạt
khơng cao.Cuối năm học chỉ đạt 75% trung bình trở lên, còn 25% nữa là yếu kém. Trong
khi đó chỉ tiêu nhà trường bàn giao từ đầu năm là phải đạt 85% trở lên.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới
Xuất phát từ thực tế đó, tơi đã quyết tâm tìm ra những ngun nhân dẫn đến
tình trạng học yếu mơn Ngữ văn của học sinh, để có những giải pháp phù hợp nâng cao
chất lượng bộ mơn. Sau đây là 5 nhóm giải pháp tơi đã áp dụng kể từ năm học 2009-
2010:
- Giải pháp khắc phục tình trạng học sinh khơng chịu tiếp xúc tác phẩm và đọc
sai.
- Giải pháp khắc phục tình trạng học vẹt, khơng có khả năng vận dụng kiến
thức
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ

học chính yếu trong nhà trường phổ thơng nhằm trau dồi kiến thức cũng như rèn luyện
kĩ năng nói, viết cho học sinh. Ngồi ra, mơn Ngữ văn còn góp phần hình thành nhân
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 2
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

cách đạo đức và ni dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc trong mỗi học sinh. Nó cung cấp
những kiến thức về văn học, tiếng Việt, tập làm văn Rèn luyện năng lực tư duy cho học
sinh theo hướng rèn luyện nhận thức, lí giải và tự đề ra được những quyết định, nhằm
giải quyết có hiệu quả các tình huống có vấn đề trong học tập và đời sống. Giúp các em
học tập tốt các bộ mơn khác, tiếp thu kiến thức ở các lĩnh vực đời sống khác để học sinh
trở thành những người có năng lực thực hành.
* Cơ sở thực tiễn
- Về phía học sinh: Thực tế hiện nay số lượng học sinh học yếu mơn Ngữ văn
khơng phải là nhỏ. Cụ thể: khả năng nói, nghe, đọc, viết nhiều em còn chưa thật thành
thạo, khả năng diễn đạt rất yếu, viết câu khơng đúng ngữ pháp, chưa biết cách dùng từ,
dựng đoạn, đặc biệt là tạo lập văn bản
- Về phía giáo viên: Vấn đề này được các nhà trường và các tổ chun mơn đặc
biệt quan tâm tìm mọi biện pháp để tháo gỡ những khó khăn về phương pháp giảng dạy
theo hướng đổi mới để giảm thiểu tối đa tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp.
Xuất phát từ thực tế chung trong q trình giảng dạy của thực trạng học sinh học
yếu mơn ngữ văn nói chung, ở trường Trung học cơ sở nói riêng, với 9 năm trực tiếp
đứng lớp giảng dạy, tơi xin mạnh dạn trao đổi cùng bạn bè đồng nghiệp một số kinh
nghiệm, giải pháp của bản thân đã áp dụng với mong muốn góp phần khắc phục tình
trạng học sinh học yếu mơn văn trong trường phổ thơng để từng bước nâng cao chất
lượng của việc dạy và học bộ mơn ngữ văn trong tình hình hiện nay.
2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp :
Khi đi vào nghiên cứu vấn đề này, mỗi người có một hướng tiếp cận riêng.
Trong khn khổ phạm vi đề tài này tơi đã sử dụng chủ yếu một số phương pháp sau:

- Tháng 9/2011 đăng ký đề tài; tháng 12/2011 xây dựng đề cương; tháng 2/2012
viết thơ sáng kiến; tháng 4/1012 hồn thiện cơng trình.
Phần B. NỘI DUNG
***************************
I.Mục tiêu:
Mục tiêu mà đề tài đặt ra là nhằm giải quyết những khó khăn còn vướng mắc
trong q trình học Ngữ văn của học sinh, nhất là học sinh yếu, kém. Bằng những giải
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 4
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

pháp vừa mang tính lí luận vùa mang tính thực tiễn, tơi muốn giúp các em học sinh củng
cố kiến thức cơ bản, bổ trợ những kiến thức bị hỏng, có thói quen độc lập suy nghĩ, ý
thức tự giác trong việc học tập của bản thân, khắc phục những hạn chế còn tồn tại để
vươn lên trong học tập, biết viết văn, làm văn, cảm nhận văn học và hướng đến những
giá trị chân - thiện - mỹ do văn chương mang lại.
II. Mơ tả giải pháp của đề tài:
1. Thuyết minh tính mới:
Như chúng ta đã biết, muốn giải quyết triệt để một vấn đề gì cũng cần tìm ra
ngun nhân của nó. Và việc muốn khắc phục tình trạng học sinh học yếu mơn Ngữ văn
cũng khơng là một ngoại lệ. Chính vì vậy, khi có ý định làm đề tài này việc đầu tiên tơi
phải đi tìm là ngun nhân vì sao có nhiều học sinh học yếu mơn Ngữ văn. Sau đây là
một số ngun nhân cơ bản mà tơi đã tổng hợp được:
- Đối với học sinh yếu kém hầu như các em khơng chịu đọc tác phẩm, khơng
tiếp cận tác phẩm,.khơng soạn bài hoặc chép đối phó trước khi đến lớp, có em đọc chưa
đúng với u cầu: phát âm sai, đọc khơng đúng với ngữ điệu, đọc thêm hoặc bớt từ
- Phần lớn các em học yếu là do các em thiếu năng lực cảm thụ, khơng hề có
sự rung động trước các hình tượng văn học, trước cái hay, cái đẹp của văn chương.
- Do một bộ phận khơng nhỏ học sinh lười suy nghĩ, học vẹt, khơng có khả

Trên đây là những ngun nhân chủ yếu lớn nhất tồn tại trong những học sinh
yếu kém.Với mong muốn từng bước nâng cao chất lượng học sinh yếu kém, góp phần
nâng cao chất lượng dạy học mơn ngữ văn cần phải có những giải pháp mới thiết thực và
hiệu quả để giải quyết vấn đề này.
Trước những thực trạng và ngun nhân trên, qua nhiều năm giảng dạy ở khối
lớp 9, tơi thật sự trăn trở, lo lắng về chất lượng của bộ mơn – đặc biệt là chất lượng thi
tuyển sinh vào lớp 10 hệ A cơng lập. Vì vậy, tơi xin đề xuất một số giải pháp nhằm khắc
phục và nâng cao chất lượng học văn của học sinh. Tính mới của đề tài được thể hiện
qua từng thực trạng:
* Đối với thực trạng học sinh khơng chịu tiếp xúc tác phẩm và đọc sai:
- Sau mỗi giờ học, trong phần: “Dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học tiếp
theo” đối với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên thường bỏ qua khâu này khi
thời gian tiết học đã hết, hoặc làm nhưng chỉ nói sơ qua. Nhưng theo tơi, đây là một khâu
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 6
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

quan trọng trong tiến trình của một tiết dạy. Giáo viên nên dành một khoảng thời gian
cần thiết để u cầu học sinh chuẩn bị bài mới của tiết học tiếp theo đó bằng cách: tóm
tắt ngắn gọn tác phẩm, nội dung cốt truyện hoặc phát hiện những hình ảnh đẹp trong thơ
văn cho các em nắm bắt để tạo được sự chú ý. Từ đó các em có thể về nhà tự giác đọc
tác phẩm. Mặt khác, giáo viên cần phải hướng cho các em đọc cái gì? Đọc như thế nào?
Cần chú ý điều gì trong tác phẩm đó? Có như vậy các em mới phần nào cảm nhận nội
dung, nghệ thuật tác phẩm một cách dễ dàng hơn.
- Đối với thực trạng đọc sai, giáo viên cần đọc mẫu, uốn nắn cách đọc cho học
sinh. Hướng dẫn các em phát âm chuẩn, chính xác; sử dụng từ ngữ tồn dân, đọc chậm
rãi và đúng ngữ điệu. Đối với thực trạng này, muốn khắc phục được thì vai trò của người
giáo viên là vơ cùng quan trọng. Bởi tác phẩm văn học khơng phải là những con chữ hồn
nhiên trên trang giấy mà muốn cảm nhận được chúng ta phải tiếp cận tác phẩm. Giáo sư

Người ta sẽ cho cháu một ơng bố”
( Trích “ Bố của Xi- mơng “– G. Đơ Mơ-pa-xăng)
Khi đọc đoạn văn này các em phải thể hiện được trước hết giọng đọc phải rõ
ràng, mạch lạc. Ngồi ra còn phải thể hiện được diễn biến tâm trạng đau đớn, buồn
tủi,chán chường,tuyệt vọng của Xi – mơng vì biết mình sinh ra trên cõi đời mà khơng có
bố. Tâm trạng ấy được thể hiện qua những tiếng nấc khơng nói nên lời “Cháu ”, lời nói
bị ngập ngừng đứt qng thể hiện qua những dấu chấm lửng ( ) hoặc sự lặp đi lặp của
điệp khúc “khơng có bố”. Thể hiện được sự ơn tồn, tấm lòng vị tha đầy u thương của
bác Phi- líp qua câu nói động viên Xi- mơng “ Thơi nào- bác nói - đừng buồn nữa ,
cháu ơi, và về nhà mẹ cháu với bác đi. Người ta sẽ cho cháu một ơng bố”. Đối với
những học sinh yếu, giáo viên cần tăng cường rèn cho các em đọc, luyện cho các em đọc
những đoạn phân vai và hướng dẫn, uốn nắn cho các em nhiều hơn.
Ngồi ra, khi áp dụng phương pháp dạy học mới, giáo viên có thể cho các em
nghe giọng đọc mẫu từ các sản phẩm băng đĩa của Bộ giáo dục và Đào tạo về việc đọc
minh họa những tác phẩm truyện, thơ để tạo được sự hứng thú cho các em.
* Đối với thực trạng học vẹt, khơng có khả năng vận dụng kiến thức
- Giáo viên rèn luyện, uốn nắn giúp các em khắc phục những hạn chế của bản
thân từng em. Tăng cường rèn luyện cho các em cách dùng từ, đặt câu, diễn đạt và dần
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 8
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

dần đưa mức độ u cầu lên cao hơn. Mức độ bài tập từ dễ, khả năng nhận biết rồi sau đó
nâng dần lên khả năng thơng hiểu, vận dụng.
Ví dụ sau khi dạy xong kiến thức lí thuyết về Liên kết câu và liên kết đoạn văn,
giáo viên có thể cho một đoạn văn ngắn và dễ u cầu các em phân tích các biểu hiện
liên kết. Giáo viên hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ từng biểu hiện, chẳng hạn đâu là liên kết nội
dung, đâu là liên kết hình thức Sau đó u cầu học sinh làm bài tập. Hồn thành bài
tập này, đấy là cơ sở để giáo viên đưa ra bài tập cao hơn ( bài tập vận dụng) bằng cách:

tỉ mỉ.Giáo viên chỉ cho các em chỗ viết sai, viết chưa hay và cách sửa lại cho hay và cho
đúng. Cơng việc này được tiến hành nhiều nhất là trong các tiết trả bài kiểm tra.
- Việc ra đề kiểm tra, đề thi phải phù hợp với u cầu và chuẩn kiến thức, chú ý
kết hợp những dạng đề thơng thường và đề mở để tránh lối học vẹt, học thuộc lòng. Đặc
biệt việc ra đề kiểm tra theo hướng đề mở là một điểm mới, điểm quan trọng trong giai
đoạn hiện nay đối với bộ mơn ngữ văn.
Ví dụ: Trong sách Ngữ văn 9, ở kiểu bài nghị luận xã hội, các em lại được tiếp
xúc với các đề mở như: Đạo lí :Uống nước nhớ nguồn; Đức tính khiêm nhường; Có chí
thì nên; Đức tính trung thực; Tinh thần tự học; Hút thuốc có hại; Lòng biết ơn thầy, cơ
giáo
Thời gian qua, dạng đề “mở” đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các tiết kiểm
tra mơn Ngữ văn ở các cấp học, nhất là bậc THCS và THPT. Đặc biệt, đề thi “mở” đã
“góp mặt” trong những kỳ thi quan trọng như: Thi tuyển vào lớp 10, Thi tốt nghiệp
THPT. Bên cạnh việc phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, một
ưu điểm khác cần được nói đến của dạng đề “mở” là có thể phân hố được học lực của
học sinh. Cùng với các dạng đề nghị luận văn học, những đề văn nghị luận xã hội theo
hướng “mở” sẽ tạo cho học sinh cơ hội được bày tỏ nhận thức, suy nghĩ của mình đối với
những vấn đề khác nhau của xã hội. Từ đó, góp phần hình thành kỹ năng sống, kỹ năng
ứng xử phù hợp đối với những vấn đề đặt ra trong cuộc sống thường nhật. Cũng là cách
để “kéo” văn chương về gần hơn với cuộc sống. Điều cần lưu ý là, đáp án đối với dạng
đề “mở” cũng cần được soạn theo hướng “mở”. Nghĩa là, khơng nên ràng buộc người
viết vào một số ý nào có sẵn, cho trước mà chỉ cần định hướng về cách giải quyết. Chất
lượng của bài viết cũng khơng nên q câu nệ vào dung lượng ngắn, dài. Điều quan trọng
là học sinh phải xác định đúng trọng tâm vấn đề cần trình bày và thể hiện nó một cách rõ
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 10
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

ràng, minh bạch, logic, có chủ kiến, có sức thuyết phục. Giáo viên khi chấm thi cũng


- Ngồi ra giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, các kĩ thuật
dạy học mới trong các tiết dạy của mình một cách phù hợp để làm tăng hiệu quả giảng
dạy.Trong các tiết dạy của mình, tơi ln cố gắng cụ thể nội dung của tiết học bằng sơ đồ
để học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức, nhất là đối với học sinh yếu. Bởi các em nhìn vào
sơ đồ sẽ dễ nắm ý, dễ nhớ và mau thuộc bài hơn so với cách ghi bình thường. Ví dụ khi
dạy “ Sự phát triển của từ vựng” giáo viên có thể cung cấp sơ đồ sau:

Giáo viên có thể cụ thể nội dung bài học bằng sơ đồ khơng chỉ phần tiếng Việt mà cả
phần dạy văn bản, phần dạy phương pháp tập làm văn
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 12
Sự phát triển của từ vựng
Phát triển nghĩa
Phát triển số lượng
Phương
thức
ẩn dụ
Phương
thức
ẩn dụ
Tạo từ
ngữ mới
Mượn
từ
Phương
thức
ghép
Phương
thức

Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

Hoặc sau khi dạy xong một đơn vị kiến thức nào đó trong bài học, từng phần của bài
học cũng có thể vẽ sơ đồ tư duy:
Ví dụ khi dạy tiết 118- văn bản: Viếng lăng Bác của Viễn Phương, xong khổ thơ
thứ nhất có thể vẽ:
Ví dụ như khi dạy xong tiết 120 tập làm văn 9 bài : Nghị luận về một tác phẩm
truyện hoặc đoạn trích, có thể cho học cụ thể hóa nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy:
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 14
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

- Hướng dẫn phương pháp học trên lớp: học sinh phải biết phối hợp nhịp nhàng
các kĩ năng cùng một lúc: mắt nhìn, tai nghe, tay viết, tham gia xây dựng bài; kết hợp
nghe giảng với quan sát sách giáo khoa. Đối với phân mơn tiếng Việt, u cầu phải nắm
được khái niệm và những kiến thức trọng tâm để vận dụng làm bài tập. Đối với phần văn
bản: Thơ phải học thuộc lòng; truyện phải tóm tắt được cốt truyện. Ngồi ra phải nắm
được những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm, nội dung chính và đặc sắc nghệ thuật. Đối
với phân mơn tập làm văn phải nắm được phương pháp cơ bản nhất của từng kiểu bài và

đúng và tạo thành thói quen để hình thành được những bước khởi đầu tốt đẹp tiếp theo.
- Ví dụ mở bài trực tiếp: Nguyễn Duy là một nhà thơ trưởng thành trong kháng
chiến chống Mĩ. “Ánh trăng” là một trong những bài thơ hay của ơng, viết vào 1978 tại
thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ tâm tình với chính
mình, với mọi người về lẽ sống chung thủy, nghĩa tình.
Còn đối với kết bài, có thể hướng dẫn một phương pháp chung đó là : Khẳng định
lại nội dung và liên hệ, suy ngẫm.
- Ví dụ kết bài nên u cầu viết ngắn gọn : Bài thơ “Ánh trăng” là một lần “giật
mình” của Nguyễn Duy về sự vơ tình trước thiên nhiên, với những kỉ niệm nghĩa tình của
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 16
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

một thời đã qua. Nó gợi trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về cách sống, cách
làm người và sự ân nghĩa thủy chung cùng q khứ.
Sau nhiều lần rèn các em viết đúng, giáo viên có kế hoạch nhận xét sửa chữa và
động viên kịp thời thì các em sẽ tiến bộ hơn.
Mặt khác, giáo viên cần nhấn mạnh : để viết một bài văn tốt em cần chú ý các
điểm sau:
Nắm chắc phương pháp để viết bài văn theo trình tự nào. Bên cạnh đó, em cần suy
nghĩ tìm tòi, huy động những kiến thức đã học liên quan đến nội dung đề bài u cầu.
Hơn thế nữa, sự suy nghĩ, sáng tạo của cá nhân là rất quan trọng. Khơng nên lệ thuộc bài
văn mẫu một cách rập khn máy móc. Bởi vì q trình tiếp nhận văn học là em tiếp
nhận những tri thức, cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Cho nên khi các em diễn đạt thì
ngồi yếu tố câu cú, ngữ pháp, lời văn phải trong sáng còn u cầu là thể hiện tình cảm
của người viết. Bởi giáo viên ln trân trọng và đánh giá cao vai trò sáng tạo trong tiếp
nhận của học sinh. Vì vậy u cầu các em mạnh dạn nêu những suy nghĩ, ý kiến, những
cảm nhận của cá nhân mình, có thể những ý kiến đó chưa hay, chưa đúng nhưng sẽ được
thầy cơ giáo dạy văn định hướng và từ đó các em lại tiếp tục bày tỏ ý kiến cá nhân trên

mới có thể tóm tắt được
- Ln tạo cho tiết học một khơng khí vui vẻ, sơi nổi, tạo hứng thú cho học sinh tiếp
thu bài. Đây cũng là một yếu tố quan trọng tạo cho khơng khí lớp học thoải mái để các
em tiếp thu bài dễ dàng và bớt đi sự căng thẳng.
* Đối với thực trạng học sinh chưa có văn hóa đọc nói chung:
- Thứ nhất, chúng ta cần thừa nhận rằng sự cạnh tranh và thay thế của các loại
hình giải trí là chuyện bình thường trong lịch sử. Chúng ta vừa mới chứng kiến sự thối
trào của loại hình sân khấu để nhường chỗ cho sự lên ngơi của vơ tuyến truyền hình. Thế
mạnh của tivi, internet là có hình ảnh động, nhiều màu sắc, âm thanh. Chúng là sự tổng
hợp tuyệt vời từ các loại hình nghệ thuật khác, vừa mang tính kịp thời, vừa thiết
thực Trong khi đọc một cuốn sách văn chỉ thấy hiện lên những con chữ khơ khan, trừu
tượng. Nhiều học sinh có thể khơng đọc sách văn học nhưng có thể ngồi say sưa qn giờ
giấc bên cạnh tivi, internet Chính vì vậy việc dạy văn trong nhà trường muốn tạo được
sự lơi cuốn học sinh cần phải trang bị những thiết bị nghe nhìn hiện đại, bài học được
minh họa bởi âm thanh, hình ảnh sinh động.
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 18
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

- Người giáo viên dạy văn cần khuyến khích, động viên các em trong việc đọc
sách, phải giúp cho các em hiểu rằng mỗi tác phẩm là một đóa hoa đẹp, mỗi bơng hoa
đẹp có một màu sắc riêng để làm đẹp thêm cho cuộc sống, tâm hồn của con người. Để
làm được điều này thì biện pháp mà người giáo viên có thể làm là đưa ra những đề thi,
đề kiểm tra tổng hợp, đề mở để kích thích học sinh đọc thật nhiều sách báo.
- Vấn đề thời gian cũng có tầm quan trọng trong việc đọc sách. Nhà trường hiện
nay có q nhiều mơn học và chương trình ngoại khóa nên học sinh khơng còn nhiều thời
gian để đầu tư cho việc đọc sách văn học. Để giải quyết tình trạng này, giáo viên khơng
nên u cầu học sinh đọc nhiều mà tùy vào trình độ và thi hiếu của mình học sinh có thể
chọn và đọc những tác phẩm mình thích trên cơ sở đã gợi ý sẵn. Ngồi ra, mỗi em còn

tạo sự rung cảm cho tâm hồn các em, giúp các em thực sự lơi cuốn vào bài giảng. Chẳng
hạn như khi dạy đoạn trích “ Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng ( Sách Ngữ văn
9- Tập 1), giáo viên có thể làm cho các em rơi nước mắt và thực sự xúc động trước tình
phụ tử thiêng liêng sâu nặng của cha con ơng Sáu và bé Thu khi bé Thu cất tiếng gọi
“ba a a ” thiêng liêng sau tám năm trời xa cách. Đó là tiếng gọi đầu tiên và cũng là
tiếng gọi cuối cùng nghe thật xót xa. Giáo viên có thể dẫn dắt ngược dòng thời gian để
đưa các em về sống với những năm tháng hào hùng lịch sử, của những năm tháng chiến
tranh chống Mĩ và những nỗi đau thương mất mát trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh
mà hàng triệu em bé trên đất nước Việt Nam phải gánh chịu Các em có thể phần nào
cảm nhận được nỗi đau thương, bất hạnh do chiến tranh gây ra đối với họ, biết ngưỡng
mộ, khâm phục hơn những em bé như Thu
+ Tập cho các em có một thói quen quan sát và cảm nhận bằng khả năng quan
sát thực tế. Chẳng hạn như ra đề văn thuyết minh về hoa mai, thì khâu đầu tiên các em
phải biết được hoa mai có đặc điểm cấu tạo, đặc điểm sinh học, cơng dụng, như thế
nào.Việc quan sát và tìm hiểu thực tế cũng nhằm giúp các em cảm thụ được tốt hơn, giúp
các em có hứng thú hơn trong việc học tập. Hoặc để kích thích tư duy và sự quan sát
thực tế của học sinh, giáo viên có thể cung cấp cho các em những đoạn văn hay vào
những thời điểm thích hợp nhất. Đây cũng là một điểm mới theo tơi rất cần thiết để khơi
dậy những cảm xúc văn chương, làm sống lại những rung động trong lòng các em.
Ví dụ như đoạn trích sau: ”Đã bao giờ bạn ngắm nhìn cảnh mặt trời lên.
Khơng khí ban mai dịu ngọt, trong trẻo, ngắm những giọt sương be bé , xinh xinh Mỗi
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 20
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

ngày trơi qua tơi lại thấy nó mới lại đến say mê. Sương đúng là điều kì dịu của cuộc
sống Sương là hình thức ngưng tụ của hơi nước trong khơng khí đã bão hòa thành
những hạt li ti Còn riêng bản thân mình, tơi ln cho rằng sương được mẹ thiên nhiên
tạo ra. Sau khi từ giã cuộc sống, sương sẽ trở về với mẹ đất. Mẹ thiên nhiên khơng muốn

chương, cảm nhận cuộc sống. Giáo viên có thể tập cho các em cảm thụ dần bằng nhiều
cách như đã trình bày ở trên.
2. Khả năng áp dụng:
- Thời gian áp dụng hoặc thử nghiệm có hiệu quả:
- Áp dụng thử nghiệm ở các lớp 9A4, 9A5 năm học 2009- 2010. Năm sau tơi
áp dụng trên 3 lớp 9A4, 9A5, 9A6.
- Trong q trình áp dụng những giải pháp trên đã mang lại hiệu quả tích cực:
học sinh hứng thú hơn trong từng tiết học, kết quả bài làm tốt hơn, tỉ lệ học sinh vào lớp
10 hệ A cơng lập năm sau cao hơn năm trước.
- Có khả năng thay thế giải pháp hiện có:
So với phương pháp dạy học trước đây, sau khi áp dụng những biện pháp này
bản thân tơi nhận thấy đã đem lại một số hiệu quả như mong muốn. Trước đây, trong
giờ giảng văn, thầy hoạt động nhiều, thiên về phương pháp giảng bình và thuyết trình,
còn học sinh chỉ ngồi nghe rất thụ động. Dạy học theo phương pháp mới - lấy học sinh
làm trung tâm, các em được quan sát, được nghe, được tự mình khám phá và cảm nhận
cái hay, cái đẹp của văn chương. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người định hướng, hướng
dẫn cho các em lĩnh hội kiến thức.Chẳng hạn như trước đây, trong một giờ giảng văn,
phần đọc văn bản học sinh chỉ được nghe giọng đọc của thầy của bạn. Ngày nay, với sự
phát triển của cơng nghệ thơng tin, trong giờ giảng học sinh có thể nghe giọng đọc mẫu
từ các nghệ sĩ hoặc phát thanh viên; nếu là thơ được phổ nhạc các em sẽ cảm nhận bài
thơ đó bằng âm nhạc Nếu áp dụng thành cơng những biện pháp này trong giảng dạy
chắc chắn sẽ cải thiện được chất lượng học văn của học sinh trong giai đoạn hiện nay.
Trên đây là những kinh nghiệm thực tế của bản thân đúc kết từ thực tế giảng
dạy, với mong muốn được góp một số kinh nghiệm chia sẻ cùng với đồng nghiệp để
từng bước khắc phục tình trạng học sinh học yếu mơn ngữ văn, phấn đấu vươn lên
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 22
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp


Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

Làm văn" (Đỗ Ngọc Thống) [8, tr.10]. Phân mơn Văn học có chức năng cung cấp một hệ
thống tri thức phổ thơng, cơ bản, hiện đại về văn học Việt Nam và thế giới, thơng qua
việc phân tích tác phẩm văn chương mà bồi dưỡng cho học sinh những giá trị chân -
thiện - mỹ. Học sinh khơng chỉ được rèn luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm
nghệ thuật, mà còn biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Phân mơn Làm văn có
chức năng rèn luyện kỹ năng viết văn bản. Ban đầu các đề thi chỉ u cầu làm nghị luận
văn học, càng về sau, nghị luận xã hội càng được chú trọng. Hiện nay, trong các đề thi
Ngữ văn tuyển sinh vào THPT và tuyển sinh Đại học có câu nghị luận xã hội (3 điểm),
bàn về một vấn đề tư tưởng đạo lý hoặc một vấn đề thuộc sự việc, hiện tượng đời sống xã
hội. Nghĩa là việc dạy học Ngữ văn ngày càng xích lại gần đời sống. Còn chức năng của
phân mơn Tiếng Việt là: "Thứ nhất, hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực sử
dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ với bốn kỹ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói, qua đó mà rèn
luyện tư duy. Thứ hai, giúp các em có những hiểu biết nhất định (tối thiểu ?) về hệ thống
tri thức tiếng Việt và ngơn ngữ để sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, có ý thức.
Thứ ba, giúp học sinh biết u q tiếng Việt, có ý thức giữ gìn, bảo vệ và phát triển
tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cách và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm " (Đỗ Ngọc
Thống) [7, tr. 60].
Học văn làm thế giới nội tâm phong phú: đi sâu vào những thế giới tâm trạng,
cùng buồn, cùng vui, cùng u, cùng ghét với nhà văn, nhà thơ, người học sinh sẽ biết
suy nghĩ nhiều hơn để trưởng thành.
Học văn làm suy nghĩ thêm sâu sắc: trong văn học sẽ ln thấp thống bóng hình
của một tư tưởng sống, học văn rèn giũa lại nhân cách lại, dạo đức con người, chuẩn bị
bước vào xã hội. Văn học dạy ta cách sống sao cho có ích, sống ngẩng cao đầu, dạy ta
biết cách chấp nhận và giải quyết khó khăn.
Học văn là tìm về trong lịch sử: Những bài văn, bài thơ ln là nơi phó thác một
tâm sự của người viết, các thế hệ cha anh, nhưng cũng là nơi gửi gắm một tâm tư chung
của tồn dân tộc. Trong văn chương sẽ đọng lại những dáng hình lịch sử. Trên con đường

hướng tới lợi ích của người học. Và chỉ khi nào người học hứng thú và thấy được lợi ích
thiết thực của mơn học thì mục tiêu dạy học Ngữ văn của các nhà giáo dục vạch ra mới
đạt hiệu quả như mong muốn.
- Tính năng kĩ thuật, chất lượng, hiệu quả sử dụng:
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status