Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ Văn
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
I. LỜI MỞ ĐẦU:
- Chữ viết là hệ thống ký hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói và có
những quy tắc, quy định riêng. Muốn viết đúng chính tả Tiếng Việt, ta phải tuân
theo những quy định, quy tắc đã được xác lập.
- Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều. Có những học sinh viết
sai hơn 10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60 chữ. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi
không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính
tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng
như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở
nên rụt rè, nhút nhát.
- Hiện nay, HS tiểu học nói chung thường viết sai chính tả, nhất là lỗi dấu
thanh, lỗi phụ âm đầu phụ âm cuối, giáo viên vẫn còn lúng túng trước thực trạng
này nên suốt thời gian dài vẫn chưa khắc phục tốt. Hậu quả là học sinh lên đến
bậc trung học, thậm chí học cao đẳng, đại học vẫn còn viết sai chính tả, nhất là
lỗi phụ âm đầu và phụ âm cuối.
- Số liệu thống kê ở các trường tiểu học về kết quả kiểm tra chất lượng cuối
năm học trong các năm gần đây cho thấy vẫn còn khoảng 30% học sinh mắc lỗi
chính tả phụ âm đầu, phụ âm cuối, lỗi dấu thanh. Nguyên nhân là do phương
pháp dạy học chưa sát, chưa phù hợp với đặc thù học sinh từng vùng miền, giáo
viên chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc khắc phục lỗi chính tả cho học
sinh.
- Vì lý do đó, tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân
và đưa ra một số biện pháp khắc phục “để giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả”,
giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những
chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.
1
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ Văn
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
thống kê được lỗi chính tả của học sinh như sau:
Khối Số
học
sinh
Số HS
không
mắc lỗi
chính tả
Số HS mắc
lỗi chính tả
từ 1 đến 5
lỗi
Số HS
mắc lỗi
chính tả
từ 6 đến
15 lỗi
Số HS
mắc
lỗi
chính
tả trên
15 lỗi.
8 57 0 7 20 30
- Chính từ thực trạng trên tôi đã quyết định chong đề tài này để giúp học sinh
giảm thiểu tối đa lỗi chính tả trong bài làm văn của mình.
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Một là: Người giáo viên cần chú trọng việc phát hiện lỗi chính tả của học sinh
quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: /k/ ghi bằng
c / k /qu …) dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưng đối với
học sinh tiểu học (nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn.
2.3. Nguyên nhân dẫn đến sai về âm chính:
Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên
âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi / ie, ươ,
uô/ lại được ghi bằng các dạng iê,yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (bia - khuya, biên -
tuyến, lửa - lương, mua - muôn); âm đệm lại được ghi bằng 2 con chữ u và o (ví
dụ: huệ, hoa).
4
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ Văn
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam Bộ đối
với các âm chính trong hầu hết các vần trên.
2.4. Nguyên nhân dẫn đến sai về âm cuối:
Người Miền Nam phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối
n/ng/nh và t/c/ch. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm
cuối i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao) do
đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh khu vực phía Nam.
2.5. Nguyên nhân dẫn đến sai quy tắc viết hoa danh từ riêng:
Học sinh thường hay mắc lỗi này khi viết tên riêng chỉ người và tên riêng
nước ngoài, học sinh lớp tôi chủ nhiệm có khoảng 1/4 hay mắc lỗi này, nhất là
những học sinh yếu nếu không được giáo viên nhắc nhở khi đang viết chính tả.
3. Ba là: Người giáo viên cần giúp học sinh biết cách khắc phục những
lỗi chính tả thường gặp.
Thông qua giờ dạy trên lớp và những hoạt động giao tiếp khác, giáo viên
dùng những ví dụ cụ thể để yêu cầu học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi
II. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Biện pháp hạn chế các lỗi chính tả cho học sinh:
tiếng.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học
sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu
nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật,
mô hình, tranh ảnh,…
Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên
+ Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái
chiêng hoặc miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng
dùi, âm thanh vang dội).
6
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ Văn
+ Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên
hoặc giải thích bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn
vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa).
- Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể
để giải nghĩa từ.
1.4. Hạn chế lỗi chính tả bằng biện pháp ghi nhớ mẹo luật chính tả:
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối
hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu
hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các
âm đầu k,gh,ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie. Ngoài ra, giáo viên
có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con
vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum,
chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn,
châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên sự vật đều bắt
đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt,
sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói,
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu,
khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân
2 . Biện pháp giúp học sinh nhớ quy tắc chính tả bằng việc làm các bài
tập :
Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học
sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn
cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để
các em ghi nhớ.
2.1. Bài tập trắc nghiệm:
8
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ Văn
* Khoanh tròn vào chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả:
a. Hướng dẩn b. Hướng dẫn
c. Giải lụa d. Dải lụa
e. Oan uổng f. Oan uổn
* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S
vào ô trống trước những chữ viết sai chính tả:
Rau muốn Rau muống
Chải chuốc Chải chuốt
Giặc quần áo Giặt quần áo
* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết
đúng chính tả:
A B
bênh trái
bên vực
bện tật
bệnh tóc
2.2. Bài tập chọn lựa:
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
2.5. Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý
từ đồng âm, từ trái nghĩa….
* Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:
• Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:
• Thi không đỗ:
• Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:
* Tìm các từ chỉ hoạt động:
• Chứa tiếng bắt đầu bằng r:
• Chứa tiếng bắt đầu bằng d:
10
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ Văn
• Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:
. Chứa tiếng có vần ươt:
• Chứa tiếng có vần ươc:
* Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
• Trái nghĩa với từ thật thà:
• Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố:
• Cây trồng để làm đẹp:
• Khung gỗ để dệt vải:
2.6. Bài tập phân biệt:
Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:
2.7. Bài tập giải câu đố
* Em chọn tr hay ch để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:
Mặt… òn, mặt lại đỏ gay
Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao
Suốt ngày lơ lửng… ên cao
Đêm về đi ngủ, ….ui vào nơi đâu?
(là gì?)
I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình đứng lớp, tôi đã áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy
học sinh đã có tiến bộ khá rõ rệt. Bản thân các em cũng ý thức hơn khi viết bài
nên bài viết ít mắc lỗi chính tả. Những em trước kia thường sai 9, 10 lỗi thì nay
chỉ còn 3, 4 lỗi, những em trước kia sai 5, 6 lỗi thì nay chỉ còn 1, 2 lỗi… Tuy rằng
đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp học sinh giảm bớt lỗi
chính tả” là một quá trình lâu dài song tôi vẫn cảm thấy rất vui vì công việc mình
làm đã bước đầu có hiệu quả. Kết quả cụ thể như sau:
II. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT:
12
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ Văn
- Mục đích dạy chính tả là hình thành cho học sinh năng lực viết thành thạo
thuần thục chữ viết tiếng Việt theo các chuẩn chính tả, tức là giúp HS hình
thành các kỹ xảo chính tả. Đó là "những yếu tố tự động hoá của các hoạt động
có ý thức, được sinh ra trong quá trình thực hiện hoạt động đó", bao hàm cả
những kĩ xảo vận động, kỹ xảo trí tuệ trong đó có kỹ xảo chính tả.
Hình thành kỹ xảo chính tả cho học sinh tức là giúp cho các em viết đúng chính
tả một cách tự động, không cần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả,
không cần đến sự tham gia của ý chí. Ta có thể tiến hành theo hai cách sau để
đạt được điều này: có ý thức và không ý thức.
- Thường ta gọi phương pháp máy móc, cơ giới là cách không ý thức và
chủ trương dạy chính tả không cần biết đến sự tồn tại các quy tắc chính tả,
không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và
ngữ pháp của chính tả, mà chỉ đơn thuần là việc viết đúng từng trường hợp, từng
từ cụ thể. Tất nhiên, cách dạy này tốn nhiều thời gian, công sức và không thúc
đẩy sự phát triển tư duy, chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định.
- Cũng cần biết rằng, gần đây, một số nhà nghiên cứu về vấn đề dạy - học chính
tả lại có xu hướng khẳng định trong các cách học, cách "nhớ từng chữ một"
được coi là giải pháp hữu hiệu và hợp lý hơn cả, nhất là đối với HS tiểu học, vì
14