Sáng kiến kinh nghiệm Trường TP cấp 1-2 Trần Văn Ơn
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH Ở LỚP 1
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Để đảm bảo mục tiêu giáo dục đạt kết quả. Đảm bảo số lượng, đảm bảo
chất lượng học tập của học sinh trong công tác giảng dạy ở nhà trường. Hạn chế tỉ
lệ học sinh bỏ học đến mức thấp nhất. Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
trong nhà trường tiểu học. Đặc biệt nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của
nhiệm vụ học tập ở học sinh. Trong tình hình thực tế hiện nay, thì học sinh lớp 1
chính là nền móng mà ta cần xây dựng tạo cho học sinh có được nhận thức về sau
này. Từ đó các em thấy được vai trò, nhiệm vụ, và quyền lợi của bản thân khi
được đi học. Để thực hiện được điều này thì người giáo viên chủ nhiệm lớp 1 cần
làm tốt được công tác duy trì sĩ số học sinh ở khối lớp 1 của mình.
Sau khi đi sâu vào nghiên cứu về việc duy trì sĩ số học sinh lớp 1 ở
những trường vùng sâu, vùng có điều kiện khó khăn. Tôi nhận thấy đây là vấn đề
cần quan tâm đối với ngành giáo dục, nhà trường tiểu học nói chung, và đối với
từng giáo viên làm công tác giảng dạy nói riêng. Mỗi người giáo viên cần xác
định đây là vấn đề quan trọng mà người giáo viên là cái cán trong công tác duy trì
sĩ số học sinh trong chính lớp mình chủ nhiệm.
Qua kinh nghiệm của bản thân, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp
khắc phục học sinh bỏ học để duy trì sĩ số học sinh ở lớp 1.
II/ THỰC TRẠNG :
1 / Tình hình thực tế :
- Trường PT cấp 1-2 Trần Văn Ơn là một trường nằm ở địa bàn vùng sâu,
vùng xa của xã Bom Bo, thuộc 4 thôn ( 7 , 8 , 9 , 10 ), có 2 điểm trường lẻ. Đường
sá đi lại khó khăn, đường trơn , lầy lội trong mùa mưa. Cho nên việc đến lớp của
học sinh hầu hết tùy thuộc vào sự đưa rước của phụ huynh.
- 1 –
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TP cấp 1-2 Trần Văn Ơn
- Đời sống kinh tế cuả người dân nơi đây còn thấp. Có 1 số gia đình không
có đất sản xuất, phải mượn đất làm nhà và đi làm mướn để sinh sống.
- Một nguyên nhân chủ quan nữa mà khiến cho học sinh phải bỏ học là do
nhận thức của phụ huynh còn thấp. Do trình độ của dân còn thấp như vậy cho nên
thường cho rằng : “học để làm gì”; “nhà nghèo có học cũng không làm được gì”,
nên không muốn cho con đến trường. Hoặc thường có tư tưởng cho con học để
biết đọc, biết viết là được. Và thiếu sự quan tâm đến việc học tập của con em
mình.
VD: Em Mông Thị Ngoan lớp 1 A 3 thường nghỉ học, có khi cha có ý cho
nghỉ học vì phải ở nhà trông em, khi tìm hiểu thì tôi biết cha không muốn cho con
học nhiều vì :”có học nhiều cũng không làm gì cả, rồi cũng đi làm mướn làm thuê
giống cha.”
- Có những trường hợp bố mẹ thường đi làm xa nhà, phải gửi con cho ông
bà, anh chị em nên thiếu sự quan tâm của phụ huynh trong việc học tập, học sinh
ham chơi, theo bạn không chú tâm học hành.
VD: Em Phan Thị Quỳnh Như_ lớp 1A2, đến ngày mùa gia đình phải đi
làm xa không đưa con đi học tiếp được và nhiều lần có ý cho con thôi học.
- Có những gia đình do di chuyển nhiều nơi, làm thất lạc hoặc bị mất giấy
khai sinh của học sinh. Một phần do gia đình không hiểûu biết, bên cạnh đó có
những giáo viên thiếu sự quan tâm, hời hợt với những học sinh không có giấy
khai sinh ( cho là học sinh ngoài danh sách ), nên học sinh đành phải bỏ học.
- Đây là một vùng khó khăn nên có nhiều học sinh quá tuổi. Nên các em
thường có tâm lý ngại khi ngồi học trong lớp, nhâtù là đối với học sinh lớp 1. Các
em chỉ theo học một thời gian để biết đọc, biết viết là thôi không đi học nữa.
VD: Lớp 1 A 2 : có 60% HS quá tuổi.
- Còn có một số học sinh tuy gia đình có điều kiện, nhưng tư duy của các
em còn chậm,học yếu, phần thì được gia đình nuông chiều. Các em có tâm lý ham
chơi hơn ham học nên các em bỏ học cũng không bị ba mẹ la rầy.
Trong điều kiện thực tế tương đối khó khăn như vậy chính là điều luôn
làm tôi băn khoăn, trăn trở để làm thế nào duy trì được sĩ số học sinh để đạt được
mục tiêu giáo dục.
- 3 –
+Tôi đã chủ động tham mưu với nhà trường, xin phép nhà trường cho
phép tôi được linh hoạt giờ ra vào lớp để tránh những nguy hiểm cho các em khi
các em đến trường.
VD: Đối với lớp 1A2, 100% HS phải qua sông. Đây là lớp học buổi sáng.
Vào mùa mưa, sáng sớm trời thường âm u và mưa dầm. Tôi đã tạo điều kiện để
học sinh đến trễ khoảng 10 phút đến 15 phút (giờ học bắt đầu từ 7h 10 phút đến 7
h 15 phút.) Tôi rút ngắn thời gian ra chơi.
Hoặc vào buổi chiều, nước sông có sóng rất mạnh. Các em đi xuồng hết
sức nguy hiểm.Tôi tạo điều kiện để giờ học sớm hơn và ra về sớm hơn.
+ Tôi kết hợp với gia đình của các em liên hệ với người thân hoặc
người dân gần trường để các em được ở nhờ trong thời gian mưa bão.
- Đối với dân di cư tự do, hoặc những gia đình đi làm xa, phải gửi con cho
người thân. Để tránh tình trạng học sinh bỏ học theo ba mẹ đi làm xa vào những
ngày mùa.Tôi đến gặp gỡ gia đình phụ huynh nơi học sinh đang ở và liên lạc với
ba mẹ của các em, khóe léo trao đổi nhẹ nhàng về tình hình học tập của học sinh,
nhắc nhở phụ huynh quan tâm đến học sinh. Vận động phụ huynh cố gắng thu xếp
thời gian đưa con em đi học. Trường hợp khó khăn hơn đó là em : Phan Thị
Quỳnh Như_ lớp 1A2, đến ngày mùa gia đình phải đi làm xa không đưa con đi
học tiếp được và nhiều lần có ý cho con thôi học. Tôi đã đến gặp gia đình vận
động gửi em ở nhà người quen trong những ngày mùa, để em được tiếp tục theo
học.
- Đối với những học sinh không có giấy khai sinh. Tôi đồng thời phối
hợp với phụ huynh, vận động phụ huynh làm cam kết tiếp tục cho con theo học
trong thời gian chưa có giấy khai sinh. Bên cạnh đó tôi giúp đỡ phụ huynh kết
hợp với xã để làm giấy khai sinh cho học sinh.
- Với những học sinh quá tuổi, “ngại” đi học. Tôi phối hợp với ban
chuyên trách chống mù chữ , gia đình học sinh để vận động các em đến lớp. Tạo
một mối quan hệ gần gũi giữa giáo viên với học sinh, giữa hocï sinh với học sinh
bằng cách trò chuyện, chia sẽ với các em ngoài giờ trên lớp để các em có được
- 5 –
- 6 –
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TP cấp 1-2 Trần Văn Ơn
IV/ KẾT QUẢ :
Qua năm năm nghiên cứu và áp dụng ngay trong những lớp mình chủ
nhiệm. Kết quả mà tôi đạt được cụ thể là:
Lớp Năm học Điểm trường TSHS
đầu năm
TSHS
cuối năm
TSHS
bỏ học
1 A 2 2005 - 2006 Tổ 2 _ Thôn 10 13 15 0
1 A 1 2007 - 2008 Điểm trường chính 22 22 0
1 A 3 2008 - 2009 Tổ 2 _ Thôn 9 26 26 0
1 A 1 2009 - 2010 Điểm trường chính 30 33 0
- 100% học sinh theo học, không có học sinh nào bỏ học.
- Tôi luôn có sự kết hợp chặt chẽ từ phía gia đình, luôn được sự tin tưởng
của phụ huynh khi cho con theo học. Góp phần vào việc giảm số học sinh bỏ học
của khối.
V/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM :
Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng bản thân tôi rút ra kinh nghiệm như
sau:
- Giáo viên cần phát hiện sớm dấu hiệu học sinh có nguy cơ bỏ học để kịp
thời có những biện pháp phù hợp. Giáo viên cần năng nổ, nhiệt tình trong công
tác giáo dục.
- Khi đến gặp những phụ huynh có tư tưởng lệch lạc trong việc cho con
đi học, khi giáo viên đến gặp gỡ trao đổi, phụ huynh thường lớn tiếng có khi còn
nóng nảy đối với giáo viên. Người giáo viên phải thật sự khéo léo, linh hoạt nhẹ
nhàng trong công tác vận động tuyên truyền khi gặp gỡ phụ huynh.
- 8 –
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TP cấp 1-2 Trần Văn Ơn
XẾP LOẠI:
Bom Bo, ngày tháng năm 2010
TM/ HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG- 9 –
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TP cấp 1-2 Trần Văn Ơn
XẾP LOẠI:
Bom Bo, ngày tháng năm 2010
TM/ HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG
- 10 –