SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG THPT ÂN THI
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ÂN THI
TỈNH HƯNG YÊN
Lĩnh vực: QU¶N Lý
Tác giả: NGUYÔN THÞ THANH
Chức vụ PHã HIÖU TR¦ëNG
Năm học: 2013-2014
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
Chữ viết tắt Nghĩa là
Chữ viết
tắt
Nghĩa là
BGH Ban giám hiệu NV Nhân viên
CB Cán bộ PP Phương pháp
CBQL Cán bộ quản lý PPDH Phương pháp dạy học
CBPTTBDH
Cán bộ phụ trách
thiết bị dạy học
PHHS Phụ huynh học sinh
CLDH Chất lượng dạy học QL Quản lý
CMHS Cha mẹ học sinh QLGD Quản lý giáo dục
CNTT Công nghệ thông tin QTDH Quá trình dạy học
CSVC Cơ sở vật chất SGK Sách giáo khoa
ĐDDH Đồ dùng dạy học SL Số lượng
GD Giáo dục TB Trung bình
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo TBCN Tư bản chủ nghĩa
GDTX
Giáo dục thường
duy hệ thống và kỹ năng, kỹ xảo thực hành của HS; thu hẹp khoảng cách lý thuyết đa
dạng và thực tiễn phong phú.
TBDH được xác định là một thành tố quan trọng của quá trình dạy học
(QTDH), nó đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH).
Nếu việc quản lý và sử dụng TBDH có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào việc
nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói riêng và chất lượng dạy học (CLDH)
nói chung của nhà trường từ Mầm non đến Đại học.
TBDH ở bậc THPT ngoài việc góp phần đổi mới PPDH nó còn có ý nghĩa to
lớn trong quá trình nhận thức, rèn kỹ năng, kỹ xảo.
Đổi mới giáo dục (GD), hiện đại hoá TBDH ngày càng có ý nghĩa quyết định
đối với sự sống còn của một nền giáo dục và một quốc gia, đặc biệt đối với nước ta
xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, chậm phát triển vừa có
4
những bước tuần tự vừa có những bước nhảy vọt,…để rút ngắn khoảng cách với các
nước phát triển trên thế giới.
Thực tế hiện nay việc quản lý TBDH ở các trường THPT huyện Ân Thi, tỉnh
Hưng Yên nhằm nâng cao CLDH trong các trường còn chưa được quan tâm đúng
mức, thiếu sự chỉ đạo chặt chẽ và kiểm tra thường xuyên. Mặt khác việc trang bị
TBDH cho các nhà trường phổ thông nói chung còn nhiều bất cập: thiếu, không kịp
thời, không đồng bộ,… nên chưa phát huy được tác dụng của TBDH.
Năng lực sử dụng TBDH của đội ngũ GV còn nhiều hạn chế, ngại thực hành,
… Tư tưởng mọi người còn mang nặng cơ chế bao cấp xin cho TBDH, chưa chú ý
tới việc bảo quản TBDH để sử dụng lâu dài. Các nhà trường còn chưa quan tâm và
đầu tư đúng mức cho việc mua sắm, sử dụng và bảo quản TBDH nên hiệu quả sử
dụng TBDH chưa cao.
Xuất phát từ thực tế trên thì việc đổi mới công tác quản lý TBDH ở các trường
THPT huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên hiện nay là rất cần thiết và quan trọng nhằm
góp phần nâng cao CLDH trong giai đoạn hiện nay.
Là người quản lý hoạt động chuyên môn ở trường THPT Ân Thi và với mong
muốn tìm được các biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo
hợp lý các biện pháp quản lý TBDH ở trường THPT do tác giả đề xuất thì sẽ góp
phần nâng cao chất lượng dạy và học ở trường THPT.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu, phân loại và hệ thống hoá các chỉ thị, Nghị quyết của Ðảng, của
Nhà nước, của ngành và các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại
6
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
7.3. Phương phápbổ trợ: thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu.
8. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các trường THPT có điều kiện
tương tự như trường THPT Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Nó còn có giá trị tham khảo cho
các nhà quản lý giáo dục.
9. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, đề tài dự kiến trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học ở trường phổ thông.
Chương 2. Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông
Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
Chương 3. Biện pháp đổi mới quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học phổ
thông Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
sử, xã hội loài người.
8
Kiểm tra
Kế hoạch
Thông tin QL
Chỉ đạo
Tổ chức
Các nhà giáo dục học quan niệm giáo dục như một hệ thống bao gồm các thành
tố: Mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp, phương tiện, kết quả giáo dục.
Quản lý giáo dục:
“QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích
của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ
thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy
luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em”. [14,tr.
341]
QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD trong việc vận
dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục
tiêu đề ra. .
QLGD có thể xem là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá
trình giáo dục, những hoạt động của cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên, huy
động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích của nhà QLGD và phù hợp
với quy luật khách quan.
1.1.3. Quản lý nhà trường.
Quản lý nhà trường gồm hai cấp độ là cấp vĩ mô và cấp vi mô. Quản lý nhà
trường ở cấp vĩ mô là quản lý của các cơ quan cấp trên, bên ngoài nhà trường đến
nhà trường. Quản lý nhà trường ở cấp vi mô là của các nhà quản lý trong trường như
Ban giám hiệu, các tổ trưởng…đến các thành viên trong tổ chức của mình.
Tác giả Phạm Viết Vượng quan niệm: Quản lý nhà trường là hoạt động của các
cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và
các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để
1.2.1. Vai trò của quản lý thiết bị dạy học.
-Công tác quản lý TBDH sẽ giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về trình
độ, tốc độ phát triển của TBDH và mức độ ảnh hưởng của nó tới công nghệ dạy học
ở trong nước, khu vực và trên thế giới.
-Thông qua công tác quản lý TBDH sẽ đánh giá một cách chính xác thực trạng
của TBDH, quá trình đầu tư mua sắm, bảo quản và chất lượng sử dụng, khai thác
TBDH của các nhà trường.
-Công tác quản lý TBDH sẽ giúp các nhà quản lý giáo dục đánh giá chính xác trình
độ sư phạm của giáo viên, nhân viên kỹ thuật, rà soát công tác nghiên cứu, phát triển,
sáng chế TBDH của giáo viên và học sinh.
1.2.2. Nội dung quản lý thiết bị dạy học.
1.2.2.1. Quản lý đầu tư mua sắm thiết bị dạy học.
Quản lý đầu tư mua, sắm TBDH là quản lý về vốn đầu tư, cách thức, hiệu quả kế
hoạch đầu tư, mua sắm TBDH của nhà trường.
1.2.2.2. Quản lý sử dụng thiết bị dạy học.
Quản lý sử dụng TBDH là quản lý mục đích, hình thức, cách thức tổ chức và sử
dụng TBDH của cán bộ giáo viên ở các trường THPT. Việc sử dụng TBDH phải
đúng nguyên tắc, đồng thời phải đảm bảo đầy đủ các tính năng, chỉ số kĩ thuật của
TBDH. Để nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH trong quá trình dạy học cần đảm bảo
thực hiện những yêu cầu cơ bản sau đây:
-Sử dụng TBDH đúng mục đích
-Sử dụng TBDH đúng lúc.
- Sử dụng TBDH đúng chỗ:
-Sử dụng TBDH đúng mức độ và cường độ.
1.2.2.3. Quản lý bảo quản TBDH.
Bảo quản TBDH là một việc làm cần thiết, quan trọng trong mỗi nhà trường, nếu
không thực hiện tốt công tác bảo quản thì thiết bị dễ bị hư hỏng, mất mát, làm lãng
phí tiền của, công sức, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả sử dụng. TBDH phải
được sắp đặt khoa học để tiện sử dụng và có các phương tiện bảo quản (tủ, giá, hòm,
kệ ), vật che phủ, phương tiện chống ẩm, chống mối mọt, dụng cụ phòng chữa cháy.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ÂN THI,
HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
2.1. Tình hình giáo dục của trường THPT Ân Thi
2.1.1.Quy mô số lớp, số HS của các trường THPT Ân Thi
Bảng 2.1. Kết quả thống kê quy mô số lớp, số HS của trường THPT Ân Thi
Theo kết quả thống kê ở bảng 2.1 cho thấy:
Trường THPT Ân Thi đã đạt trường chuẩn quốc gia giai đoạn 1 chứng tỏ điều
kiện csvc, chất lượng dạy và học đã bước đầu đáp ứng được tiêu chí trường chuẩn
tuy nhiên còn cần cố gắng hơn nhiều trong những năm tiếp theo để giữ vững danh hiệu
trường chuẩn.
2.1.2. Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học.
Bảng 2.2. Kết quả thống kê CSVC và TBDH hiện có của các trường THPT Ân
Thi
Nội dung Đơn vị Số phòng học,
phòng làm việc, thiết bị
- Phòng học văn hóa phòng 32
- Phòng bộ môn phòng 7
+ Vật lý m
2
110/1P
+ Hóa học m
2
110/1P
+ Sinh học m
2
110/1P
+ Công nghệ m
2
0
HS
Số
lớp
Số
HS
1962 31 1325 31 1335 31 1314 1 2012
12
- Phòng Đoàn m
2
32
- Phòng truyền thống m
2
54
- Nhà tập đa năng m
2
0
- Phòng Hội đồng m
2
96
- Phòng GV m
2
96
- Phòng HT m
2
27
- Phòng Phó HT m
2
54/2P
- Phòng tổ bộ môn phòng 160/5P
- Phòng y tế m
Trường có khuôn viên rộng rãi có thể đạt được chuẩn tính trên đầu học sinh, đây
là một điều kiện thuận lợi để tiến tới xây dựng trường chuẩn quốc gia, các trường cần bố
trí khu vực làm việc, chức năng cho hợp lý và từng bước hoàn thiện việc trang bị
CSVC, TBDH đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới.
2.1.3.Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên.
a/ Đội ngũ cán bộ quản lý.
13
Bảng 2.3. Thống kê kết quả khảo sát về đội ngũ CBQL
Chức
vụ
Giới
tính
Năm
sinh
Tuổi
nghề
Số năm
làm
QL
Trình độ
CM
Trình độ
QL
Trình độ
LLCT
HT
PHT 1
PHT 2
PHT 3
Nam
b/ Đội ngũ giáo viên.
Bảng 2.4. Thống kê kết quả khảo sát về đội ngũ giáo viên.
Tổng số giáo viên Trình độ đào tạo
Trên chuẩn Đạt chuẩn Chưa đạt chuẩn
SL % SL % SL %
74 7 9.5 67 90.5 0 0
Kết quả thống kê ở bảng 2.4 cho thấy:
100% GV đều đạt chuẩn về trình độ đào tạo, tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ trên
chuẩn chưa cao, số lượng giáo viên trẻ, tuổi nghề dưới 10 năm chiếm hơn 50%, đó cũng
là một trong những khó khăn của trường Ân Thi trong giai đoạn hiện nay.
c/ Đội ngũ nhân viên.
Theo thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 23/8/2006
của Liên Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ quy định nhân viên tại các trường THPT công
lập gồm kế toán, văn thư, thủ quĩ, thiết bị thí nghiệm, thư viện, y tế, lao công, bảo vệ.
14
Hiện nay, trường đã tuyển đủ số lượng các nhân viên, tuy nhiên ở vị trí như
nhân viên thiết bị thí nghiệm, khi được tuyển họ chưa có được trình độ chuyên môn
chính quy về lĩnh vực họ sẽ đảm nhiệm. Đây là khó khăn lớn cho việc thực hiện đổi mới
chương trình, PPDH ( tăng giờ thực hành thí nghiệm, phát huy tính tích cực ở học sinh).
2.1.4. Chất lượng giáo dục của trường THPT Ân Thi
Bảng 2.5. Kết quả xếp loại hạnh kiểm, học lực học sinh năm học 2012-2013
Tổng số
HS
Xếp loại hạnh kiểm Xếp loại học lực
Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém
1314 886 298 94 36 130 733 407 39 5
Bảng 2.5 cho thấy: Chất lượng giáo dục đạo đức của trường THPT Ân Thi khá
ổn định. Tỷ lệ trung bình HS xếp loại hạnh kiểm tốt và khá đạt 90.3%, xếp loại yếu
2.7%. Về chất lượng giáo dục văn hóa đạt chuẩn. Tỷ lệ HS giỏi, HS khá đều ở mức
cao. Tỷ lệ HS yếu, kém dưới 5%(2.33%).
SL % SL % SL %
215 51.5 218 52.3 205 51.7
Chất lượng đầu vào phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Song nó khẳng định niềm tin
và đánh giá của XH đối với các trường: đánh giá về đội ngũ, về CSVC, về tổ chức
các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Bên cạnh đó, chất lượng đầu vào còn phản
ánh kết quả giáo dục của các trường THCS trên địa bàn tuyển sinh. Căn cứ điểm đầu
vào lớp 10, BGH có biện pháp quản lí các hoạt động trong nhà trường đặc biệt là
15
việc quản lí trang thiết bị, CSVC để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của giáo
viên và học sinh.
Kết quả thống kê ở bảng 2.6 cho thấy, kết quả thi tốt nghiệp của trường ổn định
ở mức cao, mức trung bình trong 3 năm qua đều đạt gần 100%. Đây là cơ sở để học sinh
của trường có thể tham gia tuyển sinh vào các trường Cao đẳng - Đại học, tỷ lệ học sinh
của các trường THPT Ân Thi tham gia thi Đại học - Cao đẳng chiếm tỷ lệ cao.
Về kết quả thi vào các trường Đại học, theo bảng điều tra 2.7 trường Ân Thi
có tỷ lệ HS đỗ Đại học tương đối cao, đây là trường có bề dày truyền thống và mới
được công nhận đạt chuẩn quốc gia cần phát huy hơn nữa tiềm năng của mình.
Bảng 2.8. Thống kê số học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi tỉnh từ năm
học 2010-2011 đến năm học 2012-2013 của trường THPT Ân Thi
Năm học 2010-2011 Năm học 2011-2012 Năm học 2012-2013
Số HS đạt giải % Số HS đạt giải % Số HS đạt giải %
33/44 75 44/58 75.8 33/53 62.3
Kết quả thống kê ở bảng 2.7 cho thấy, công tác giáo dục mũi nhọn nhìn chung
đã được quan tâm, hầu như mỗi năm học các trường đều có học sinh đạt giải tỉnh. Đặc
biệt trường Ân Thi năm học 2010-2011 có 2 học sinh dự thi quốc gia giải toán bằng
máy tính casio-vinacal môn Sinh học; năm học 2011-2012 có 2 học sinh dự thi quốc
gia môn Tin học trẻ và Giải toán qua Internet.
2.2. Thực trạng về thiết bị dạy học của trường trung học phổ thông Ân Thi
2.2.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của TBDH trong nhà trường
THPT Ân Thi
xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trangTBDH, từng bước hoàn thiện trường lớp,
TBDH theo tiêu chí của trường chuẩn quốc gia. Tuy nhiên nguồn kinh phí dành cho
việc mua sắm TBDH còn hạn chế, Hiệu trưởng sử dụng ngân sách được cấp và vận
Bảng 2.10: Chất lượng TBDH hiện nay ở trường THPT Ân Thi
Mức độ
Tốt Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
CBQL 1
25 1 25 2
50 0 0
GV
4
6.7
44 73.3 9
15
3 5
CBPTTBDH 0 0
1 50
1
50
0 0
17
động XHHGD, các nguồn khác để mua sắm bổ sung TBDH dần theo các năm học,
từ đó dẫn đến hiện tượng chắp vá không đồng bộ.
Bảng 2.11: Ðánh giá tình hình trang bị TBDH ở trường THPTÂn Thi
Mức độ
Đối tượng
Đầy đủ Thiếu ít Thiếu nhiều
Thiếu rất
nhiều
Tốt Khá Trung bình Còn yếu
SL % SL % SL % SL %
HT (PHT) 0 0 1 25 2 50 1 25
Giáo viên 20 33.3 13 21.7 18 30 9 15
Kết quả cho thấy, chỉ có khoảng 25% số HT (PHT) cho rằng phong trào tự làm
ÐDDH khá tốt, khoảng 50% là trung bình; đối với GV: 55% là khá và tốt, có 30 % ở
mức trung bình. Các ĐDDH tự làm của GV chủ yếu là sưu tầm tranh ảnh, biểu đồ,
mô hình đơn giản. Trong những năm gần đây công nghệ thông tin phát triển GV đã
tích cực khai thác tư liệu để giảng dạy trên mạng Internet rất phong phú và có hiệu
quả cao.
2.2.4. Thực trạng sử dụng TBDH của GV trường THPT Ân Thi
2.2.4.1. Mức độ sử dụng TBDH của GV và HS trường THPT Ân Thi
Kết quả khảo sát 60 GV ở trường THPT Ân Thi về mức độ sử dụng TBDH
của GV thể hiện trong bảng 2.14
Bảng 2.14: Mức độ sử dụng TBDH của GV.
Mức độ < 30% 30% - 50% 50% - 70% > 70%
SL % SL % SL % SL %
Giáo viên 0 0 5 8.3 46 76.7 9 15
Kết quả cho thấy, đối với GV, mức độ sử dụng TBDH trên 70% còn thấp
(chiếm 15%) đa số GV chỉ sử dụng ở mức 50% - 70%.
19
Qua trưng cầu ý kiến, những lí do mà GV ở trường THPT Ân Thi lí giải cho
việc ít sử dụng TBDH là do chưa có thời gian đầu tư vì ở nhà trường hiện nay đa số
GV có tuổi nghề chưa cao ( với trường THPT Ân Thi khoảng 6-7 năm gần đây số
GV có kinh nghiệm lần lượt về hưu), nên việc đầu tư cho soạn giáo án, lên lớp, mất
nhiều thời gian, mặt khác điều kiện CSVC và TBDH thiếu thốn, chưa đồng bộ. Công
tác quản lý của nhà trường chưa khoa học, chặt chẽ. Trong bài thi của HS đa số
không có phần thực hành, hoặc nếu có thì tỷ lệ điểm không đáng kể. Ðể khắc phục
tình trạng này, GV phải có ý thức trách nhiệm cao và tự giác thực hiện những yêu
cầu của chuyên môn, khắc phục khó khăn, tích cực đổi mới PPDH, thường xuyên sử
1 25 11 18.3
Các GV còn ngại khó, ít nghiên cứu và sử dụng
TBDH
2 50 10 16.7
Do đặc thù bộ môn ít sử dụng 1 25 3 5
Nhà trường chưa có quy chế khuyến khích GV sử
dụng TBDH
1 25 8 13.3
Qua kết quả cho thấy có nhiều lí do làm hạn chế phương pháp và kĩ năng sử
dụng TBDH của GV, chủ yếu tập trung ở một số nguyên nhân chính như:
Chương trình đào tạo nghiên cứu về TBDH của GV khi học ở các trường ÐH
Sư phạm còn hạn chế, TBDH ở các nhà trường còn thiếu và chưa đồng bộ, không đủ
để GV nghiên cứu và sử dụng thường xuyên, các nhà trường còn chưa có quy chế
khuyến khích GV sử dụng TBDH. Về chủ quan nhiều GV còn ngại, chưa chủ dộng
nghiên cứu sử dụng TBDH, ý thức trách nhiệm chưa cao, chưa tích cực đổi mới
PPDH theo hướng tích cực hoá người học.
2.2.4.3. Hiệu quả sử dụng TBDH ở trường THPT Ân Thi
Qua khảo sát và xin ý kiến của các HT (PHT) và GV của trường THPT Ân
Thi, chúng tôi thu được kết quả trên bảng 2.17.
Bảng 2.17: Hiệu quả sử dụng TBDH ở trường THPT Ân Thi
Mức độ
Đối tượng
Tốt Khá Trung bình Còn yếu
SL % SL % SL % SL %
21
HT (PHT) 0 0 1 25 2 50 1 25
Giáo viên 8 13.3 20 33.3 31 51.7 1 1.7
Kết quả cho thấy, TBDH chưa được GV khai thác và sử dụng một cách
thường xuyên. Hiệu quả sử dụng TBDH của GV phần lớn hiện nay là chưa tốt vì còn
hạn chế về thời gian trên lớp và hạn chế về số lượng TBDH, GV chỉ sử dụng ở mức
CBQL
2
50
2
50 0 0
1 25 2
50 1
25
GV, NVTB
20 33.3 36 60 4 3.7 13
21.6
40 66.7 7 11.7
HS
102 34 185 61.7 13 4.3 54 18 216 72 30 10
Bảng 2.19 cho thấy: Tất cả CB, GV, NV, HS đều nhận thức được việc bảo
quảnTBDH là một việc cần thiết trong quá trình dạy và học. Sự đánh giá giữa các luồng
ý kiến của đối tượng được điều tra tương đối thống nhất nhau, họ đều nhận thức được
việc bảo quản TBDH không phải là cất giữ TBDH mà TBDH phải được theo dõi thường
xuyên nhưng vẫn đảm bảo, ít bị hư hỏng. Tuy nhiên theo đánh giá chung thì mức độ
thực hiện việc bảo quản TBDH hiện nay mới chỉ ở mức trung bình khá.
Nhận thức được sự cần thiết phải bảo quản TBDH nhưng mức độ thực hiện
như thế nào còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện bảo quản của mỗi nhà trường Qua
điều tra, đánh giá về kho và phương tiện bảo quản TBDH tại nhà trường.
Bảng 2 .20: Đánh giá của CBQL và GV, NV về kho,
phương tiện bảo quản TBDH.
Đối tượng Cán bộ quản lí Giáo viên, nhân viên
Đủ, đúng
quy định
Đủ, chưa
đúng quy
Về phương tiện bảo quản TBDH được đánh giá ở mức còn thiếu và trên thực tế
chúng tôi nhận thấy phương tiện bảo quản chủ yếu là tủ, giá để đựng TBDH còn các loại
phương tiện khác theo quy định của phòng thiết bị như máy hút ẩm, quạt thông gió, xe
đẩy thì còn thiếu.
Việc bảo quản TBDH, ở trường Ân Thi NVTB đã có sự phối kết hợp với
GVCN để huy động HS cùng tham gia vào việc bảo quản TBDH. Tuy nhiên, nói chung
mức độ thực hiện bảo quản TBDH chưa thật sự đạt hiệu quả cao thể hiện qua sự hao
mòn các loại dụng cụ, thiết bị còn nhiều, chưa đảm bảo vệ sinh cho TBDH là do NVTB
chưa tận tâm với công việc, HS chưa có ý thức cao đối với công tác này.
2.3. Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông Ân Thi
2.3.1. Thực trạng quản lý trang bị, mua sắm TBDH ở trường THPT Ân Thi
Về trang bị, mua sắm TBDH:
Từ năm 2006 đến nay các văn bản pháp quy của BGD&ÐT về việc ban hành
Danh mục TBDH tối thiểu cho 3 khối lớp 10, 11, 12, thông tư 30/TT- LB ngày
26/07/1990 của Liên Bộ Tài chính - GD&ÐT hướng dẫn quản lý vốn sự nghiệp cho
GD đã ghi rõ: “Liên Sở GD và Tài chính cần kết hợp chặt chẽ để bố trí hợp lý đáp
ứng kinh phí cho các khoản chi khác, trong đó dành tối thiểu 6 - 10% tổng ngân sách
chi cho sự nghiệp GD phổ thông, để mua sắm trang thiết bị, ĐDDH, sách giáo
24
khoa và các thiết bị cho thư viện cho trường học nhằm tạo điều kiện nâng cao
CLDH cho nhà trường ”,
Ngoài ra nhà trường huy động nhiều nguồn khác để mua sắm TBDH bổ sung
thêm cho nhà trường, nhưng số lượng không đáng kể.
Theo ý kiến của đồng chí HT và các PHT, mức độ đáp ứng kinh phí cho việc
mua sắm TBDH hiện nay có tăng hơn nhiều so với những năm học trước nhưng theo
yêu cầu đổi mới dạy và học vẫn chưa đủ đáp ứng.
Thực tế này đòi hỏi trong những năm tới sở GD&ÐT Hưng Yên có kế hoạch
chiến lược, tham mưu với UBND tỉnh Hưng Yên, tăng đầu tư ngân sách cho ngành
GD&ÐT nói chung và đầu tư mua sắm TBDH cho các trường THPT nói riêng vì đây
chính là cấp học cuối cùng chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng và nhân tài cho xã