SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG THPT PHÙ CỪ
*****
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒNG HỒ VẠN NĂNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY THỰC HÀNH
MÔN CÔNG NGHỆ 12
MÔN: CÔNG NGHỆ
Tên tác giả: BÙI XUÂN ĐÍCH
Giáo viên môn CÔNG NGHỆ
Năm học 2013 – 2014Họ và tên : BÙI XUÂN ĐÍCH
Chức vụ: Giáo viên – Chủ tịch Công đoàn trường
Đơn vị: Trường THPT PHÙ CỪ- H. PHÙ CỪ - T. HƯNG YÊN
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒNG HỒ VẠN NĂNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY THỰC HÀNH
MÔN CÔNG NGHỆ 12
2
MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho ngành
giáo dục hiện nay. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần XI của Đảng đã chỉ rõ:
“Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự
đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm
chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay…”. Tiếp tục triển khai thực
hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về: “Đổi mới căn bản, toàn
Nghệ 12” mà tôi xem là có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng, kết quả
giờ dạy.
2. Mục đích nghiên cứu
Ở bậc THPT, việc học môn Công Nghệ là môn học có nhiều kiến thức mới
mẻ và mang tính chất khoa học. Đặc thù các giờ thực hành của môn học Công
Nghệ lớp 12 là môn học khó truyền đạt, khó thao tác đối với giáo viên, khó làm
đối với học sinh; môn học có rất nhiều kiến thức mới, trừu tượng mang tính
công nghiệp. Chính vì lý do đó mà phân phối chương trình của Bộ giáo dục và
Đào tạo đã dành 12 tiết thực hành trên tổng số 35 tiết của sách giáo khoa lớp
12.
Để tiết học thực hành đạt kết quả cao, giáo viên cần nghiên cứu và tìm hiểu
sâu về cách sử dụng thiết bị đồ dùng trong dạy học thực hành môn Công Nghệ
lớp 12. Nhằm tìm ra cách dạy thực hành có hiệu quả nhất, giúp cho học sinh
được lĩnh hội kiến thức nhanh hơn và vững chắc hơn. Mặt khác nếu có sự
chuẩn bị chu đáo về đồ dùng, thiết bị trực quan từ phía giáo viên, sẽ giúp học
sinh có thể tiếp thu một lượng kiến thức lớn và khó trong một thời gian ngắn,
hiệu quả giờ học sẽ được nâng cao.
4
Xét về tâm lí lứa tuổi, đối với các các em học sinh ở lứa tuổi THPT hầu hết
thích tìm tòi những cái mới lạ. Việc đưa các đồ dùng trực quan, và được thử tay
nghề của mình vào các bài thực hành là rất cần thiết, sẽ làm cho học sinh thích
thú, say mê học tập. Tuy nhiên nếu giáo viên không có kỹ năng thành thạo,
không sử dụng thiết bị đồ dung trực quan hợp lý, không có phương pháp hướng
dần học sinh một cách khoa học thì rất dễ gây phản tác dụng( không đúng với
kết quả lý thuyết…) hoặc có thể dẫn đến việc mất tập trung vào nội dung bài
giảng và có thể gây ra tai nạn lao động.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về phía Thầy:
- Có kiến thức về phương pháp dạy học đặc biệt là phương pháp dạy học
Nghiên cứu lý luận: Lý luận về các phương pháp dạy học thực hành, các
bước dạy thực hành trong trường THPT, đặc biệt là dạy thực hành môn Công
Nghệ lớp 12 hiện nay.
Nghiên cứu thực tiễn: Xây dựng các giáo án dạy thực hành môn Công
Nghệ lớp 12, đề xuất mua bổ sung các thiết bị đồ dùng trực quan.
Tìm hiểu và nghiên cứu kỹ chức năng, công dụng, cấu tạo và nguyên lý
làm việc của các thiết bị thực hành ( đồng hồ vạn năng, linh kiện điện tử, mạch
điện tử,… ), xem lại kiến thức liên quan ở môn Vật lí lớp 11; tham khảo các
nguồn thông tin, kiến thức trong các tài liệu tham khảo, mạng Internet….
Lập chương trình, xây dựng khung nội dung của đề tài, phân tích những vấn
đề còn hạn chế, bất hợp lý trong nội dung sách giáo khoa.
Thực hiện các phương pháp, các thao tác khác nhau trên cùng thiết bị, cùng
nội dung thực hành. Từ đó, so sánh tìm ra ưu, nhược điểm và lựa chọn các
phương án hợp lý nhất.
Thử nghiệm phương pháp dạy học thực hành trên các lớp khác nhau, các đối
tượng học sinh khác nhau làm cơ sở để đánh giá mức độ thành công của đề tài.
6
NỘI DUNG
I. MỤC TIÊU
Với mục tiêu chung của giáo dục phổ thông hiện nay là “Giúp học sinh phát
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản;
phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân;
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia
bảo vệ Tổ quốc”.
Kết quả cần đạt được của đề tài này là nghiên cứu sâu phương pháp sử
dụng thiết bị đồ dùng trong dạy học thực hành, xây dựng các bài dạy thực hành
có hiệu quả cao nhằm rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh khối 12. Nhằm
“Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp
6 – Đầu đo chung (Com)(căm que đen) 14 - Cung chia đo điện áp và dòng
điện một chiều
7 – Thang đo dòng điện một chiều 15 - Cung chia đo điện trở
8
8 – Đầu đo dương (+)(cắm que đỏ)
b. Một số kí hiệu sử dụng trên đồng hồ
Trên đồng hồ vạn năng kim hiển thị có một số kí hiệu như sau:
· Nội trở của đồng hồ: DC20 KΩ /V; AC 9KΩ/V
· Phương đặt đồng hồ:
- ┌┐ hoặc →: Phương đặt nằm ngang
- ┴ hoặc ↑: Phương đặt thẳng đứng
- Ð : Phương đặt xiên góc (thường là 45
0
)
· Điện áp thử cách điện: 5 KV
· Bảo vệ bằng cầu chì và điôt
· DCV : Thang đo điện áp một chiều.
· ACV : Thang đo điện áp xoay chiều.
· DCA : Thang đo dòng điện một chiều.
· Ω: Thang đo điện trở
· 0Ω ADJ : Chỉnh không ôm (chỉnh điểm không động)
· COM (Common): Đầu chung, cắm que đo màu đen
· (+) : Đầu đo dương, cắm que đo màu đỏ
c. Cung chia độ
A
B
C
D
9
Trong phân phối chương trình môn Công Nghệ lớp 12 hiện nay( đã giảm tải
theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT và có sự thống nhất của Sở GD&ĐT Hưng
Yên) thì còn 5 bài thực hành có sử dụng thiết bị đồng hồ vạn năng. Do vậy, tôi
trình bày giải pháp theo từng bài cụ thể:
1. Bài 3: Thực hành: Điện trở - Tụ điện – Cuộn cảm
Các linh kiện: Điện trở - Tụ điện – Cuộn cảm là các linh kiện thụ động
nhưng đóng vai trò quan trọng và có mặt hầu hết trong các mạch điện tử. Để
tìm hiểu về các linh kiện này, sách giáo khoa mới chỉ đề cập đến mục tiêu nhận
biết, phân loại, đọc sơ đồ; còn vấn đề đo trị số ( với linh kiện ghi trị số chưa rõ
hoặc bị mờ), kiểm tra linh kiện còn tốt hay xấu( dùng được – hay hỏng) thì
chưa đề cập rõ ràng dẫn đến việc sử dụng các linh kiện trong việc lắp ráp mạch
điện tử gặp nhiều khó khăn.
a. Đo điện trở:
Trị số điện trở được ghi trên thân điện trở bằng cách ghi trực tiếp hoặc
ghi theo kí hiệu vạch màu( dùng bảng màu để xác định trị số):12
Điện trở màu Điện trở ghi trực tiếp
Sử dụng thang đo điện trở của đồng hồ vạn năng để xác định trị số và kiểm
tra chất lượng điện trở( xác định trị số tăng hay giảm so với giá trị định mức).
Thực hiện theo các bước sau:
Đo kiểm tra điện trở bằng đồng hồ vạn năng
• Bước 1 : Để thang đồng hồ về các thang đo trở, nếu điện trở nhỏ thì để
thang x1 ôm hoặc x10 ôm, nếu điện trở lớn thì để thang x1K hoặc 10K.
sau đó chập hai que đo và chỉnh chiết áp để kim đồng hồ báo vị trí 0 ôm
(chỉnh không).
• Bước 2 : Chuẩn bị các điện trở để đo .
• Bước 3 : Đặt que đo vào hai đầu điện trở, đọc trị số trên thang đo , giá trị
Kiểm tra các tụ hoá, tụ hoá rất ít khi bị dò hoặc chập mà chủ yếu là bị khô
( giảm điện dung) khi đo tụ hoá để biết chính xác mức độ hỏng của tụ ta cần đo
so sánh với một tụ mới có cùng điện dung.
15
• Cách xác định tụ hoá tương tự như tụ thường, song góc quét của kim
rộng hơn nhiều(với tụ có điện dung lớn kim có thể quay đến chỉ 0 ôm rồi
từ từ trở về vị trí cũ).
• Ở trên là phép đo so sánh hai tụ hoá cùng điện dung, trong đó tụ C1 là tụ
mới còn C2 là tụ cũ, nếu thấy tụ C2 có độ phóng nạp yếu hơn tụ C1 thì
chứng tỏ tụ C2 bị khô ( giảm điện dung )
• Chú ý khi đo tụ phóng nạp, ta phải đảo chiều que đo vài lần để xem độ
phóng nạp.
c. Đo kiểm tra cuộn cảm, dây quấn máy biến áp, thông mạch của một
đoạn dây dẫn, đoạn mạch in, loa,…
Cuộn cảm là cuộn dây dẫn điện có vỏ cách điện được quấn thành vòng
(có thể ít hoặc nhiều vòng). Có nhiều loại cuộn cảm: lõi không khí, lõi ferit,
lõi sắt từ,… Để xác định trị số điện cảm ( trị số điện cảm được ghi trên
nhãn gắn trên vỏ) người ta phải đo kích thước, tính toán theo công thức hoặc
gián tiếp bằng thực nghiệm, đo trực tiếp là việc làm rất khó khăn. Ở đây chỉ
xác định tính thông mạch của cuộn cảm và còn sử dụng được hay không.
Hình ảnh một số cuộn cảm
16
Máy biến áp Loa điện động
Phương pháp kiểm tra cuộn cảm:
• Để đồng hồ ở thang đo điện trở x1ôm hoặc x10 ôm, chỉnh không và đặt
hai que đo vào hai đầu cuộn cảm.
• Nếu kim quay chỉ xấp xỉ 0 ôm hoặc điện trở nhỏ: Cuộn cảm còn tốt.
• Nếu kim chỉ vô cùng: Cuộn cảm bị đứt.
• Kiểm tra cuộn dây biến áp, mạch in, cuộn dây loa,….tương tự như trên.
2. Bài 5: Thực hành: Điốt – Tirixto – Triac
Tirixto là linh kiện bán dẫn có 3 tiêp giáp P – N, có vỏ bảo vệ, có 3 điện cực:
Anốt( A), Katôt(K), điều khiển( G). Tirixto được dùng trong mạch chỉnh lưu có
điều khiển, bằng cách điều khiển cho điện áp UGK xuất hiện sớm hay muộn để
thay đổi giá trị điện áp ra.
Cấu tạo và kí hiệu Tirixto Một số loại Tirixto
Phương pháp kiểm tra Tirixto:
19
• Xác định các cực: A, K, G của Tirixto
• Đặt đồng hồ ở thang đo x1 hoặc x10 , khi cực điều khiển( G) hở mạch
(UGK = 0) đặt que đỏ vào Anot, que đen vào Katot hoặc đảo lại thì kim không
lên.
• Đặt que đen vào Anôt, que đỏ vào Katôt của Tirixto, dùng Tovit chập
chân A vào chân G (trường hợp UGK > 0) thấy kim đồng hồ lên, sau đó bỏ
Tovit ra kim đồng hồ vẫn lên, như vậy là Tirixto còn tốt; đảo lại chiều que đo
thì kim đồng hồ không lên . Trái với kết quả trên thì Tirixto hỏng.
c. Triac
Triac là linh kiện bán dẫn gồm 6 miền bán dẫn ghép với nhau, có 3 điện cực
là Anot( A1), Katot( A2,) và cực điều khiển( G). Triac dùng để điều khiển các
thiết bị điện trong mạch điện xoay chiều như: động cơ điện, quạt, đèn,…
20
Kí hiệu và hình dạng của Triac
Phương pháp kiểm tra Triac
Cách đo kiểm tra Triac, cũng làm
giống như cách đo của Tirixto, trong
cách đo Triac, khi đảo chiều Triac,
và cho kích cực điều khiển, nó cũng
sẽ vào trạng thái dẫn điện, trong khi
đó thì SCR lại không dẫn điện.
- Bước 1: Khi cực khiển( G) để
Tranzito, để kiểm tra cần nhớ cấu tạo của chúng.
NPN PNP
a. Trường hợp đã phân biệt loại và các cực của Tranzito
Kiểm tra Tranzito ngược NPN tương tự kiểm tra hai Điôt đấu chung cực
Anôt, điểm chung là cực B, nếu đo từ B sang C và B sang E ( que đen vào B)
thì tương đương như đo hai điôt thuận chiều thì kim lên, tất cả các trường hợp
đo khác kim không lên. Kiểm tra Tranzito thuận PNP tương tự kiểm tra hai
Điot đấu chung cực Katôt, điểm chung là cực B, nếu đo từ B sang C và B sang
E ( que đỏ vào B ) thì tương đương như đo hai điôt thuận chiều thì kim lên , tất
cả các trường hợp đo khác kim không lên. Trái với các điều trên là Tranzito bị
hỏng. Các bước thực hiện như sau:
* Tranzito NPN:
• Bước 1 : Chuẩn bị đo để đồng hồ ở thang x10 Ω hoặc x100 Ω
• Bước 2 : Đặt que đen vào cực B. Đo thuận chiều B - E và B - C thấy
kim lên .
23
• Bước 3: Đặt que đỏ vào cực B. Đo ngược chiều B - E và B - C thấy kim
không lên.
• Bước 4 : Đo giữa C và E và đảo lại thấy kim không lên.
• Kết luận: Tranzito còn tốt.
Minh hoạ phép đo kiểm tra Tranzito .
* Tranzito PNP: Tương tự
• Bước 1 : Chuẩn bị đo để đồng hồ ở thang x10 Ω hoặc x100 Ω
• Bước 2 : Đặt que đỏ vào cực B. Đo thuận chiều B - E và B - C thấy kim
lên .
• Bước 3: Đặt que đen vào cực B. Đo ngược chiều B - E và B - C thấy
kim không lên.
• Bước 4 : Đo giữa C và E và đảo lại thấy kim không lên.
• Kết luận: Tranzito còn tốt.
24