57
- Bảo đảm khả năng kiểm soát nội bộ một cách hữu hiệu và quản lý tốt nhất việc
phân cấp trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán.
- Cho phép các cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán thực hiện quản lí, giám
sát việc chấp hành các tiêu chuẩn và hạn mức kinh doanh đối với công ty chứng
khoán.
Hiện nay, các công ty chứng khoán trên thế giới đang hết sức quan tâm và đầu tư
mạnh mẽ cho việc tự động hoá hoạt động kinh doanh chứng khoán nhằm tăng tốc
độ giao dịch, giảm chi phí giao dịch và tăng cường áp dụng các biện pháp và mô
hình kinh doanh, quản lý được tự động hoá để quản lý rủi ro trong hoạt động kinh
doanh chứng khoán. Mặt khác việc nhiều công ty chứng khoán trên thế giới đã bắt
đầu thực hiện giao dịch chứng khoán trên mạng Internet đã đặt ra những yêu cầu
mới đối với hệ thống tin học cho hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Vì vậy, các công ty chứng khoán của Việt Nam nên cùng phối hợp thực hiện
chương trình tự động hoá. Điều kiện tương đối thuận lợi là chi phí cho hệ thống tin
học cho hoạt động kinh doanh và quản lý ngày càng có xu hướng giảm. Tuy nhiên,
trong thời gian đầu do thị trường chứng khoán Việt Nam chưa sôi động, quy mô
giao dịch còn nhỏ, các công ty chứng khoán kinh doanh sẽ chưa có lãi nhiều nên để
tiết kiệm có thể chỉ lắp đặt hệ thống tự động có công suất xử lý thông tin vừa phải,
song phải là hệ thống mở để khi cần thiết có thể tăng ngay công suất. Cách làm này
cho phép tiết kiệm chi phí khi thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán mà
vẫn bảo đảm khả năng nâng cấp và phát triển liên tục của hệ thống tin học của công
ty khi thị trường chứng khoán phát triển.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
58
Sau này, khi thị trường chứng khoán đã phát triển và các công ty chứng khoán Việt
Nam đã đủ mạnh, Việt Nam nên chuyển sang phương thức tự xây dựng hệ thống tin
Các văn bản pháp lí nêu trên là nền tảng pháp lí cơ bản điều chỉnh việc phát hành
chứng khoán ra công chúng, việc hình thành và hoạt động của các chủ thể tham gia
thị trường chứng khoán nói chung và công ty chứng khoán nói riêng. Tuy nhiên, ở
chừng mực nhất định, các văn bản pháp lí nêu trên còn thiếu sự đồng bộ và nhất
quán trong việc điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hoạt động chứng khoán nói
chung và hoạt động kinh doanh chứng khoán nói riêng.
Một trong những vấn đề lớn về pháp lí đối với hoạt động kinh doanh của các công
ty chứng khoán là khung pháp lí điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, thâu tóm,
mua bán công ty, phá sản, giải thể và thanh lí công ty ở mặt này, khung pháp lí ở
Việt Nam còn nhiều điểm bất đồng. Ví dụ: Luật dân sự không cho phép bán tài sản
khi chưa thuộc quyền sở hữu của người bán, như vậy chúng ta cũng không thể cho
phép công ty chứng khoán, nhà đầu tư thực hiện hoạt động bán khống; Luật doanh
nghiệp không có qui định rõ điều chỉnh việc thâu tóm, mua bán công ty và bảo vệ
lợi ích hợp pháp của cổ đông thiểu số ở các công ty ty cổ phần; trong khi khung
pháp lí về chứng khoán hiện đang ở mức nghị định, như Nghị định 48/1998/NĐ-CP
lại chưa qui định cụ thể và chi tiết về vấn đề này; hay như luật phá sản coi tất cả các
chủ nợ như nhau, không phân biệt, trong khi luật này ở các nước trên thế giới phân
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
60
biệt chủ nợ ra nhiều loại, trong đó các chủ nợ phụ trợ là loại hình rất phổ biến và
ảnh hưởng rất lớn đến việc phá sản của các công ty nói chung và công ty chứng
khoán nói riêng; Bộ Luật hình sự chưa có qui định rõ ràng về các tội danh trong
hoạt động của thị trường chứng khoán
Qua tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán 6 tháng vừa qua, chúng ta thấy
cần thiết phải sớm nghiên cứu và chuẩn bị ban hành Luật về chứng khoán và giao
dịch chứng khoán để hoạt động kinh doanh chứng khoán có khung pháp lí đầy đủ và
hoàn thiện hơn.
Trong thời gian trước mắt việc quy định các loại hình pháp nhân và thể nhân tham
3.3.2.1. Tăng cường công tác giám sát tài chính và quản lí rủi ro đối với công ty
chứng khoán.
Các thị trường chứng khoán có nhiều cách xử lý khác nhau. Ví dụ Hàn Quốc đã sử
dụng nhiều cách để thực hiện giám sát tài chính như:
- Quy định về vốn (tài sản) thuần tối thiểu phải đạt mức nhất định (áp dụng từ năm
1962). Theo quy định này, vốn thuần tối thiểu (VTTT) được xác định theo công
thức sau:
VTTT =Tổng tài sản - Tổng nợ - Tài sản không thuộc tài sản lưu động
Nếu công ty chứng khoán không thoả mãn yêu cầu của quy định này thì công ty có
thể bị buộc ngừng hoạt động hoặc bị thu hồi giâý phép hoạt động. Điểm yếu của
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
62
quy định này là không phản ánh được giá trị thị trường của các tài sản thuộc công
ty, do vậy không dự báo và quản lí được rủi ro đối với các tài sản thuộc công ty. Vì
vậy, năm 1991 Hàn Quốc đã bỏ không áp dụng mô hình này.
- Qui định về chỉ số nợ áp dụng từ 1968 đến 1977. Theo qui định này, chỉ số nợ
(dept ratio) không được vượt quá mức nhất định và được tính như sau:
Chỉ số nợ = Tổng nợ/ (Vốn cổ phần + Vốn dự trữ cho hoạt động kinh
doanh ).
Nhược điểm của mô hình này là chỉ số nợ không phản ánh hết được tình hình tài
chính của công ty, đồng thời việc khống chế tỷ lệ nợ có thể ảnh hưởng tới hoạt động
của công ty, do chính sách huy động vốn của các công ty khác nhau.
Từ năm 1998, Hàn Quốc áp dụng qui định về tỉ lệ vốn thuần bao gồm chỉ số vốn
thuần nhằm đánh giá thực trạng tài chính và rủi ro kinh doanh mà công ty chứng
khoán đang gặp phải và hệ thống cảnh báo và giải pháp khắc phục. Theo qui định
này, chỉ số vốn thuần là:
Chỉ số vốn thuần = Vốn thuần / Tổng rủi ro.
Trong đó:
thường trong thời hạn 1 tháng ) trừ đi tổng tài sản nợ của công ty. Khi tính giá trị tài
sản khả dụng phải khấu trừ đi một giá trị nhất định theo qui chế để phòng trưòng
hợp giảm giá trị do biến động của giá chứng khoán trên thị trường.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
64
ở Việt Nam, kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động kinh doanh chứng khoán còn ít,
mặt khác kinh nghiệm của Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Hồng Kông cho thấy việc qui
định tỷ lệ nợ trên vốn mà vẫn bảo đảm hoạt động kinh doanh chứng khoán của
công ty chứng khoán là hết sức khó khăn. Vì vậy, việc áp dụng quy định về vốn khả
dụng điều chỉnh đã được quy định trong Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán
và thị trường chứng khoán là bước đi hợp lí. Tuy nhiên, quy định này yêu cầu công
ty chứng khoán phải thường xuyên duy trì một lượng vốn khả dụng điều chỉnh tối
thiểu ở mức 8% tổng dư nợ của công ty là còn cao gây ảnh hưởng đến lượng vốn
cho hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán. Tỷ lệ này cần được điều
chỉnh lại xuống 6%. Theo Nghị định 48/1998/NĐ-CP, UBCKNN cần nghiên cứu và
hướng dẫn cụ thể cách tính vốn khả dụng điều chỉnh và cách thức xử lí các công ty
chứng khoán vi phạm quy định này.
3.3.2.2. Quy định về việc trích lập quỹ dự phòng vốn điều lệ.
Quy định này yêu cầu công ty chứng khoán trong quá trình hoạt động phải trích 5%
lãi ròng hàng năm để lập quỹ dự phòng, bổ sung vốn điều lệ cho đến mức bằng 10%
vốn điều lệ của công ty. Việc sử dụng quỹ này được thực hiện theo quy định hiện
hành đối với loại hình công ty cổ phần và trách nhiệm hữu hạn.
3.3.2.3. Quy định về bảo vệ lợi ích các nhà đầu tư.
Để bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư, các quốc gia trên thế giới áp dụng nhiều biện
pháp, trong đó biện pháp cơ bản nhất là quy định yêu cầu công ty chứng khoán
phải quản lí tách biệt tài khoản chứng khoán và tiền của khách hàng với chứng
khoán và tiền của công ty. Theo quy định này, công ty chứng khoán không được sử
dụng tiền và chứng khoán của khách hàng vào các mực đích kinh doanh của công