Vai trò của FDI trong quá
trình phát triển kinh tế
xã hội
1
1
MỤC LỤC
Phần mở đầu
I. Sự cần thiết phải nghiên cứu vai trò của FDI trong quá trình phát
triển kinh tễ xã hội
Đối với bất kỳ một quốc nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển
thì để phát triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài
sản mới cho nền kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy
động ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước
thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam( có
tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát
triển kinh tế).Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.Hoạt động đầu tư nước ngoài là
kênh huy động vốn lớn cho phát triển kinh tế, trên cả giác độ vĩ mô và vi
mô.Trên giác độ vĩ mô, FDI tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người, là 3 khía cạnh
để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Trên giác độ vi mô, FDI có
tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
nước, vấn đề lưu chuyển lao động giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp
trong nước Đầu tư nước ngoài là nhân tố quan trọng và khẳng định rõ vai
trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VIệt Nam.
Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII).
Trong khi FII có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển thì FDI có
vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, bổ sung vốn trong nước, tiếp thu công
2
2
nghệ và bí quyết quản lý, tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, tăng số
những hoạt động đầu tư đó.
-Theo tổ chức thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một
nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút
đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để
phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả
nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh
doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựơc gọi là
"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
- Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2000)
quy định: FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo pháp luật.
1.2. Đặc điểm của FDI
4
4
-Việc tiếp nhận FDI không phát sinh nợ cho nước nhận đầu tư, thay
cho lãi suất, nước đầu tư nhận được lợi nhuận thích đáng khi công trình đầu
tư hoạt động có hiệu quả.
- FDI không chỉ đưa vốn vào nước nhận đầu tư, mà thường đi kèm
theo với vốn là kỹ thuật, công nghệ, bí quyết kinh doanh, công nghệ quản
lý .v.v Do FDI mang theo kỹ thuật, công nghệ nên nó thúc đẩy sự ra đời của
các ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành sử dụng công nghệ cao hay
nhiều vốn. Vì thế, nó có tác dụng to lớn đối với quá trình CNH, HĐH, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế ở nước nhận đầu tư. Tuy vậy, cũng
cần nhận thức rằng FDI chứa đựng khả năng các doanh nghiệp nước ngoài
(100% vốn nước ngoài) có thể trở thành lực lượng “áp đảo” trong nền kinh
tế nước nhận đầu tư. Trường hợp này sẽ xảy ra khi mà sự quản lý và điều tiết
của nước chủ nhà bị lơi lỏng hoặc kém hiệu lực. Một vấn đề khác không kém
phần quan trọng gây nên sự “dè dặt” của các nước đang phát triển tiếp nhận
FDI, đó là: FDI chủ yếu là của các công ty xuyên quốc gia (TNC) và cách thức
6
6
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% Foreign Cantrerisce) là
doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài( tổ chức
hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại
nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả
sản xuất, kinh doanh. Ở Việt Nam, hình thức này có xu hướng gia
tăng cả về số dự án và vốn đăng ký. Hiện có trên 73% số dự án và
khoảng 47% số vốn đầu tư (đến tháng 5 năm 2005 có 3.956 dự án có
hiệu lực với 22,8 tỷ USD vốn đầu tư). Hiện nay trong đó tổng dự án
và tổng vốn trên thì nhà đầu tư đăng ký dưới hình thức 100% vốn
nước ngoài chiếm 77,2% về số dự án (60,7% về tổng vốn), đăng ký
dưới hình thức liên doanh chiếm 19,5% về số dự án (31,2% về tổng
vốn đăng ký). Số còn lại đăng ký thuộc lĩnh vực hợp doanh BOT công
ty cổ phần và công ty quản lý vốn.
3. Nhân tố thúc đẩy FDI
3.1. Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về
năng suất cận biên của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có
năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất
cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi
dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
3.2. Chu kỳ sản phẩm
Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới đầu được phát minh
và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước
ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị
trường nội địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay
thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của
nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong
nước bão hoà, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện. Hiện tuợng này diễn ra theo
kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật
Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia
ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở
Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản
cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát
triển khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc
gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay
của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến
lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay
việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-
Thompson Electroincs, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc)
trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như
vậy.
3.6.Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu
tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục
đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.
II. Các mô hình về vai trò của nguồn vốn đối với tăng trưởng
1.Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế
1.1 Mô hình
9
9
Vào cuối thế kỉ 19, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ ,
trường phái kinh tế tân cổ điển ra đời. Bên cạnh một số quan điểm về tăng
trưởng kinh tế tương đồng cùng trường phái cổ điển như sự tự điều tiết của
bàn tay vô hình, mô hình này có các quan điểm mới sau:
Đối với các nguồn lực về tăng trưởng kinh tế, mô hình nhấn mạnh vai
trò đặc biệt quan trọng của vốn. Từ đó họ đưa ra hai khái niệm:
Hàm sản xuất : Y =1/k * K (1)
Tiết kiệm S = s * Y (2)
Vốn đầu tư : I = S (3)
Lượng vốn gia tăng : K = I - d*K ( d là tỷ lệ khấu hao) (4)
Từ (2),(3),(4) ta có : K = s*Y - d*K (5)
Hệ số tư bản - đầu ra: k=K/Y (6)
Từ (1) ta có : Y= K/k (7)
Tỷ lệ tăng trưởng đầu ra : g = Y /Y = (s/k)-d
2.2 Ý nghĩa :
Dựa vào mô tả trên ta thấy nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng
vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên. Chúng ta có công thức:
11
11
g=s/k, trong đó g là tốc độ tăng trưởng kinh tế, s là tỷ lệ tiết kiệm và k là hệ
số ICOR. Công thức trên nêu lên , tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế phụ
thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) và hệ số ICOR. Vì vậy, nếu hệ số ICOR của
Việt Nam là 4,8 muốn có g=8,5% thì phải tiết kiệm (đầu tư) 40,8%. nếu huy
động vốn trong nước chỉ được 30% thì ít nhất phải thu hút đầu tư nước
ngoài bằng khoảng 10,8%. Điều này cho thấy vai trò của FDI đối với quá trình
phát triển
12
12
Chương II : Vai trò của FDI với phát triển kinh tế ở Việt Nam
I. Vai trò của FDI tới tăng trưởng kinh tế
Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam. Các dự án đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi dần đời sống sản
xuất, kinh doanh của địa phương, có tác dụng kích thích sản xuất của các
thành phần kinh tế khác đầu tư nước ngoài cũng khả quan trong năm 2003
và được Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đánh giá là “… Có sự
chuyển biến mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng cao hơn các thành phần kinh tế
chiếm 13.3% GDP, năm 2002 chiếm 13,5% , năm 2003 chiếm 14%. Nguồn
vốn này cũng góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt
hơn hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thộng vận tải, bưu chính viễn thông , hình
thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, góp phần thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hình thành các khu dân cư
mới, tạo việc làm cho hàng vạn lao động tại các địa phương. Những vấn đề
trên cho thấy tác dụng và ảnh hưởng quan trọng của FDI đối với sự phát
triển kinh tế của đất nước.
2. FDI với nguồn thu ngân sách và các cân đối vĩ mô.
Cùng với sự phát triển , FDI đóng góp ngày càng tăng vào nguồn thu
ngân sách cho nhà nước thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước
ngoài Theo số liệu của Bộ kế hoạch đầu tư thì giai đoạn 1996-2000 thu từ
khu vực FDI chiến 6-7% nguồn thu ngân sách quốc gia( nếu kể cả ngành dầu
khí thì chiếm gần 20% thu ngân sách), đạt khoảng 1,45 tỷ USD; gấp 4,5 lần so
14
14
với 5 năm trước đó, với nguồn thu bình quân khoảng 290triệu USD/ năm.
Đến giai đoạn 2001 -2005 tăng lên đến 1 tỷ USD/ năm.
Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng vào việc thặng dư của tài
khoản vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung.
3. Góp phần nâng cao năng lực công nghệ cho nước chủ nhà và
góp phần tạo động lực cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong nước.
Sự tham gia của doanh nghiệp FDI góp phần phá vỡ cơ cấu thị trường
độc quyền, tăng tính cạnh tranh của thị trường. Điều này đã đưa lại tác động
tích cực lẫn tiêu cực:
+ Doanh nghiệp FDI với lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ tổ chức sản
xuất, các bí quyết marketing đã tạo ra sức ép đáng kể buộc các doanh nghiệp
trong nứơc phải thay đổi cách thức quản lý, nâng cao công nghệ, sử dụng các
hoạt động marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Khởi đầu là xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng,
tiếp đến là các sản phẩm thuộc các ngành công nghiệp cần nhiều lao động
như dệt may, công nghiệp chế biến và sau đó là các sản phẩm có hàm lượng
tư bản cao như sản phẩm điên, điện tử, cơ khí
Theo số liệu thống kê, các doanh nghiệp FDI đã chiếm tỷ trọng 13 –
14% GDP, 35,5% tổng sản lượng công nghiệp và 18,6% tổng vốn đầu tư xã
hội; ngoài dầu thô, chiếm tỷ trọng 33,8% kim ngạch xuất khẩu; Hoạt động
kinh doanh của khu vực kinh tế FDI (trừ ngành dầu khí) trong năm 2003 phát
16
16
triển khá. So với năm 2002, doanh thu của các doanh nghiệp FDI tăng 36,8%;
kim ngạch xuất khẩu tăng 35,3%; nộp ngân sách đạt 465 triệu USD, tăng
1,3%; tạo ra việc làm cho khoảng 665.000 lao động, tăng 7,3% so với năm
2002.
Bảng 3 : Cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hoá theo khu vực kinh tế(kể cả xuât
khẩu dầu thô) Đơn vị %
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 200
5
Khu vực
kinh
tế trong
nước
73.0 70.3 65.0 65.7 59.4 53.0 54.8 52.9 49.6 45.3 42.8
Khu vực
kinh
tế đầu tư
nước
ngoài
27.0 29.7 35.0 34.3 40.6 47.0 45.2 47.1 50.4 54.7 57.2
Nguồn: http:// www.gso.gov.vn
chuyển cơ cấu kinh tế của đất nước. Những năm đầu, vốn FDI tập trung phần
lớn vào thăm dò, khai thác dầu khí (32,2%) và khách sạn du lịch, căn hộ cho
18
18
thuê (20,6%). Nhưng những năm gần đây, đầu tư vào khu vực sản xuất vật
chất của nền kinh tế (nhất là lĩnh vực công nghiệp) ngày càng gia tăng hiện
chiếm 2/3 tổng nguồn vốn đầu tư chung. Trong đó, trên 60% số dự án là đầu
tư khai thác và nâng cấp các cơ sở kinh tế hiện có. Cơ cấu ngành nghề được
điều chỉnh theo hướng ngày càng hợp lý, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất
hàng xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất công nghiệp,
chế biến nông, lâm, thuỷ sản và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, sử
dụng nhiều lao động; ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại Sự xuất
hiện của nhiều công trình lớn như các nhà máy xi măng Tràng Kênh, Nghi
Sơn, Sao Mai, Văn Xá, Phúc Sơn, Hải Long, các nhà máy cán thép ở Hải
Phòng, Thái Nguyên, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, các nhà máy sản xuất, lắp
ráp ô tô, xe máy, các dự án liên lạc viễn thông, điện tử, các nhà máy đường ở
Ninh Bình, Thanh Hoá, Long An, Tây Ninh và các dự án chế biến nông, lâm,
sản đã góp phần tăng nhanh năng lực sản xuất của các ngành, các địa
phương, và từng bước hiện đại hoá một số lĩnh vực của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt
Nam đang có sự chuyển dịch tích cực sang lĩnh vực dịch vụ. Đây là nét mới và
rõ nhất về tình hình thu hút FDI vào Việt Nam trong những tháng đầu năm
nay, khi vẫn chưa xuất hiện những dự án được coi là “đình đàm” về quy mô
vốn đầu tư, như trong năm 2006. Số liệu thống kê cho thấy, nếu như 6 tháng
đầu năm 2006, tỷ lệ vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp là 72,7%, thì
trong 6 tháng đầu năm 2007 tỷ lệ này giảm xuống còn 56,5%. Ngược lại, tỷ lệ
vốn FDI đăng ký đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ từ 22,6% của 6 tháng đầu năm
2006 tăng lên 43,2% trong 6 tháng đầu năm 2007. Một tháng sau, tức là 7
tháng đầu năm 2007, vốn FDI đăng ký mới vẫn theo hướng đổ vào lĩnh vực
dịch vụ từ 43,2% lên 44,1% (2,81 tỷ USD) của 220 dự án, trong khi đó lĩnh vực
20
1996 là 263 triệu USD, từ 1997 đến nay khoảng trên 315 triệu USD, riêng
năm 1999 giảm còn 260 triệu USD. Khu vực ĐTNN đã giải quyết việc làm trực
tiếp cho khoảng 29 vạn lao động, ngoài ra, còn gián tiếp tạo ra việc làm cho
gần 1 triệu lao động trong các ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ liên
quan đến ĐTNN. Thu nhập bình quân của lao động Việt nam trong doanh
nghiệp ĐTNN cao hơn cùng ngành nghề ở khu vực khác từ 30% đến 50%,
bình quân tháng khoảng 70USD và tổng thu nhập của lao động hàng năm lên
tới 300-350 triệu USD.
3. Thực hiện công nghiệp hoá nông thôn.
Mặc dù nguồn vốn đầu tư còn hạn chế song, các dự án FDI đã góp
phần không nhỏ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát
triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, nâng cao giá trị xuất khẩu cho nông sản
Việt Nam, trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh và áp dụng các công nghệ
mới, công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh khi tham gia hội nhập. Với 758
dự án đã và đang triển khai, lĩnh vực FDI trong nông nghiệp đem lại doanh
thu hàng năm khoảng 312 triệu USD, xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm và
tăng mạnh trong thời gian gần đây.
Những đóng góp tích cực:
- Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài tương đối phù hợp với yêu cầu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của ngành, nguồn vốn được thu hút khá đồng đều vào
các lĩnh vực trồng trọt, chế biến nông, lâm sản, sản xuất mía đường, sản xuất
thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rừng và sản xuất nguyên
liệu giấy;
- Các dự án FDI đã góp phần tạo thêm năng lực sản xuất mới, công
nghệ sản xuất tiên tiến, nâng cao tính cạnh tranh của hàng nông lâm sản. Các
chương trình mía đường, trồng và chế biến rau quả, chương trình trồng
21
21
rừng, chuyển giao công nghệ mới, tạo ra các loại giống cây trồng, giống vật
sản có chất lượng tiêu dùng cao, nhãn hiệu nổi tiếng và hàm lượng giá trị gia
tăng cao chưa được tạo dựng;
- Đa số dự án có qui mô nhỏ, phân bố không đồng đều giữa các vùng,
miền trong nước.
- Chưa hình thành một cơ chế gắn kết thường xuyên giữa Bộ và địa
phương (Tỉnh) để chọn lựa giới thiệu với các nhà đầu tư nước ngoài các dự
án FDI ưu tiên trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn;
- Cần có chính sách thu hút đầu tư mạnh hơn nữa vào công nghệ chế
biến nông lâm sản, bảo quản sau thu hoạch, tạo cây, con giống có chất lượng
cao để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu;
- Các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn chưa đủ
năng lực để chủ động kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài theo ý đồ chiến lược
phát triển sản phẩm và thị trường của riêng mình.
III. Vai trò của FDI với đảm bảo phúc lợi xã hội cho con người
1. Tác động tới việc làm và chất lượng nguồn lao động
Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động hiện đang được xã hội
quan tâm và coi đây là một trong những nhân tố góp phần làm cho xã hội
phát triển công bằng và bền vững. Mọi người có việc làm sẽ làm giảm tỷ lệ
thất nghiệp, các vấn đề xã hội đựơc giải quyết, nâng cao đời sống cho mọi
tầng lớp dân cư.
Song song với việc giải quyết việc làm là việc không ngừng nâng cao hơn nữa
chất lượng lao động, tạo ra cho nền kinh tế nhiều đội ngũ lao động có tay
23
23
nghề, có trình độ khoa học công nghệ cao, đội ngũ cán bộ quản lý có năng
lực quản lý vĩ mô, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội.
Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động trong nước cũng như nâng
cao hơn nữa chất lượng lao động là một trong những mục tiêu đặt ra khi
thực thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đến nay đây là mục
tiêu mà chúng ta đã thu được kết quả cao hơn so với các mục tiêu khácSố
Qua các con số minh họa trên, có thể nói là lao động ở các doanh
nghiệp FDI có năng suất lao động và tiền lương cao hơn lao động ở doanh
nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp FDI đã trở thành đối thủ cạnh tranh với
doanh nghiệp nhà nước trên thị trường lao động, đặc biệt là lao động có
trình độ.
2. Nâng cao mức sống, mức thu nhập của người dân
Số liệu công bố qua các cuộc điều tra gần đây về tiền lương cho thấy
các doanh nghiệp FDI đang thắng thế trong cạnh tranh thu hút nhân lực cấp
cao, như các chức danh quản lý doanh nghiệp. Mức lương trả cho lao động
quản lý trong các doanh nghiệp FDI trung bình là 12 triệu đồng/tháng (năm
2005), cao hơn nhiều so với mức lương tương ứng ở các doanh nghiệp nhà
nước (4,3 triệu) và doanh nghiệp tư nhân (3 triệu). Nếu tính bình quân lương
tháng của toàn bộ lao động trong doanh nghiệp qua các cuộc khảo sát tiền
lương do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành từ đầu thập kỷ này
thì người lao động trong doanh nghiệp FDI vẫn được hưởng mức lương cao
hơn so với ở các doanh nghiệp trong nước khác (thấp nhất là ở doanh nghiệp
tư nhân).
25
25