Hội chứng ngừng thở khi ngủ doc - Pdf 19

Hội chứng ngừng thở khi ngủ Hội chứng ngừng thở khi ngủ (Sleep Apnea Syndrome, gọi tắt là SAS) là một số
rối loạn đặc trưng bởi sự ngừng thở từng lúc về đêm, khi ngủ dẫn tới thiếu oxy
máu (SaO2 giảm).
Bình thường, khi bệnh nhân hít vào, các cơ hô hấp co rút lại, nhất là cơ hoành co
lại, làm vòm hoành hạ thấp, đồng thời cũng co thắt các cơ ở đường hô hấp trên
(nhất là cơ lưỡi cằm). Khi bệnh nhân ngủ, các cơ giãn, mũi họng giảm trương lực,
đường thở có khuynh hướng dễ khép lại, đóng lại. Khi ngủ trong tư thế nằm ngửa,
lưỡi dễ tụt ra sau, làm đường thở trên càng bị đóng lại, gây ngừng thở. Bệnh nhân
phải tỉnh giấc mới làm cho tình trạng ngừng thở chấm dứt.
Các loại SAS
- Ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ: Luồng khí thở bị cản lại ở tỵ hầu, nhưng cơ hoành
và các cơ hô hấp vẫn hoạt động.
- Ngừng thở trung tâm khi ngủ: Các cơ liên sườn và cơ hoành đều không hoạt
động.
- Ngừng thở hỗn hợp: Loại này là sự kết hợp cả 2 loại trên.
Dấu hiệu của SAS
Người mắc SAS, dù loại nào, đều có các biểu hiện giống nhau:
- Hay ngủ gật ban ngày.
- Tỉnh giấc nhiều lần về đêm do thiếu oxy. Đêm ngủ hay ngáy to, ngột ngạt, hay
có vận động bất thường trong lúc ngủ.
- Nhức đầu buổi sáng.
- SaO2 giảm.
- Dần dần người bệnh SAS có những thay đổi về cá tính, nhân cách, khả năng làm
việc trí óc, quan hệ tình dục suy giảm.
- Khám có thể thấy bệnh nhân béo bệu, huyết áp cao, tăng hồng cầu. Trẻ em có
Amydan to, VA phát triển.
- Bệnh ngừng thở khi ngủ kéo dài dẫn đến huyết áp tăng, nhịp tim chậm, rối loạn
nhịp. Nếu có ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thì sẽ

thở khi ngủ có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch, bệnh lý mạch máu
não, thậm chí dẫn đến tử vong trong một số trường hợp do nó gây tăng huyết áp,
rối loạn nhịp tim, tăng hồng cầu trong máu
Ngừng thở khi ngủ xuất hiện có thể do các cơ thanh quản bị mất trương lực nên
vùng hầu họng bị xẹp lại trong thời kỳ hít vào; hoặc do các bất thường về cấu trúc
vùng hầu họng làm hẹp đường dẫn khí. Các yếu tố nguy cơ gồm: béo phì; bất
thường về cấu trúc các cơ quan vùng hầu họng như xương hàm dưới quá nhỏ, lưỡi
quá to, hoặc phì đại amiđan ; uống rượu hoặc các loại thuốc ngủ trước khi đi ngủ;
tắc mũi (bị cảm lạnh hoặc mũi bị lệch vách ngăn).
Biểu hiện của ngừng thở khi ngủ là hay ngáy to, có những lúc ngừng thở và cử
động chân tay nhiều trong khi ngủ.
Việc điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân nhưng sẽ cho kết quả tốt hơn nếu áp dụng
nhiều biện pháp, mà các biện pháp không dùng thuốc cần được xem xét trước. Có
ít nhất 50% các bệnh nhân ngừng thở khi ngủ NTKN là béo phì, nên giảm cân là
biện pháp quan trọng và hiệu quả nhất, cần được áp dụng đầu tiên. Nếu kết hợp
giảm cân với các biện pháp điều trị khác sẽ cho hiệu quả cao hơn. Việc bỏ thuốc
lá, hạn chế uống rượu trước khi đi ngủ và tránh dùng các thuốc ngủ đều có tác
dụng tốt. Nếu bệnh nhân là phụ nữ đã mãn kinh, việc điều trị hoóc môn thay thế sẽ
làm giảm ngừng thở khi ngủ và ngáy.
Nên điều trị các bệnh lý tai mũi họng như viêm mũi, polyp mũi, lệch vách ngăn,
hoặc viêm xoang nhằm làm giảm sức cản ở đường hô hấp và hạn chế tình trạng
thanh quản bị hẹp gây tắc nghẽn đường thở. Đôi khi bệnh nhân cần phải được điều
trị phẫu thuật để loại bỏ các nguyên nhân này. Cần điều trị chỉnh hình các bất
thường gây hẹp đường dẫn khí, chẳng hạn cắt bỏ lưỡi gà, cắt bỏ hạch amiđan nếu
nó quá to, có người phải mở khí quản.
Trong tương lai, bệnh nhân ngừng thở khi ngủ có thể dùng dụng cụ nẹp xương
hàm dưới. Nó được thiết kế riêng cho từng người, lắp vừa khít với các răng hàm
trên và hàm dưới. Dụng cụ này đẩy xương hàm ra phía trước, do đó làm tăng diện
tích vùng hầu họng, mở rộng được đường hô hấp. Các bệnh nhân sẽ đeo dụng cụ
này khi đi ngủ. Hiện tại, phương pháp này mới chỉ được thử nghiệm ở một số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status