Đề tài " Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng để giải thích tình hình đầu tư hiện nay ở Việt Nam " doc - Pdf 19

ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ
Đề tài
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn
đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng để giải thích
tình hình đầu tư hiện nay ở Việt Nam.

Nhóm thực hiện : Nhóm 9
Lớp : Kinh tế Đầu tư 48A
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Từ Quang Phương
TS. Phạm Văn Hùng
HÀ NỘI, 10/2008
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.

DANH SÁCH NHÓM
Họ tên Lớp
1. Nguyễn Thanh Dung Kinh tế Đầu tư 48A
2. Nguyễn Đăng Dương Kinh tế Đầu tư 48A
3. Nguyễn Tiến Đạt Kinh tế Đầu tư 48A
4. Nguyễn Thị Thúy Giang Kinh tế Đầu tư 48A
5. Bùi Thị Thanh Thủy Kinh tế Đầu tư 48A
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 2
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hơn một thập kỉ qua, phần lớn các nước trong khu vực và các nước phát
triển bắt đầu chú ý hơn tới vị thế của Việt Nam, nhờ tiềm năng kinh tế to lớn cũng như
hoạt động đầu tư và thương mại không ngừng gia tăng của Việt Nam đối với các nước
trên thế giới.
Năm 2007 là một năm thành công đối với nền kinh tế Việt Nam với con số tăng

NHCP Ngân hàng cổ phần
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTW Ngân hàng trung ương
NSNN Ngân sách nhà nước
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
TMCP Thương mại cổ phần
TSCĐ Tài sản cố định
TSLĐ Tài sản lưu động
TSLN Tỷ suất lợi nhuận
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
XDCB Xây dựng cơ bản
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 4
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
Chương I . Lý luận chung về mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay,
tỷ suất lợi nhuận và qui mô vốn đầu tư.
A. Lý luận chung về lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận và qui mô vốn đầu tư
I. Lãi suất
1. Khái niệm và vai trò của lãi suất
1.1. Khái niệm
Lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của vốn – giá cả của quan hệ
vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức
tài sản khác nhau. Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền
dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số vốn gọi là lãi
suất.
1.2. Vai trò của lãi suất
Ở tầm kinh tế vi mô, lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũng như các doanh
nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm, đầu
tư số vốn tích lũy được vào danh mục đầu tư khác,…

hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước.
- Lãi suất thực: là loại lãi suất xác định giá trị thực của các khoản lãi được trả hoặc thu
được.
Lãi suất Lãi suất Tỷ lệ
thực = danh nghĩa - lạm phát
Sự phân biệt giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có ý nghĩa rất quan trọng, đối
với người có tiền, nhờ đoán biết được lãi suất thực mà họ quyết định nên gửi tiền vào
ngân hàng hay mang đi kinh doanh trực tiếp. Đối với người cần vốn, nếu dự đoán được
tương lai có lạm phát và trong suốt thời gian đó lãi suất cho vay không đổi hoặc có tăng
nhưng tốc độ tăng không bằng lạm phát tăng thì họ có thể yên tâm vay để kinh doanh mà
không sợ lỗ vì trượt giá khi trả nợ.
2.3.Phân loại theo phương pháp tính lãi
- Lãi suất đơn: là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay ban đầu
không gộp lãi vào tiền vay ban đầu để tính lãi thời hạn kế tiếp.
Lãi suất đơn = số tiền lãi / số tiền gốc * 100%
- Lãi suất kép: là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay, số tiền
vay này tăng lên do có gộp lãi qua từng thời kỳ cho vay (lãi mẹ đẻ lãi con).
Công thức:
I = ( 1+i)^1/t – 1
I : lãi suất tại thời điểm t
i: lãi suất đơn hàng năm
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 6
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
t: chu kỳ tính lãi suất
2.4.Phân loại theo loại tiền
- Lãi suất nội tệ: là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng nội tệ (kể cả lãi suất huy
động và lãi suất cho vay).
- Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất tính toán áp dụng cho đồng ngoại tệ.
2.5.Phân loại theo độ dài thời gian:

3.3. Bội chi ngân sách
Bội chi ngân sách của NHTW sẽ trực tiếp làm cho cầu của quĩ cho vay tăng làm
tăng lãi suất.
Bội chi ngân sách cũng tác động đến tâm lý dân chúng về mức gia tăng lạm phát
gây ra áp lực làm tăng lạm phát.
Về phía Chính phủ, khi bội chi NSNN thì Chính phủ thường gia tăng phát hành
trái phiếy làm cung trái phiếu trên thị trường tăng, giá trị trái phiếu có xu hướng giảm
xuống. Chính điều này đã làm cho lãi suất trên thị trường tăng lên.
Về phía các NHTM, tài sản có của họ tăng ở mục trái phiếu Chính phủ, dự trữ
vượt quá của họ bị giảm. Do đó, lãi suất ngân hàng tăng lên.
3.4. Những thay đổi về thuế
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suất giống như
khi thuế tác động đến giá cả hàng hóa.
Đối với các doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
luôn tác động đến lợi nhuận của họ. Cho nên nếu các hình thức thuế này tăng lên cũng có
nghĩa là nó sẽ điều tiết bớt một phần thu nhập của cá nhân doanh nghiệp làm nhiệm vụ
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 8
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
kinh doanh tiền tệ, kinh doanh chứng khóan tức là các NHTM và các công ty Chứng
khóan.
Thông thường, ai cũng quan tâm đến thu nhập thực tế hơn thu nhập danh nghĩa thì
đương nhiên các tổ chức kinh doanh chứng khóan phải cộng thêm vào lãi suất cho vay
những sự thay đổi về thuế làm lãi suất tăng lên.
3.5. Những thay đổi trong đời sống xã hội
Ngoài những yếu tố kể trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu tác động của những
sự thay đổi trong đời sống xã hội. Ví dụ như sự phát triển của thị trường tài chính với các
công cụ tài chính đa dạng.
Thêm nữa, tình hình về kinh tế, chính trị của cũng như những biến động tài chính
quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới, các luồng vốn đầu tư ra

Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 9
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
bất kỳ ông chủ doanh nghiệp nào cũng quan tâm, ẩn sau đó là động cơ để bất kỳ nhà đầu
tư nào bỏ tiền đầu tư.
Tuy vậy không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau vì:
- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trường tiêu thụ cùa các
doanh nghiệp khác nhau dẫn đến lợi nhuận cũng khác nhau.
- Các doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô sản xuất khác nhau thì lợi nhuận thu được
cũng khác nhau. Ở những doanh nghiệp lớn được đầu tư lớn hơn nhưng do hoạt động sản
xuất, quản lý kém, nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghiệp
quy mô nhỏ dù hoạt động tốt. Cho nên để đánh giá một cách đúng đắn chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối người ta
còn sử dụng chỉ tiêu tương đối là tỷ suất lợi nhuận.
1.2 . Tỷ suất lợi nhuận
Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi loại lại có nội dung khác nhau, sau
đây là một số cách phân loại và tính tỷ suất lợi nhuận:
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn : là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận (trước thuế hoặc sau
thuế) thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, các hoạt động khác
với số vốn sử dụng bình quân trong kỳ ( thường là 1 năm).
Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận thu được hàng năm tính trên 1 đồng vốn bỏ ra.
Trong đó ta đặc biệt quan tâm tới tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư, phần này sẽ được trình bày
cụ thể ở sau.
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận (trước thuế hoặc sau
thuế) thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, các hoạt động khác
với tổng doanh thu thuần thu về.
Chỉ tiêu này phản ánh: mức lợi nhuận thu được trên 1 đồng doanh thu.
- Tỷ suất lợi nhuận trên giá thành: là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế hoặc sau
thuế của sản phẩm tiêu thụ so với giá thành của toàn bộ sản phẩm hàng hóa tiêu thụ.

i
từng năm mà ta co thể so sánh giữa các năm và thấy được sự khác
biệt này ở các dự án khác nhau.
* Nếu tính bình quân năm của cả đời dự án:
W
RR =
I
VO
Trong đó:
W : Lợi nhuận thuần bình quân năm của đời dự án theo mặt bằng hiện tại.
Tuy nhiên trong thực tế để cho dễ tính ta có thể lấy lợi nhuận thuần của 1 năm hoạt động
ở mức trung bình trong đời dự án thay cho lợi nhuận thuần bình quân năm của đời dự án.
* Khi tính cho cả đời dự án, chỉ tiêu này lại phản ánh mức thu nhập thuần tính trên 1 đơn
vị vốn đầu tư.
Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng để nhà
đầu tư đưa ra lựa chọn quyết định đầu tư vào dự án nào. Nó phản ánh tốc độ thu hồi vốn,
nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao càng chứng tỏ khả năng thu hồi vốn càng nhanh và sau đó
là lợi nhuận dư ra càng cao. Nếu cùng vốn đầu tư như nhau thì những dự án có tỷ suất lợi
nhuận càng lớn càng thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, bởi nó hàm chứa lợi nhuận
càng cao - đó là mục đích cuối cùng của nhà đầu tư.
Tuy nhiên chỉ dựa vào tỷ suất lợi nhuận thôi chưa đủ, nhà đầu tư quyết định đầu tư
dựa trên hiệu quả biên của vốn ( tỷ suất lợi nhuận biên vốn đầu tư).
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 11
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
Tỷ suất lợi nhuận biên vốn đầu tư phản ánh lợi nhuận tăng thêm khi gia tăng thêm
1 đơn vị vốn đầu tư. Điều đáng nói ở đây là tỷ suất lợi nhuận biên vốn đầu tư giảm dần
theo quy mô vốn đầu tư.
Dễ thấy để có được 1 đơn vị vốn đầu tư gia tăng đó nhà đầu tư phải đi vay, phải
trả lãi suất cho vay (nếu bản thân vốn tự có thì đó là chi phí cơ hội của đồng vốn đó) và nó

kinh tế tạo ra. Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu
vào cho quá trình sản xuất sau. Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sức
lao động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra. Do bản chất không
đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi
trong lý thuyết kinh tế." (Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội,
1999, Tr. 129).
Theo cấu trúc giá trị của hàng hoá:
Vốn đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của vốn nói chung. Trên phương diện
nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra để
tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động).
Theo Luật Đầu tư năm 2005, vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện
các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.
- Qui mô vốn đầu tư
Trong hoạt động kinh tế, quy mô vốn đầu tư là một chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng
trưởng và sức mạnh của từng doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.
Qui mô vốn đầu tư trong một thời kì nhất định được biểu hiện bằng đơn vị giá trị
thông qua lượng tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh ( bao gồm tài sản cố định
và lưu động ).
2. Đặc trưng của vốn đầu tư
- Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản. Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những
tài sản hữu hình và vô hình.
- Vốn phải vận động sinh lời. Để biến tiền thành vốn thì tiền phải thay đổi hình thái biểu
hiện, vận động và có khả năng sinh lời.
- Vốn cần được tích tụ và tập trung đến một mức nhất định mới có thể phát huy tác
dụng.
- Vốn phải gắn với chủ sở hữu. Khi xác định rõ chủ sở hữu, đồng vốn sẽ được sử dụng
hiệu quả.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian. Vốn luôn vận động sinh lời và giá trị của vốn biến động
theo thời gian.
3. Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển

năng lực phát triển của xã hội. Sự phát triển của xã hội ngoài yếu tố làm tăng TSCĐ,
TSLĐ còn phải làm tăng nguồn lực khác như: nâng cao dân trí; hoàn thiện môi trường xã
hội; cải thiện môi trường sinh thái; hỗ trợ cho các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội
và các chương trình phát triển khác. Như vậy, nội dung của "vốn đầu tư phát triển khác"
rất phong phú. Nó bao gồm tất cả các khoản đầu tư tăng thêm cho: vốn chi cho thăm dò,
khảo sát, thiết kế, qui hoạch ngành,qui hoạch lãnh thổ ;vốn chi cho việc thực hiện các
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 14
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tăng cường sức khỏe cộng đồng, vốn đầu tư cho
lĩnh vực giáo dục, …
4. Vai trò của vốn đầu tư
Vốn đầu tư phần lớn được chi dùng vào việc tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích
phát triển và tăng trưởng nền kinh tế - xã hội của đất nước.
Hoạt động đầu tư là một trong những lĩnh vực chuyển hóa của nền kinh tế và được
coi là một bộ phận vận hành của nền sản xuất vật chất xã hội, để từ đó tạo nên tiền đề cơ
sở vật chất và điều kiện sản xuất kinh doanh sinh lợi. Về mục tiêu đầu tư thường được xét
trên 2 góc độ cơ bản sau:
- Xét theo góc độ vĩ mô: Quyết định đầu tư phải gắn liền với tầm phát triển chung của
nền kinh tế đất nước về các mặt kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội, môi
trường sinh thái…
- Xét theo góc độ vi mô: Quyết định đầu tư cần xuất phát những mục tiêu cụ thể, nhất là
về mặt tài chính với mục đích cơ bản là mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực.
5. Phân loại vốn đầu tư
Trong công tác quản lý và kế hoạch hóa hoạt động đầu tư các nhà kinh tế phân loại
vốn đầu tư theo các tiêu thức khác nhau. Mỗi tiêu thức phân loại đáp ứng những nhu cầu
quản lý và nghiên cứu kinh tế khác nhau. Trên góc độ của nền kinh tế, vốn đầu tư được
chia theo nguồn vốn thành: vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài.
5.1. Vốn đầu tư trong nước
Vốn trong nước bao gồm vốn của NSNN, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và

kiện ưu đãi như ưu thời hạn cho vay dài, lãi suất thấp, khối lượng vốn cho vay lớn, bao
giờ cũng có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%.
5.2.2.Vốn tín dụng từ các NHTM quốc tế là vốn vay với những điều kiện khá nghiêm ngặt
như lãi cao, thủ tục vay khắt khe.
5.2.3.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển
không chỉ với các nước nghèo mà cả các nước công nghiệp phát triển. Khi tiếp nhận
nguồn vốn này không làm phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn.
6. Các nhân tố ảnh hưởng đến qui mô vốn đầu tư
6.1. Lợi nhuận kì vọng
Tối đa hóa lợi nhuận là mục đích của các doanh nghiệp. Chính vì vậy, các nhà đầu
tư quyết định đầu tư khi có lợi nhuận kì vọng lớn. Trong những trường hợp lợi nhuận kì
vọng lớn, nhà đầu tư sẽ sẵn sàng bỏ vốn để kinh doanh, tăng sức cạnh tranh trên thị
trường.
Tuy nhiên, qui mô vốn lớn cũng dễ dàng đưa tới hiệu suất sử dụng trên từng đồng
vốn thấp. Khi này, mục tiêu tăng vốn để củng cố năng lực cạnh tranh không đạt.
6.2. Lãi suất tiền vay
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 16
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
Lãi suất tiền vay phản ánh quan hệ của vay mượn bởi lãi suất chính là giá cả của
vốn. Trong khi đó, khi nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư. Vì vậy, lãi suất tiền vay ảnh
hưởng quan trọng đến quyết định của nhà đầu tư.
Ảnh hưởng của lãi suất tiền vay theo hai xu hướng chính:
- Khi lãi suất tiền vay cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân, nhà đầu tư sẽ quyết
định cắt giảm qui mô nhằm hạn chế được thiệt hại kinh doanh và tạo sự an toàn nhất định
cho đồng vốn.
- Khi lãi suất tiền vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân, nhà đầu tư sẽ quyết
định mở rộng qui mô nhằm gia tăng tối đa lợi nhuận.
6.3. Môi trường đầu tư
Trong một thế giới mở cửa và hội nhập, môi trường đầu tư được coi là yêu cầu số

trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Khi lợi nhuận giảm, nhà đầu tư sẽ cân nhắc
quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Ngược lại, nếu Chính phủ miễn giảm hoặc có những ưu đãi về thuế thu nhập
doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp tăng lên. Điều này sẽ kích thích chi
đầu tư nhằm tăng lợi nhuận. Qui mô đầu tư mở rộng sẽ góp phần phát triển tái sản xuất xã
hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
B. Lí luận về mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui
mô vốn đầu tư.
I.Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay và qui mô vốn đầu tư
1.Tác động của lãi suất tiền vay đến qui mô vốn đầu tư
Nhân tố cơ bản quyết định đến đầu tư là lãi suất. Chúng ta giả thiết có một mức
lãi suất duy nhất trong nền kinh tế. Đó là một giả thiết hợp lý bởi vì mặc dù có nhiều loại
lãi suất khác nhau trong nền kinh tế, nhưng chúng có xu hướng biến động cùng nhau.
Đầu tư phụ thuộc lãi suất vì các quyết định đầu tư được đưa ra trên cơ sở hướng về
tương lai. Các doanh nghiệp có một số cơ hội đầu tư khác nhau với mức kỳ vọng khác
nhau. Các doanh nghiệp so sánh thu nhập kì vọng từ các dự án với chi phí vay tiền để tài
trợ cho chúng, nói cách khác là với lãi suất. Lãi suất thực tế chính là chi phí của đầu tư.

r

0 I
Hình 2 : Hàm đầu tư
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 18
I( r )
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
Lãi suất này được đăng báo và niêm yết tại các ngân hàng là lãi suất danh nghĩa.
Nhưng các nhà kinh tế học nhấn mạnh rằng người dân thực ra quan tâm đến lượng hàng
hóa mua được từ một số tiền nhất định chứ không phải bản thân số tiền đó. Trong thời kì
có lạm phát, lãi suất danh nghĩa không phải là thước đo chính xác chi phí thực của việc

trong đó việc điều tiết lãi suất một cách hợp lí có ảnh hưởng rất quan trọng. Trong điều
kiện toàn cầu hóa và mở cửa của nền kinh tế thế giới, mức lãi suất tương đối cao tại thị
trường trong nước là công cụ hữu hình để bảo vệ được nguồn vốn của nước mình, ngăn
chặn nạn đào thoát vốn ra nước ngoài.
Tuy nhiên, bản thân yếu tố lãi suất cũng có yếu tố hai mặt, đó là khi tăng lãi suất
cũng có nghĩa là chi phí sử dụng vốn trong đầu tư cao hơn. Điều này sẽ làm giảm phần lợi
nhuận thực của các nhà đầu tư. Tác động kích thích huy động vốn với lãi suất phải hết sức
cẩn trọng để xác định mức lãi suất phù hợp, có tác động tích cực đến hiệu quả huy động
vốn.
Lãi suất là giá cả của vốn nên một sự dù thay đổi nhỏ của lãi suất sẽ tác động đến
qui mô vốn đầu tư thông qua những tác động đến giá cả, hành vi người tiêu dùng. Tác
động này trên hai phương diện:
- Chi tiêu dùng và đầu tư:
Một sự tăng lãi suất làm giảm sức hấp dẫn trong việc chi tiêu hiện tại hơn là chi
tiêu trong tương lai của cá nhân và công ty. Tín dụng trong nước, tổng lượng tiền và cầu
thực tế đều giảm (nếu lãi suất giảm sẽ có tác động ngược lại): Khi lãi suất thực tăng lên,
đối với hộ gia đình sẽ giảm nhu cầu mua sắm nhà ở hoặc các hàng tiêu dùng lâu bền do
chi phí tín dụng để mua các hàng hoá này tăng lên. Cùng với lãi suất cho vay, lãi suất tiền
gửi thực cũng tăng lên. Sự gia tăng lãi suất này tác động tới quyết định tiêu dùng của khu
vực hộ gia đình theo hướng giảm tiêu dùng hiện tại và tăng tiết kiệm để cho tiêu dùng
trong tương lai. Đối với khu vực doanh nghiệp, sự gia tăng lãi suất làm tăng chi phí vốn
vay ngân hàng. Điều này đòi hỏi dự án đầu tư sử dụng vốn vay ngân hàng phải có tỷ lệ lợi
nhuận lớn hơn và kết quả là số dự án đầu tư có thể thực hiện với mức lãi suất cao hơn này
có thể giảm hay nói cách khác, đầu tư cố định có thể giảm. Ngoài ra, lãi suất cao cũng làm
tăng chi phí lưu giữ vốn lưu động (ví dụ như hàng trong kho) và do vậy, tạo sức ép các
doanh nghiệp phải giảm đầu tư dưới dạng vốn lưu động.
- Phân phối lại thu nhập:
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 20
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, tác động của lãi suất đến qui mô vốn đầu tư nhiều hay ít, nhanh hay
chậm tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, trong từng quốc gia thì mỗi
giai đoạn phát triển của thị trường tài chính thì mức độ tác động của lãi suất cũng khác
nhau.
2. Tác động của quy mô vốn đầu tư tới lãi suất tiền vay
Quy mô đầu tư thể hiện ảnh hưởng của mình đến lãi suất khi nó có nguồn vốn đủ
mạnh để tác động được đến thị trường. Thông thường là qua một trung gian tài chính như
NHTM hoặc các quỹ đầu tư tài chính.
Cung cầu các quỹ cho vay gây ảnh hưởng đến mức độ huy động vốn trên thị
trường. Nếu giữa các quỹ này có sự chênh lệch về cung cầu thì gián tiếp ảnh hưởng đến
cung cầu tiền trong nước. Khi đó NHNN sẽ dùng lãi suất để can thiệp nhằm bình ổn thị
trường.
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 22
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
Để nghiên cứu rõ hơn ảnh hưởng của quỹ đầu tư, ta nghiên cứu đặc điểm của loại
hình này. Mỗi nhà đầu tư tham gia đầu tư vào quỹ sẽ sở hữu một phần trong tổng danh
mục đầu tư của quỹ, thể hiện thông qua việc sở hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư.
Với các doanh nghiệp có qui mô lớn, do chi phí cận biên tăng nên họ thường ít mở
rộng sản xuất mà thường tập trung vào nâng cao chất lượng sản xuất. Vì vậy, lãi suất cho
vay ít ảnh hưởng hơn nhiều.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đặc điểm là ít vốn, lợi nhuận chưa cao nên phải
mở rộng qui mô để phát triển, hay cần nhiều vốn. Lãi suất tiền vay tăng sẽ làm giảm cơ
hội vay vốn mở rộng qui mô sản xuất. Như vậy, lãi suất tiền vay có ảnh hưởng nhiều hơn
đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Dù dưới hình thức nào thì quỹ đầu tư cũng đều gây ra ảnh hưởng đến quyết định
cũng như xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp. Nó giúp tạo ra sự luân chuyển thuận lợi
hơn cho đồng vốn trên thị trường, là kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp
ngoài Nhà nước.
Chính vì thế bất kì sự can thiệp nào của nhà nước đều gây ảnh hưởng hai chiều

- Nếu ROI < [ROI] thì dự án không đạt hiệu quả tài chính, và nhà đầu tư sẽ quyết định
chưa đầu tư.
2. Tác động của qui mô vốn đầu tư đến tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư
Cũng theo Keynes, hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận
vốn đầu tư của số tiền đầu tư mới. Do đó vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biên của vốn
giảm dần.
Lợi nhuận thuần
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư =
Vốn đầu tư
Keynes cho rằng theo đà tăng lên của vốn đầu tư, hiệu quả giới hạn của tư bản
giảm dần. Sự giảm sút trên là do hai nguyên nhân:
- Khi đầu tư tăng lên thì khối lượng hàng hóa cung cấp cho thị trường tăng lên, do đó giá
cả hàng hóa giảm xuống, nên kéo theo sự giảm sút của lợi nhuận.
- Cung hàng hóa tăng lên sẽ làm tăng chi phí tư bản thay thế. Trong điều kiện tiến bộ kĩ
thuật và tích lũy tư bản nhanh, thì hiệu qủa giới hạn của tư bản có thể dẫn tới 0. Điều này
làm giảm tính tích cực của nhà kinh doanh mở rộng đầu tư.
Cũng theo Keynes, tỷ suất lợi nhuận biên của vốn giảm dần khi dần tăng qui mô
vốn.
IRR
Nhóm 9 - Kinh tế Đầu tư 48A 24
Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Vận dụng
để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
π
IRR
1
0 I
0
I
1
I


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status