Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 9_LỚP KINH TẾ ĐẦU TƯ 48A:
1. LÊ THỊ QUYẾN.
2. VŨ THỊ HỒNG THẮM.
3. NGUYỄN THỊ THANH THỦY.
4. NGUYỄN THỊ THƯ.
5. LÊ HUYỀN TRANG.
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế bền vững là đích hướng tới của mọi quốc gia trên thế giới hiện nay,
dù các quốc gia đó theo những thể chế xã hội khác nhau. Nhưng để phát triển bền vững
được, các quốc gia cần phải xây dựng cho mình một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, một
nền tảng kinh tế vững chắc. Điều này chỉ có thể thực hiện thông qua đầu tư phát triển vì
đầu tư phát triển là phương thức trực tiếp làm gia tăng tài sản của nền kinh tế, tăng tiềm
lực cho mỗi quốc gia.
Việt Nam từ khi giành độc lập đến nay, luôn kiên định mục tiêu phát triển nền kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phấn đấu từ nay đến năm 2020, Việt Nam sẽ
cơ bản trở thành một nước công nghiệp, nhanh chóng giảm bớt khoảng cách so với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO
sẽ có nhiều cơ hội mà nếu nắm bắt được sẽ đưa đất nước “cất cánh” rất nhanh. Muốn vậy
cần phải có một tiềm lực kinh tế vững mạnh. Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư
đến phát triển kinh tế, Chính phủ luôn ưu tiên cho các hoạt động đầu tư phát triển. Nhưng
để thực hiện được một dự án đầu tư thì không thể không kể đến yếu tố nguồn vốn và các
yếu tố khác trực tiếp tác động tới quy mô vốn bởi vốn là yếu tố cần thiết đầu tiên khi thực
thi dự án. Nếu kiểm soát vốn tốt thì những trở ngại khác sẽ dần được khắc phục.
Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm kinh tế đầu tư chúng tôi đã quyết định chọn và
nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư với
quy mô vốn đầu tư. Vận dụng để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam”. Do thời gian
nghiên cứu và kiến thức của các thành viên trong nhóm là có hạn nên bài nghiên cứu của
chúng tôi còn có những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đọc
và các thầy cô giáo hướng dẫn để bài viết được hoàn thiện hơn.
lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước. Hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất
định của nền kinh tế mở, chính sách lãi suất còn được sử dụng như là một công cụ góp
phần điều tiết đối với các luồng vốn đi vào hay đi ra đối với một nước, tác động đến tỷ giá
và điều tiết sự ổn định tỷ giá. Điều này không những tác động đến đầu tư phát triển kinh tế
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
mà còn tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế của
nước đó đối với nước ngoài.
Dưới góc độ kinh tế vi mô: lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũng như các doanh
nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm; đầu
tư số vốn tích luỹ được vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác…
Vậy với mức lãi suất cho vay hợp lý, sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn mở rộng
và phát triển sản xuất kinh doanh cho xã hội, tăng thu nhập quốc dân, hạn chế thất nghiệp
tăng mức sống của người đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.Và khi nền kinh tế
phát triển, thu nhập quốc dân tăng, sẽ tác động trở lại kích thích đầu tư phát triển.
Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trương phát triển và theo đuổi
chính sách tự do hóa tài chính (financial liberalization), lãi suất được hình thành trên cơ sở
thị trường, tức là giữa cung và cầu về vốn trên thị trương quyết định.
3. Các lãi suất cơ bản
Mặc dù lãi suất là giá cả của tín dụng nói chung, song chúng ta lại biết rằng
tín dụng có thể được thực hiện bằng các hình thức và phương pháp khác nhau, vì vậy mà
lãi suất cũng được phân biệt thành các loại khác nhau. Dưới đây là một số loại lãi suất cơ
bản.
3.1 Lãi suất đơn
Lãi suất đơn là lãi suất được tính đối với những khoản tín dụng thực hiện dưới hình
thức vay đơn. Loại tín dụng kiểu này người vay tiền sẽ trả một lần cho người cho vay vào
ngày đến hạn trả nợ cả vốn và một khoản tiền phụ thêm chính là tiền lãi.
Việc tính lãi suất loại này chỉ đơn giản là lấy số tiền lãi chia cho tổng số vốn vay
theo thời gian của khoản tín dụng đó.
3.2 Lãi suất tích họp
Lãi suất tích họp là lãi suất có tính đến yếu tố “ lãi mẹ đẻ lãi con”. Lãi suất tích họp
Ir= hay ir = (132-27)/(27+100)
Ii + 1
Trong ví dụ này lãi suất thực xấp xỉ bằng 82,7 % và điều này cũng phản ánh đúng
một xu hướng thực tế: tỷ lệ lạm phát càng cao lãi suất thực càng thấp.
Nhân tố ảnh hưởng tới chi tiêu của cá nhân và quyết định đầu tư của các nhà đầu tư
là lãi suất thực tế
5. Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất.
Trong các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước đóng vai trò trung tâm trong
hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội. Trong các nước này thường không có thị trường tài
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
chính và tài chính kiềm chế là mô hình tài chính phổ biến. Vì lẽ đó lãi suất trong các nước
đó đều đo nhà nứơc quy tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng .Sự biến động của
lãi suất trong các điều kiện như vậy chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của chính phủ mà không
thể dự đoán hay xác lập bất cứ quy luật vận động nào.
Trái lại trong nền kinh tế thị trường, nhà nước chỉ đóng vai trò là người điều tiết vĩ
mô, thị trường tài chính, các ngân hàng cũng như các tổ chức trung gian rất phát triển. Hơn
nữa đa số các nước này lại theo đuổi chính sách tư do hóa và cơ chế hình thành lãi suất là cơ
chế thị trường. Lãi suất vì vậy luôn biến động phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố kinh tế vĩ
mô cũng như nhiều nhân tố khác. Sau đây là một số nhân tố cơ bản và quan trọng nhất.
5.1. Thay đổi về cung cầu.
Lãi suất là giá cả của cho vay vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung hoặc cả cung
và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi suất trên thị trường.
Mọi sự thay đổi của yếu tố cung cầu về vốn đầu tư đều tác động tới sự thay đổi của lãi
suất. Khi cầu về vốn đầu tư tăng, khi cung chưa kịp tăng hoặc tăng không đủ khi đó lãi suất
sẽ tăng. Ngược lại khi cung vốn đầu tư tăng mà cầu không tăng hoặc tăng chưa đủ khi đó
lãi suất sẽ giảm. Tuy mức độ biến động của lãi suất cũng ít nhiều phụ thuộc vào các quy
định của chính phủ và ngân hàng trung ương song đa số các nước có nền kinh tế thị trường
đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất. Chúng ta có thể tác động vào cung cầu trên
thị trường vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu chiến lược
trong từng thời kỳ: chẳng hạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn đầu tư cho các
kinh tế mỗi nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thị trường thế giới. Do vậy những yếu tố
nước ngoài ảnh hưởng tới thị trường trong nước là một yếu tố tất yếu. Thị trường tài chính
mỗi nước chịu ảnh hưởng lớn bởi thị trường tài chính quốc tế, lãi suất trong nước cung sẽ
chịu ảnh hưởng bởi những biến động của thị trường tài chính cũng như nền kinh tế thế
giới.
5.6. Sự thay đổi trong chính sách của chính phủ
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
Chính phủ các nước có thể thông qua mức lãi suất để điều chỉnh cơ cấu kinh tế của
một vùng, miền, hay địa phương nào đó. Để phát triển một ngành kinh tế của một vùng
miền nào đó chính phủ có thể dùng chính sách lãi suất ưu đãi, để hộ trợ địa phương hay
vùng miền đó phát triển ngành nghề kinh tế mà chính phủ mong muốn. Chính phủ có thể
áp dụng mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất trên thị trường rất nhiều đối với những ngành
nghề, những vùng miền mà chính phủ mong muốn phát triển.
Nhưng thay đổi trong chính sách thuế của chính phủ cũng ảnh hưởng tới mức lãi suất.
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suất giống như khi
thuế tác động đến giá cả hàng hóa. Nếu các hình thức thuế này tăng lên cũng có nghĩa là
điều tiết đi một phần thu nhập của những cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay
những người tham gia kinh doanh chứng khoán. Thông thường ai cũng sẽ quan tâm đến thu
nhập thực tế, lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa. Do đó, để duy trì một mức lãi
suất thực tế nhất định họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đổi về thuế.
5.7. Lạm phát kỳ vọng.
Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu
hướng tăng. Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa
cho thấy, để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải
tăng lên tương ứng. Thứ hai, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của
mình cho việc dự trữ hang hoá hoặc những dạng thức tài sản phi tài chính khác như vàng,
ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài. Tất cả các điều này làm giảm cung quỹ cho
vay và gây áp lực tăng lãi suất của các nhà băng cũng như trên thị trường.
58. Những thay đổi trong đời sống kinh tế xã hội.
Ngoài những yếu tố được trình bày ở trên, sự thay đổi của lãi suất còn phụ thuộc
Wipv¦
Trong đó
+Wipv là lợi nhuận thuân thu được năm thứ i tính theo mặt bàng hiện tại (thời điểm
dự án bắt đầu hoạt động)
+Ivo : là vốn đầu tư tại thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động.
+RRi : Là tỉ suất lợi nhuận của vốn đầu tư vào năm i
Nếu tính bình quân của đời dự án thì:
RR
=
voI
Wpv¦
Trong đó:
+ Wpv: là lợi nhuận bình quân năm của dự án theo mặt bằng hiên tại
+ RR: là tỉ suất lợi nhuận bình quân năm. Nó có tác dụng để so sánh các dự án.
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
Nhận xét: muốn khuyến khích được nhà đầu tư đầu tư vào dự án thì RR phải cao hơn lãi
suất ngân hàng.
2. Vai trò của tỉ suất lợi nhuận đến hoạt đồng đầu tư
Xét trên góc độ vi mô: Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp. Do
vậy ở đâu có lợi nhuận kì vộng cao thì nhà đầu tư sẽ dốc vốn vào đó. Lúc này tỉ suất lợi
nhuận chính là nhân tố quyết định xem có đầu tư hay không. Mặt khác, tỉ suất lợi nhuân
vốn đầu tư phản ánh khả năng hoàn vốn của một dự án, qua đó có thể đánh giá hiệu quả
của vốn đầu tư.
Xét trên góc độ vĩ mô: Tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư càng tăng, càng có nhiều cơ
hội đầu tư, các doanh nghiệp có nhiều ý định vay vốn để tăng vốn đầu tư.Nếu tỉ suất lợi
nhuận vốn đầu tư trong một ngành , một lĩnh vực,một địa phương tăng cao sẽ dẫn đến
tổng số hàng hoá và dich vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế đó tăng lên, thu nhập
quốc dân tăng.
Công thức xác định tổng cầu AD:
AD=C + I + G + NX.
Trong đó: C: Tiêu dùng.
I: Đầu tư.
G: Chi tiêu chính phủ.
NX: Xuất khẩu ròng.
Xét theo hình 1: đường cầu AD dịch phải (AD→AD’), kéo theo sản lượng cân bằng tăng
theo (Q0→Q1), giá cả các yếu tố đầu vào của đầu tư tăng lên (P0→P1). Điểm cân bằng
dịch chuyển từ E0 đến E1.
∗Tác động đến tổng cung:
Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và cung nước
ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao
động, tài nguyên, công nghệ….,thể hiện qua phương trình:
Q = F (K, L, T, R….).
Trong đó: K: Vốn đầu tư.
L: Lao động.
T: Công nghệ.
R: Nguồn tài nguyên.
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
Như vậy, tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nền
kinh tế (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi).
Khi thành quả đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động làm cho tổng
cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng. Theo đồ thị ,tổng cung AS dịch chuyển sang phải
( AS→AS’), sản lượng tiềm năng tăng từ Q1→Q2, do đó giá cả sản lượng giảm xuống từ
P1→P2. Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng lại là nhân
tố kéo, tiếp tục kích thích sản xuất phát triển, tăng quy mô đầu tư. Sản xuất phát triển là
nguồn gốc tăng tích lũy, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng
cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Hình 1:
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
Theo công thức trên, nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào mức
tăng quy mô vốn đầu tư.
3.3. Tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành
nền kinh tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về
quy mô, tốc độ giữa các ngành, các vùng.
Quy mô vốn có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Ví dụ, đối với cơ cấu ngành, quy mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ít đều ảnh hưởng
đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề
vật chất để phát triển những ngành mới….do đó, làm dịch chuyển cư cấu ngành kinh tế.
3.Những yếu tố tác đông đến quy mô vốn đầu tư.
4.1. Lãi suất (lãi suất thực tế).
Lãi suất không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động thu hút vốn đầu tư - quyết định quy mô
vốn đầu tư thông qua việc ổn định kinh tế vĩ mô - mà còn tác động đến dòng chảy các
nguồn vốn đầu tư và mức lợi nhuận thu được tại một thị trường xác định.
Đối với lãi suất, về mặt lý thuyết lãi suất càng cao thì xu hướng tiết kiệm càng lớn và từ
đó tiềm năng quy mô, số lượng các nguồn vốn càng cao. Bên cạnh đó, nếu mức lãi suất thị
trường nội địa mà cao hơn tương đối so với mức lãi suất quốc tế thì còn đồng nghĩa với
tiềm năng quy mô vốn nước ngoài tăng và là công cụ hữu hình để chính phủ bảo vệ được
nguồn vốn nước mình, ngăn chặn được nạn đào thoát vốn ra nước ngoài.
Tuy nhiên, bản thân yếu tố lãi suất cũng có hai mặt, đó là khi tăng lãi suất cũng có nghĩa
là chi phí sử dụng vốn trong đầu tư sẽ cao hơn. Điều này sẽ làm giảm phần lợi nhuận thực
của nhà đầu tư. Dẫn đến quy mô vốn có xu hướng giảm xuống.
Vì vậy, khi sử dụng công cụ lãi suất phải hết sức cẩn trọng để xác định mức lãi suất phù
hợp, góp phần quan trọng trong việc tạo quy mô vốn phù hợp, quyết định hiệu quả huy
động vốn.
4.2.Tỷ suất lợi nhuận.
ICOR=
thực trạng cơ sở hạ tầng, những quy định của pháp luật đầu tư, nhất là những quy định có
liên quan đến lợi ích tài chính (chế độ thuế, giá nhân công….); chế độ dất đai (quy chế
thuê mướn chuyển nhượng, thế chấp, giá cả…), các loại thủ tục hành chính, tình hình
chính trị - xã hội…. Nếu những yếu tố trên thuận lợi sẽ khuyến khích được các nhà đầu tư
và thu hút được nhiều vốn đầu tư - quy mô vốn tăng. Trong việc tạo lập môi trường đầu tư
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
chính phủ giữ một vai trò quan trọng, chính phủ thường quan tâm đến những chính sách
nhằm tăng được lòng tin trong đầu tư và kinh doanh.
I. MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT, TSLN VỐN ĐẦU TƯ VÀ QUY
MÔ VỐN ĐẦU TƯ
1.Mối quan hệ giữ lãi suất vốn vay và quy mô vốn đầu tư.
Lãi suất là một công cụ tài chính quan trọng của mỗi quốc gia trong việc điều hành
chính sách tiền tệ, để thực hiện mục tiêu kinh tế của mỗi nước trong mỗi giai đoạn.
Quy mô vốn đầu tư phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố trong đó lãi suất là một trong
những nhân tố quan trọng quyết định quy mô đầu tư. Các nhà đầu tư thường đi vay vốn để
đầu tư, khi đó họ phải trả lãi suất cho các khoản vay đó, đó là giá cả của khoản tiền vay.
Khi lãi suất cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân, nhà đầu tư không thu được lợi nhuận từ
các dự án đầu tư. Khi đó sẽ có ít các nhà đầu tư vay vốn và quy mô vốn đầu tư theo đó
cũng thu hẹp . Ngược lại khi lãi suất thấp khi đó sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn, khi
đó quy mô vốn đầu tư sẽ tăng. Vì vậy có thể thấy giữa lãi suất vốn vay và quy mô vốn đầu
tư có quan hệ tỷ lệ nghịch.
Ta có thể thấy rõ mối quan hệ đó qua phương trình sau:
I = I0 – bi
Trong đó :
I : đầu tư dự kiến
i : lãi suất trung bình/ năm
Io : đầu tư tư đinh (đầu tư không phụ thuộc vào lãi suất )
b : độ nhạy cảm của đầu tư đối với lãi suất.
Ta có biểu đồ thể hiện mối quan hệ như sau:
I
càng lớn.( hay qui mô vốn đầu tư tăng) . Người ta sẽ tiếp tục đầu tư chừng nào tỉ suất lợi
nhuận biện của vốn đầu tư còn lớn hơn lãi suất. Khi tỉ suất lợi nhuận biên của vốn đầu tư
bằng lãi suất thì người ta sẽ không đầu tư nữa.
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
Việc xác định được tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư biên là rất khó nên nhà đầu tư sẽ
dưa trên kì vọng để đầu tư. Để nghiên cứu vấn đề nay, chúng ta cùng xem xét lý thuyết về
quỹ đầu tư nội bộ.
Theo lí thuyết này thì đầu tư có mối quan hệ tỉ lệ thuận với lợi nhuận thực tế.
( I=f ).do đó dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn. Vì lợi nhuận cao, thu
nhập giữ lại cho đầu tư lớn hơn và mức đầu tư sẽ cao hơn. Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy
động được bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, đi vay các loại: vay thương mại,
vay ưu đãi, vay từ người lao động. Nó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu
– đây là trường hợp huy động vốn từ bên ngoài.Tuy nhiên tong các khoản vay trên thì chỉ có
lợi nhuận giữ lại hay nhận viên trợ là cách tăng vốn đầu tư an toàn. Khi vay mượn thì phải
trả nợ, nhất là khi kinh tế lâm vào khó khăn, doanh nghiệp không kịp trả nợ sẽ dẫn đến phá
sản.
Chính vì vậy theo lí thuyết này, doanh nghiệp thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ
các nguồn vốn nội bộ, chính từ sự gia tăng lợi nhuân sẽ làm tăng vốn đầu tư của doanh
nghiệp.
4.Mối quan hệ giữa lãi suất vốn va, TSLN vốn đầu tư với quy mô vốn đầu tư
Có hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp là tỷ suất lợi
nhuận và lãi suất. Trong đó, lãi suất là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng tới quyết định của các nhà
đầu tư, tỷ suất lợi nhuận là nhân tố quan trọng chỉ cho các nhà đầu tư nên đầu tư vào đâu, lĩnh
vức đầu tư nào, quy mô vốn đầu tư như thế nào.
Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư được đo bằng lợi nhuân rong thu được chia cho qui mô vốn
đầu tư
RR =
I
π
Tỉ suất lưọi nhuận vốn đầu tư có quan hệ tỉ lệ thuận một chiều vời đầu tư I một ngành hoăc
với mỗi mức lãi suất
Vậy hiệu quả biên của vốn cho phối hợp với các điều kiện về cầu đầu tư . Đường
hiệu quả biên của vốn chính là đường cầu đầu tư. Còn lãi suất chỉ phân phối đến việc cung
ứng các khoản vốn đầu tư này.( Được thể hiện bằng đường S
V
trên đồ thị)
•
•E
E
•
•
D
v
D’
v
E’
S
v
I
I’
0
I
2
I
0
I
1
0
r
2
RR giảm => I giảm => r giảm.
Vậy khi lợi nhuận được tạo ra trên một đồng vốn tăng thêm mà tăng thì sẽ kích
thích tăng lượng cầu đầu tư, cầu đầu tư tăng lãi suất cũng tăng để cân bằng cung cầu trên
thị trường.
Giữa lãi suất và tỷ suất lợi nhuận luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, từ đó
quyết định đến quy mô vốn đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận chính là phần lợi nhuận nhà đầu tư
thu được trên một đơn vị vốn đầu tư, trong khi lãi suất lại là chi phí cho việc sử dụng một
đồng vốn đầu tư. Rõ ràng là nếu lãi suất lớn hơn tỷ suất lợi nhuận tức là chi phí / VĐT lớn
hơn lợi nhuận /VĐT thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm quy mô đầu tư và ngược lại sẽ tăng quy mô
đầu tư. Ta có thể thấy rõ mối quan hệ này thông qua phân tích đồ thị sau:
IRR
A
IRR
B
i
4
i
3
IRR
C
L·i suÊt vèn vay (i)
Quy m« ®Çu t
i
2
i
1
0
A
B
C
thì tốc độ tăng trưởng cũng chỉ đạt 4,3 %. Trong khi đó giai đoạn 1991 – 1995 khi tỷ lệ đầu
tư lên tới 22,3% thì tốc độ tăng GDP tăng mạnh lên tới 8,2%. Trong giai đoạn 1996 –
2000 tỷ lệ tỷ lệ đầu tư trong GDP đã đạt 33,2 % tốc độ tăng GDP giảm nhẹ xuống còn gần
7%. Đặc biệt trong giai đoạn 2001 – 2007 tỷ lệ đầu tư trong GDP tăng mạnh lên đến 38,8
% thì tốc độ tăng GDP là 7,62%. Sự sụt giảm của tốc độ tăng trưởng thời kỳ 1998 đến
2003 một phần là do cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực và do cơ chế chính sách
ngày càng không theo kịp với tình hình mới làm cho hiệu quả của vốn đầu tư giảm sút
nhanh, dẫn đến tỷ lệ đầu tư trong GDP tăng nhanh trong khi tốc độ tăng GDP vẫn chưa
được phục hồi so với thời kỳ trước khủng hoảng.
Qua đó, ta thấy biến động của quy mô vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng GDP là cùng
chiều. Nhưng tốc độ biến động của quy mô vốn nhanh hơn của GDP một trong số các lý do
chính là độ trễ trong đầu tư.
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
∗Phân chia đầu tư theo theo các thành phần kinh tế.
Hình 2: cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế.
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Đầu tư phát triển phân theo thành phần kinh tế bao gồm 3 khu vực là khu vực kinh tế nhà
nước (KTNN), kinh tế ngoài ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, trong
đó đầu tư của khu vực KTNN luôn chiếm tỷ trọng cao trên dưới 50% tổng vốn đầu tư toàn
xã hội. Tỷ trọng đầu tư của KTNN tăng mạnh trong giai đoạn 1998 – 2002 do việc thực thi
chính sách kích cầu của nhà nước. Trong thời gian này đầu tư của khu vực ngoài quốc
doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm. Nhưng do ảnh hưởng của khủng hoảng
ở Đông Á lượng vốn FDI vào Việt Nam giảm mạnh trong thời kỳ 1998 – 2002 nên tỷ trọng
khu vực này trong tổng vốn đầu tư chỉ còn chiếm 18,2%. Nguồn FDI mới bắt đầu tăng trở
lại từ năm 2005. Đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh cũng giảm trong giai đoạn 1997 –
2002 do ảnh hưởng của khủng hoảng ở Đông Á. Tuy nhiên tốc độ giảm của khu vực này
không nhiều do Luật Doanh nghiệp ra đời năm 2000 đã thúc đẩy đầu tư của khu vực tư
nhân. Tỷ trọng đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh tăng mạnh từ năm 2002 đã đã vượt
mức 1/3 tổng vốn đầu tư toàn xã hội..
∗Đánh giá đầu tư phát triển theo hệ số ICOR.
trọng của nguồn vốn, bởi vậy, trong bài phân tích này, nhóm chúng tôi quyết định phân
tích đề tài của mình theo nguồn hình thành vốn đầu tư.
2.Đầu tư phát triển ở Việt Nam phân theo nguồn hình thành vốn.
2.1. Nguồn vốn đầu tư xuất phát từ tiết kiệm trong nước.
∗Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước:
Bảng 2: Cơ cấu chi ngân sách nhà nước (100%) chi cho đầu tư phát triển:
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
Chi đầu tư
phát triển 27,19 31,00 30,51 32,91 30,87 30,15 28,68
Trong đó:
Chi XDCB 24,06 27,85 27,49 30,04 28,83 27,73 26,32
Nguồn: tổng cục thống kê.
Qua bảng trên ta thấy, tỷ lệ chi đầu tư phát triển trong chi ngân sách đang có xu hướng
tăng, trong chi chi đầu tư phát triển chủ yếu là chi cho xây dựng cơ bản.
Nếu xét trong tổng vốn đầu tư xã hội: Xét chung cho giai đoạn 2001_2005 vốn đầu tư từ
ngân sách chiếm 24.5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội . Trong những năm tiếp theo, vốn đầu
tư từ ngân sách tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn
xã hội.
∗Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước:
Cùng với quá trình đổi mới mở cửa, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày
càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn
2001_2005 nguồn vốn này chiếm 14% tổng vốn đầu tư phát triển. Trong những năm tiếp
theo nguồn vốn này sẽ có xu hướng cải thiện về mặt chất lượng và phương thức tài trợ
nhưng tỷ trọng sẽ không có sự gia tăng đáng kể. Ngày 19/9/2008, Thủ tướng Chính phủ
Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Nghị định số 106/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số
Điều của Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu
tư ( miễm giảm chính sách ưu đãi tín dụng ) .Tuy nhiên, cũng phải nói rõ thêm là việc điều
chỉnh lãi suất tín dụng nhà nước khác với việc điều chỉnh lãi suất của hệ thống ngân hàng
thương mại. Lãi suất của hệ thống NHTM dựa vào cung - cầu vốn trên thị trường để đưa ra
ngoài gia tăng mạnh mẽ vào Việt Nam, tuy vậy vẫn chưa thể bằng giai đoạn trước năm
1997.
Bảng 3: Vốn đầu tư nước ngoài (đơn vị: tỷ đồng).
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài (tỉ
đồng) 27172 30011 34795 38300 41342 51102 65604 129300
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Hình 3: tỉ trọng vốn trong nước và nước ngoài trên tổng vốn.