Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư với quy mô vốn đầu tư. Vận dụng để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam - Pdf 31

Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 9_LỚP KINH TẾ ĐẦU TƯ 48A:
1. LÊ THỊ QUYẾN.
2. VŨ THỊ HỒNG THẮM.
3. NGUYỄN THỊ THANH THỦY.
4. NGUYỄN THỊ THƯ.
5. LÊ HUYỀN TRANG.
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế bền vững là đích hướng tới của mọi quốc gia trên thế giới hiện nay,
dù các quốc gia đó theo những thể chế xã hội khác nhau. Nhưng để phát triển bền vững
được, các quốc gia cần phải xây dựng cho mình một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, một
nền tảng kinh tế vững chắc. Điều này chỉ có thể thực hiện thông qua đầu tư phát triển vì
đầu tư phát triển là phương thức trực tiếp làm gia tăng tài sản của nền kinh tế, tăng tiềm
lực cho mỗi quốc gia.
Việt Nam từ khi giành độc lập đến nay, luôn kiên định mục tiêu phát triển nền kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phấn đấu từ nay đến năm 2020, Việt Nam sẽ
cơ bản trở thành một nước công nghiệp, nhanh chóng giảm bớt khoảng cách so với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO
sẽ có nhiều cơ hội mà nếu nắm bắt được sẽ đưa đất nước “cất cánh” rất nhanh. Muốn vậy
cần phải có một tiềm lực kinh tế vững mạnh. Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư
đến phát triển kinh tế, Chính phủ luôn ưu tiên cho các hoạt động đầu tư phát triển. Nhưng
để thực hiện được một dự án đầu tư thì không thể không kể đến yếu tố nguồn vốn và các
yếu tố khác trực tiếp tác động tới quy mô vốn bởi vốn là yếu tố cần thiết đầu tiên khi thực
thi dự án. Nếu kiểm soát vốn tốt thì những trở ngại khác sẽ dần được khắc phục.
Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm kinh tế đầu tư chúng tôi đã quyết định chọn và
nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư với
quy mô vốn đầu tư. Vận dụng để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam”. Do thời gian
nghiên cứu và kiến thức của các thành viên trong nhóm là có hạn nên bài nghiên cứu của
chúng tôi còn có những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đọc
và các thầy cô giáo hướng dẫn để bài viết được hoàn thiện hơn.

lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước. Hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất
định của nền kinh tế mở, chính sách lãi suất còn được sử dụng như là một công cụ góp
phần điều tiết đối với các luồng vốn đi vào hay đi ra đối với một nước, tác động đến tỷ giá
và điều tiết sự ổn định tỷ giá. Điều này không những tác động đến đầu tư phát triển kinh tế
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
mà còn tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế của
nước đó đối với nước ngoài.
Dưới góc độ kinh tế vi mô: lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũng như các doanh
nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm; đầu
tư số vốn tích luỹ được vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác…
Vậy với mức lãi suất cho vay hợp lý, sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn mở rộng
và phát triển sản xuất kinh doanh cho xã hội, tăng thu nhập quốc dân, hạn chế thất nghiệp
tăng mức sống của người đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.Và khi nền kinh tế
phát triển, thu nhập quốc dân tăng, sẽ tác động trở lại kích thích đầu tư phát triển.
Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trương phát triển và theo đuổi
chính sách tự do hóa tài chính (financial liberalization), lãi suất được hình thành trên cơ sở
thị trường, tức là giữa cung và cầu về vốn trên thị trương quyết định.
3. Các lãi suất cơ bản
Mặc dù lãi suất là giá cả của tín dụng nói chung, song chúng ta lại biết rằng
tín dụng có thể được thực hiện bằng các hình thức và phương pháp khác nhau, vì vậy mà
lãi suất cũng được phân biệt thành các loại khác nhau. Dưới đây là một số loại lãi suất cơ
bản.
3.1 Lãi suất đơn
Lãi suất đơn là lãi suất được tính đối với những khoản tín dụng thực hiện dưới hình
thức vay đơn. Loại tín dụng kiểu này người vay tiền sẽ trả một lần cho người cho vay vào
ngày đến hạn trả nợ cả vốn và một khoản tiền phụ thêm chính là tiền lãi.
Việc tính lãi suất loại này chỉ đơn giản là lấy số tiền lãi chia cho tổng số vốn vay
theo thời gian của khoản tín dụng đó.
3.2 Lãi suất tích họp
Lãi suất tích họp là lãi suất có tính đến yếu tố “ lãi mẹ đẻ lãi con”. Lãi suất tích họp

Ir= hay ir = (132-27)/(27+100)
Ii + 1
Trong ví dụ này lãi suất thực xấp xỉ bằng 82,7 % và điều này cũng phản ánh đúng
một xu hướng thực tế: tỷ lệ lạm phát càng cao lãi suất thực càng thấp.
Nhân tố ảnh hưởng tới chi tiêu của cá nhân và quyết định đầu tư của các nhà đầu tư
là lãi suất thực tế
5. Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất.
Trong các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước đóng vai trò trung tâm trong
hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội. Trong các nước này thường không có thị trường tài
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
chính và tài chính kiềm chế là mô hình tài chính phổ biến. Vì lẽ đó lãi suất trong các nước
đó đều đo nhà nứơc quy tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng .Sự biến động của
lãi suất trong các điều kiện như vậy chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của chính phủ mà không
thể dự đoán hay xác lập bất cứ quy luật vận động nào.
Trái lại trong nền kinh tế thị trường, nhà nước chỉ đóng vai trò là người điều tiết vĩ
mô, thị trường tài chính, các ngân hàng cũng như các tổ chức trung gian rất phát triển. Hơn
nữa đa số các nước này lại theo đuổi chính sách tư do hóa và cơ chế hình thành lãi suất là cơ
chế thị trường. Lãi suất vì vậy luôn biến động phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố kinh tế vĩ
mô cũng như nhiều nhân tố khác. Sau đây là một số nhân tố cơ bản và quan trọng nhất.
5.1. Thay đổi về cung cầu.
Lãi suất là giá cả của cho vay vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung hoặc cả cung
và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi suất trên thị trường.
Mọi sự thay đổi của yếu tố cung cầu về vốn đầu tư đều tác động tới sự thay đổi của lãi
suất. Khi cầu về vốn đầu tư tăng, khi cung chưa kịp tăng hoặc tăng không đủ khi đó lãi suất
sẽ tăng. Ngược lại khi cung vốn đầu tư tăng mà cầu không tăng hoặc tăng chưa đủ khi đó
lãi suất sẽ giảm. Tuy mức độ biến động của lãi suất cũng ít nhiều phụ thuộc vào các quy
định của chính phủ và ngân hàng trung ương song đa số các nước có nền kinh tế thị trường
đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất. Chúng ta có thể tác động vào cung cầu trên
thị trường vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu chiến lược
trong từng thời kỳ: chẳng hạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn đầu tư cho các

kinh tế mỗi nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thị trường thế giới. Do vậy những yếu tố
nước ngoài ảnh hưởng tới thị trường trong nước là một yếu tố tất yếu. Thị trường tài chính
mỗi nước chịu ảnh hưởng lớn bởi thị trường tài chính quốc tế, lãi suất trong nước cung sẽ
chịu ảnh hưởng bởi những biến động của thị trường tài chính cũng như nền kinh tế thế
giới.
5.6. Sự thay đổi trong chính sách của chính phủ
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
Chính phủ các nước có thể thông qua mức lãi suất để điều chỉnh cơ cấu kinh tế của
một vùng, miền, hay địa phương nào đó. Để phát triển một ngành kinh tế của một vùng
miền nào đó chính phủ có thể dùng chính sách lãi suất ưu đãi, để hộ trợ địa phương hay
vùng miền đó phát triển ngành nghề kinh tế mà chính phủ mong muốn. Chính phủ có thể
áp dụng mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất trên thị trường rất nhiều đối với những ngành
nghề, những vùng miền mà chính phủ mong muốn phát triển.
Nhưng thay đổi trong chính sách thuế của chính phủ cũng ảnh hưởng tới mức lãi suất.
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suất giống như khi
thuế tác động đến giá cả hàng hóa. Nếu các hình thức thuế này tăng lên cũng có nghĩa là
điều tiết đi một phần thu nhập của những cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay
những người tham gia kinh doanh chứng khoán. Thông thường ai cũng sẽ quan tâm đến
thu nhập thực tế, lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa. Do đó, để duy trì một mức
lãi suất thực tế nhất định họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đổi về thuế.
5.7. Lạm phát kỳ vọng.
Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu
hướng tăng. Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa
cho thấy, để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải
tăng lên tương ứng. Thứ hai, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của
mình cho việc dự trữ hang hoá hoặc những dạng thức tài sản phi tài chính khác như vàng,
ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài. Tất cả các điều này làm giảm cung quỹ cho
vay và gây áp lực tăng lãi suất của các nhà băng cũng như trên thị trường.
58. Những thay đổi trong đời sống kinh tế xã hội.
Ngoài những yếu tố được trình bày ở trên, sự thay đổi của lãi suất còn phụ thuộc

Wipv¦

Trong đó
+Wipv là lợi nhuận thuân thu được năm thứ i tính theo mặt bàng hiện tại (thời điểm
dự án bắt đầu hoạt động)
+Ivo : là vốn đầu tư tại thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động.
+RRi : Là tỉ suất lợi nhuận của vốn đầu tư vào năm i
Nếu tính bình quân của đời dự án thì:

RR
=
voI
Wpv¦
Trong đó:
+ Wpv: là lợi nhuận bình quân năm của dự án theo mặt bằng hiên tại
+ RR: là tỉ suất lợi nhuận bình quân năm. Nó có tác dụng để so sánh các dự án.
Đề tài nhóm 9 Lớp: Kinh tế đầu tư 48A
Nhận xét: muốn khuyến khích được nhà đầu tư đầu tư vào dự án thì RR phải cao hơn lãi
suất ngân hàng.
2. Vai trò của tỉ suất lợi nhuận đến hoạt đồng đầu tư
Xét trên góc độ vi mô: Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp. Do
vậy ở đâu có lợi nhuận kì vộng cao thì nhà đầu tư sẽ dốc vốn vào đó. Lúc này tỉ suất lợi
nhuận chính là nhân tố quyết định xem có đầu tư hay không. Mặt khác, tỉ suất lợi nhuân
vốn đầu tư phản ánh khả năng hoàn vốn của một dự án, qua đó có thể đánh giá hiệu quả
của vốn đầu tư.
Xét trên góc độ vĩ mô: Tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư càng tăng, càng có nhiều cơ hội
đầu tư, các doanh nghiệp có nhiều ý định vay vốn để tăng vốn đầu tư.Nếu tỉ suất lợi
nhuận vốn đầu tư trong một ngành , một lĩnh vực,một địa phương tăng cao sẽ dẫn đến
tổng số hàng hoá và dich vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế đó tăng lên, thu nhập
quốc dân tăng.

Công thức xác định tổng cầu AD:
AD=C + I + G + NX.

Trong đó: C: Tiêu dùng.
I: Đầu tư.
G: Chi tiêu chính phủ.
NX: Xuất khẩu ròng.
Xét theo hình 1: đường cầu AD dịch phải (AD→AD’), kéo theo sản lượng cân bằng tăng
theo (Q0→Q1), giá cả các yếu tố đầu vào của đầu tư tăng lên (P0→P1). Điểm cân bằng
dịch chuyển từ E0 đến E1.
∗ Tác động đến tổng cung:
Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và cung nước
ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao
động, tài nguyên, công nghệ….,thể hiện qua phương trình:
Q = F (K, L, T, R….).
Trong đó: K: Vốn đầu tư.
L: Lao động.
T: Công nghệ.
R: Nguồn tài nguyên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status