Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỷ suất lợi nhuận và quy mô vốn đầu tư - Pdf 32

Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỷ suất lợi nhuận và quy mô vốn đầu tư
Chương I: Những vấn đề lý thuyết về lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi
nhuận và quy mô vốn đầu tư và mối quan hệ giữa chúng.
I – Lãi suất vốn vay
1. Khái niệm.
Lãi suất là một phạm trù kinh tế rộng và phức tạp.Kinh tế học hiện đại
có nhiều cách hiểu khác nhau về lãi suất.Chẳng hạn,lãi suất là chi phí cơ hội
của việc giữ tiền; lãi suất là phần thưởng cho sở thích tiêu dùng vv…
Tuy nhiên hiểu theo một nghĩa chung nhất thì: Lãi suất là giá cả của
vốn tiền tệ được đo bằng tỉ lệ số tiền lãi trên số tiền gốc mà người đi vay phải
trả cho người cho vay khi đến hạn phải trả, thông thường tính theo %/tháng
hoặc %/năm. Đối với người đi vay: Lãi suất vốn vay là chi phí hoặc giá của
vốn vay.Đối với người cho vay: Lãi suất là lợi tức khi cho vay vốn.Trong
nền kinh tế thị trường vốn huy động của các tổ chức kinh tế một phần quan
trọng từ các nguồn vốn vay.Vì vậy luôn phát sinh lãi suất.
2. Phân loại lãi suất
2.1 Phân loại vốn vay theo sức mua của đồng tiền:
• Lãi suất danh nghĩa là thuật ngữ tài chính và kinh tế học để chỉ
tỷ lệ lãi trên giá trị danh nghĩa của một khoản tiền vay hoặc đầu tư…với hàm
ý nó là tỷ lệ lãi chưa được điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát. Các lãi suất
được các ngân hàng niêm yết là lãi suất danh nghĩa.
• Lãi suất thực là lãi suất đã tính đến lạm phát.
Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã loại trừ lạm phát. Trên thực tế
những khoản thu nhập bằng tiền hay thu nhập danh nghĩa thường không
phản ánh đúng giá trị thực của chính khoản thu nhập đó. Tỷ lệ lạm phát hay
tỷ lệ trượt giá của đồng tiền trong một thời gian nhất định luôn làm cho giá
trị thực nhỏ hơn giá trị danh nghĩa. Vì vậy lãi suất thực luôn nhỏ hơn lãi suất
danh nghĩa bởi tỷ lệ lạm phát nói trên. Trên thực tế, tỷ lệ lạm phát sau đó có
thể khác với tỷ lệ lạm phát dự kiến nên không thể biết trước một cách chắc
chắn được lãi suất thực tế còn lãi suất danh nghĩa thì có thể biết trước được
một cách chắc chắn khi công bố.

i
: tỉ lệ lãi cơ bản ngân hàng trả cho từng loại tiền gửi khác nhau
i
n
- π
π + 1
2
• Lãi suất cho vay: bao gồm nhiều loại khác nhau tuỳ theo tính chất
của vốn vay và thời gian vay vốn, tuy vậy lãi suất cho vay thường được xác
định dựa trên lãi suất tiền gửi:
I
cv
= i
tg
+ x
I
cv
: lãi suất cho vay
i
tg
: lãi suất tiền gửi
X : chi phí nghiệp vụ ngân hàng, bao gồm tất cả các khoản chi phí
hoạt động, phát triển vốn và dự phòng rủi ro…
Đối với các nước phát triển tài chính tự do hóa, X được xác định bởi
thị trường, còn đối với những nước như Việt Nam,X được quy định bởi ngân
hàng nhà nước.
• Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay
tiền nhằm giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn trên các thị trường tiền tệ.
3
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất.

r
r*
Y* Y
Tuỳ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể và mục đích của các chính sách
nhằm ổn định kinh tế vĩ mô mà ngân hàng nhà nước có thể tác động vào
cung tiền dựa vào các công cụ:
• Lãi suất chiết khấu
5
Lãi suất chiết khấu là lãi suất mà ngân hàng trung ương cho ngân hàng
thương mại vay để giúp các ngân hàng thương mại khi gặp khó khăn về khả
năng thanh khoản. Khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu sẽ
khiến cho các ngân hàng thương mại ít vay hơn làm cho cung tiền giảm và
ngược lại.
• Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm tiền gửi mà các ngân hàng
thương mại bắt buộc phải giữ lại để đảm bảo khả năng thanh khoản cho
khách hàng, trong trường hợp số tiền người rút tăng lên đột ngột . Khi ngân
hàng trung ương tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc làm các ngân hàng thương mại
giảm mức cho vay làm giảm cung tiền và ngược lại.
• Nghiệp vụ thị trường mở
Đây là công cụ hiệu quả để tác động tới cung tiền của hầu hết các
nước trên thế giới. Tuỳ vào tình hình cụ thể của nền kinh tế và chính sách
của chính phủ mà ngân hàng trung ương thực hiện mua hoặc bán trái phiếu
chính phủ, ngoại tệ, để tăng thêm tiền trên thị trường hay rút khỏi lưu thông.
Ngân hàng bán trái phiếu và ngoại tệ, thu tiền đồng về làm giảm cung tiền.
Ngân hàng mua trái phiếu, ngoại tệ sẽ làm cho cung tiền tăng lên.
3.3. Ảnh hưởng của lạm phát kì vọng.
6
Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó,
lãi suất sẽ có xu hướng tăng . Điều này có thể giải thích bằng cả hai hướng

làm tăng lãi suất.

+ Những thay đổi của Nhà nước trong chính sách về thuế, bội chi
ngân sách…v.v.
4. Vai trò của lãi suất
4.1 Lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô
Ở góc độ vĩ mô của nền kinh tế, lãi suất vừa là đối tượng quản lý của
nhà nước, vừa là công cụ để ngân hàng trung ương điều tiết nền kinh tế vĩ
mô.
Thứ nhất : lãi suất là công cụ điều hành trong chính sách tiền tệ quốc
gia. Việc tăng hay giảm cung tiền làm thay đổi lãi suất , dẫn đến đầu tư thay
đổi, kéo theo tổng cầu thay đổi và làm sản lượng thay đổi theo. Điều này
được minh hoạ trên hình sau.
i i
i
1

i
1
i
2
i
2
Cầu tiền
8
Q
1
Q
2
Q I

Lãi suất có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Lãi suất thực tế là chi phí hay giá cả của vốn vay. Điều này khiến cho doanh
nghiệp luôn cân nhắc quyết định đầu tư mỗi khi lãi suất thay đổi. Lãi suất
thực dương ở mức cao khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn vì không đạt
được mức sinh lợi của dự án cao hơn mức lãi suất thực để có lãi và doanh
nghiệp sẽ không đầu tư. Ngược lại, nếu lãi suất thực quá thấp thì khiến cho
doanh nghiệp không bị áp lực bởi đồng vốn vay. Họ đầu tư không có chọn
lọc dễ gặp rủi ro, từ đó khiến cho hệ thống ngân hàng cũng phải gánh chịu.
Vậy lãi suất thực ở mức quá cao hay quá thấp đều không hợp lí.
10
II – Quy mô vốn đầu tư
1. Quan điểm về vốn đầu tư
Theo luật đầu tư việt nam: vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp
khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc
đầu tư gián tiếp.
Xét về phương diện toàn xã hội thì vốn đầu tư là toàn bộ giá trị nhân
lực, tài lực được bỏ thêm vào cho hoạt động của toàn xã hội trong thời gian
nhất định thường là một năm.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, đầu tư gồm:
- Đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng
và bảo vệ môi trường;
- Đầu tư cho sức khoẻ con người và phát triển trí tuệ văn hoá xã hội;
- Đầu tư khác như: đầu tư cho bộ máy quản lý nhà nước, an ninh quốc
phòng, hợp tác quốc tế,..
Suy cho cùng, đầu tư đều đưa tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhưng
tác động đến tăng trưởng kinh tế thì đầu tư ở mỗi lĩnh vực lại không giống
nhau;
Đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng
và bảo vệ môi trường có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và hiệu
quả của đầu tư cho thấy nhanh hơn, rõ ràng hơn. Chính vì vậy vốn đầu tư vào

Đầu tư là một bộ phận lớn và hay thay đổi trong chi tiêu. Do đó những
thay đổi trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác động
tới sản lượng và công ăn, việc làm. Khi đầu tư tăng lên, có nghĩa là nhu cầu
về chi tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây
dựng … tăng lên. Sự thay đổi AD
0
đến AD
1
làm cho mức sản lượng tăng từ
Y
0
đến Y
1
và mức giá cũng biến động từ P
0
đến P
1
.
Hình a: Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế.
13
P
Y
E
1
Y
1
P
0
AD
0

bị , phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm tăng khả năng sản
xuất của nền kinh tế. Sự thay đổi này tác động đến tổng cung. Trong hình b
miêu tả khi vốn sản xuất tăng sẽ làm cho đường tổng cung dịch chuyển từ
AS
0
đến AS
1
làm cho mức sản lượng tăng từ Y
0
đến Y
1
và mức giá giảm từ P
0
đến P
1
.
Cần lưu ý là sự tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăng
trưởng kinh tế không phải là quá trình riêng lẻ mà nó là sự kết hợp , đan xen
lẫn nhau, tác động liên tục vào nền kinh tế.
Hình b: tác động của vốn sản xuất đến tăng trưởng kinh tế.
14
Y
Y
1
P
P
0
P
1
E

gia nếu muốn duy trì tăng trưởng trong dài han. Việc đổi mới công nghệ của
từng nước cũng có sự khác biệt. Có nước tập trung vào tự nghiên cứu để tìm
ra công nghệ mới. cũng có nhiều nước lại sử dụng biên pháp mua công nghệ
của nước ngoài. Tuy nhiên nếu một quốc gia mua công nghệ của nước ngoài
thì cũng cần chú trọng tới việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ để có thể
chuyển giao được công nghệ mới và sử dụng có hiệu quả vào quá trình sản
xuất.
15
• Việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyết việc làm
cho người lao động.
Cùng với sự gia tăng của vốn đầu tư tức là có nhiều nhà máy, xí
nghiệp được hình thành. Trước tiên là nó giải quyết được công ăn việc làm
cho công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp đó.Ngoài ra hiệu ứng lan tỏa của
đầu tư sẽ tiếp tục tác động đến nền kinh tế đó là tạo thêm việc làm cho lao
động trong khu vực đó để cung cấp đầu vào như cung cấp nguyên liệu …
hoặc cung cầp các dịch vụ như giao thông vận tải. Đối với những nước đang
phát triển dồi dào nguồn lao động, giá nhân công rẻ có thể coi là những lợi
thế hết sức to lớn trong việc thu hút vốn đầu tư.
• Cơ cấu sử dụng vốn đầu tư là điều kiện quan trọng tác động vào
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước.
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ
chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và lượng, tùy thuộc vào
mục tiêu của nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các
bộ phận cấu thành nền kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xảy ra khi có
sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các nghành, vùng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng của nghành công
nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng của ngành nông nghiệp luôn là mục tiêu của
hầu hết các nước. Bằng các chính sách khác nhau, chính phủ luôn tìm các
biện pháp để tác động vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà đầu tư góp phần

hơn hoặc ít nhất là bằng so với mức lãi suất tiền vay phải trả. Đương nhiên,
khi lãi suất tiền vay càng tăng thì thu nhập biên càng giảm, nhu cầu đầu tư
càng giảm và ngược lại.
17

Trích đoạn Nguồn vốn đầu tư trong nước:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status