Đề tài:
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Thực trạng và giải pháp
Nhóm 15:
1. Đinh Xuân Cương
2. Trần Thị Thu Hà
3. Phạm Thị Thanh Nga
4. Nguyễn Thị Minh Quý
5. Bùi Thị Bích Thủy
6. Mai Thanh Tùng
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới hiện nay đang ở trong thời kỳ có những chuyển biến mới mẻ, mau lẹ, đột biến cả
về kinh tế, chính trị, văn hóa và khoa học kỹ thuật. Những nhân tố quan trọng nhất quyết
định sự phát triển chính là những thành tựu to lớn về khoa học công nghệ, tin học, công
nghệ sinh học, vật liệu mới… Những đóng góp to lớn của những thành tựu này trong mọi
lĩnh vực của đời sống đã hình thành nên nền sản xuất hiện đại, mà trong đó lao động cơ
bắp của con người chỉ chiến một phần nhỏ.
Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu
đưa đất nước phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nghị
quyết trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: “ Thực sự coi giáo dục đào tạo, khoa học công
nghệ là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước thời kỳ công
nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Xây dựng con người phát triển toàn diện - nhân tố
phát triển của xã hội thế kỷ 21 là mục tiêu cao cả mà cách mạng nước ta hướng tới.”
Việt Nam sẽ sớm chuyển sang giai đoạn mới của công nghiệp hóa trong những năm tới
và đòi hỏi nhiều nguồn lực cho phát triển. Phát triển nguồn nhân lực tương xứng với yêu
cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước đang là vấn đề trung tâm. Kinh nghiệm
thành công của các nước đang phát triển trong thế kỷ XX cho thấy vai trò thiết yếu của
việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực một cách chiến lược. Điều đó có nghĩa là nguồn
nhân lực trong nước phải đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các công ty trong
- Tỉ lệ người từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong dân số.
- Tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động có việc làm trong dân số.
2.2.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ
yếu sau:
2.2.1. Nhóm chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực.
Một người có sức khoẻ không đơn thuần là người đó không có bệnh tật. Sức khoẻ theo
định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần, là tổng hoà
nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.
Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khoẻ qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Tuổi thọ bình quân.
- Chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động.
- Chỉ tiêu phân loại sức khoẻ.
- Chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức
khoẻ.
- Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật: tỉ suất chết, tỉ suất dân số trong độ tuổi bị mắc
HIV/AIDS…
2.2.2.Chỉ tiêu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.
Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực,
và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trình độ văn hoá cao tạo
khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào
thực tiễn. Những chỉ tiêu đó là:
- Tỉ lệ người lớn biết chữ.
- Tỉ lệ đi học chung.
- Tỉ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực.
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó( nó biểu
hiện trình độ đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học), có khả
năng chỉ đạo quản lý một công việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn
của nguồn nhân lực được đo bằng:
Và chúng ta không thể không nhắc tới vai trò của con người trong việc sáng tạo ra những
trang thiết bị hiện đại cũng như vận hành chúng hoạt động. Nguồn nhân lực của mỗi quốc
gia nếu biết khai thác hợp lý sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển, nhất là với
những quốc gia đang phát triển, có dân số đông và nguồn nhân lực dồi dào như nước ta
hiện nay.
3.2. Nguồn nhân lực là đối tượng mà sự phát triển kinh tế xã hội phải hướng vào
phục vụ
Phát triển kinh tế xã hội cũng chính là nhằm mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc
sống của con người ngày càng tốt hơn. Con người vừa là lực lượng tiêu dùng của cải vật
chất tinh thần của xã hội, nhưng cũng chính nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động
mạnh mẽ tới sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường. Nhu cầu của
con người là vô hạn và ngày càng phong phú, đa dạng. Chính vì vậy nó đã tác động
không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế và xã hội.
B - Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
1.Quan điểm về đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn hiện tại để tiến hành
các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới, năng lực sản xuất mới, vì
mục tiêu phát triển.
Tài sản mới bao gồm tài sản vật chất (Nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, trí
năng, chuyên môn nghiệp vụ…).
Đầu tư phát triển bao gồm:
- Đầu tư tài sản vật chất (Tài sản thực)
- Đầu tư phát triển tài sản vô hình.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội dung của đầu tư phát triển
những tài sản vô hình. Nó cũng là việc chi dùng vốn hiện tại, tiến hành các hoạt động làm
tăng quy mô và chất lượng nguồn nhân lực, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một
quốc gia.
2.Nội dung của đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng việc
phát triển mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia. Gia nhập WTO không lâu,
hình thức đào tạo này.
2.1.2. Đầu tư cho việc đào tạo đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy học.
Đại hội Đảng cũng đã nhấn mạnh: “Coi đầu tư cho giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Vấn
đề là làm thế nào để có chất lượng giáo dục tốt đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Trước hết phải có một đội ngũ giáo viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm và có chuyên môn
sư phạm cao. Họ là những người hướng dẫn và truyền đạt kiến thức cơ bản cho mỗi học
viên tham gia khoá học. Nhà nước cần chú trọng hơn nữa trong việc nâng cao chuyên
môn nghiệp vụ của đội ngũ này, đặc biệt là đội ngũ giáo viên mới ra trường.
Phuơng pháp giáo dục hay còn gọi là phương pháp giảng dạy là cách thức sử dụng các
nguồn lực trong giáo dục như: giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện
vật chất để truyền đạt kiến thức cho người học.
Ở nước ta hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau
như
- Phương pháp giáo dục truyền thống: Giáo viên độc thoại, chủ động truyền đạt kĩ năng
còn người học tiếp thu kiến thức một cách thụ động. Giáo viên đọc, học sinh chép và hầu
như chỉ học lượng kiến thức mà giáo viên cho ghi, hoàn toàn không có sự sáng tạo.
- Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức còn bản thân học
sinh là người tự tìm hiểu kiến thức. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn còn học viên phải
tự học hỏi, tự tìm tòi qua sách báo và các phương tiện khác. Theo phương pháp này thì
học sinh chủ động hơn trong cách học, vì vậy tăng khả năng sáng tạo, tìm tòi của học
sinh, sinh viên.
Tuy nhiên ở nước ta thì phương pháp giáo dục truyền thống vẫn phổ biến hơn cả. Chúng
ta đã đang và dần dần thay chuyển đổi sang phương pháp học mới nhưng còn gặp nhiều
khó khăn và tồn tại không ít những bất cập. Phương pháp giảng dạy kiểu mới có nhiều ưu
điểm nhưng đòi hỏi sự hoàn thiện về cơ sở vật chất nên rất cần sự đầu tư nhiều hơn nữa
của chính phủ vào công tác này.
Đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy là hai yếu tố không nhỏ ảnh hưởng đến chất
lượng giáo dục. Đây là một trong những điều kiện quyết định để nâng cao chất lượng đào
tạo đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay. Ý thức được điều này, Nhà nước rất quan tâm
đến việc bồi dưỡng, cập nhật và vận dụng các phương pháp giảng dạy trong nhà trường
đẩy mạnh giáo dục đào tạo, trong đó có đào tạo kỹ thuật và dạy nghề. Các dự án ODA
trong giáo dục đào tạo cũng đã dành phần lớn cho giáo dục cơ bản, giáo dục đại học và
đang được triển khai với vốn vay từ các tổ chức tính dụng quốc tế như Ngân hàng thế
giới (World Bank), ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) để mở rộng và nâng cao chất
lượng của hệ thống giáo dục đào tạo của Việt Nam. Điển hình là các dự án tài trợ của
ADB cho hệ thống giáo dục cơ bản. Việt Nam đang tiến hành một dự án đặc biệt "Dự án
giáo dục tiểu học cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn" với khoản kinh phí lớn nhằm tạo mọi
cơ hội, điều kiện cho những trẻ có hoàn cảnh khó khăn được đi học.
2.2. Đầu tư cho công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ.
Chăm sóc sức khoẻ là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng
quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ. Tuy nhiên khác với một số ngành dịch vụ khác,
chăm sóc sức khoẻ có nhiều đặc điểm riêng:
- Chúng ta không thể lường trước được các chi phí y tế phải trả vì chúng ta không thể dự
đoán được thời kì mắc bệnh, đặc biệt thể trạng của mỗi người là khác nhau, do đó nguy
cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cũng khác nhau.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng thường không tự mình lựa chọn được
mà chủ yếu do các cơ sở y tế quy định.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con người nên không
giống với các nhu cầu khác, khi có bệnh, mặc dù tài chính eo hẹp nhưng người ta vẫn
phải đến các cơ sở y tế để khám chữa bệnh.
Có ba loại dịch vụ y tế :
- Dịch vụ y tế công cộng : là các dịch vụ mà lợi ích của nó không chỉ giới hạn ở việc cung
ứng trực tiếp các dịch vụ khám chữa bệnh cho người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp
cho cộng đồng như các dịch vụ phòng bệnh, giáo dục y tế.
- Dịch vụ y tế cho các đối tượng cần được chăm sóc ưu tiên: là các dịch vụ giành cho các
đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ-trẻ em, người có công với cách mạng….
- Dịch vụ y tế cá nhân : là các dịch vụ chỉ cung cấp cho người sử dụng dịch vụ.
Trong thị trường dịch vụ y tế giá dịch vụ do bên cung ứng quyết định. Do vậy, thị trường
dịch vụ y tế cũng tồn tại nhiều “ Thất bại thị trường ” không thể tránh khỏi:
- Thị trường dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo. Muốn cung ứng một dịch vụ y
2.2.2. Đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế chăm sóc sức khoẻ.
Trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả và chất
lượng của công tác y tế, do vậy cần được tăng cường cả về số lượng và chất lượng của
các thiết bị này; bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển
chuyên dụng cho các hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khoẻ.
Việc đầu tư vào lĩnh vực này cần chú ý đến những nội dung sau:
- Trang thiết bị y tế là lĩnh vực chuyên dụng và rất đắt tiền đòi hỏi yêu cầu khắt khe về kĩ
thuật, vì vậy cần có kinh phí lớn thì mới có được sự đầu tư hiệu quả.
- Đầu tư phải trọng tâm trọng điểm nhằm đạt được hiệu quả, khoa học và kinh tế. Xây
dựng kế hoạch đầu tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệ sản xuất trang thiết bị y tế trong
nước có ưu thế.
- Tạo môi trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu khoa học và công
nghệ thuộc các ngành, các địa phương tham gia sản xuất trang thiết bị y tế. Khuyến khích
dung sản phẩm trong nước, giảm dần nhập khẩu.
- Có chính sách khuyến khích ưu tiên đối với việc cử cán bộ đi đào tạo về nghiên cứu sản
xuất trang thiết bị trong nước.
Bộ Y tế thành lập cơ sở nghiên cứu với sự tham gia của các cơ sở trực thuộc nhằm nghiên
cứu khả năng ứng dụng của các trang thiết bị y tế, các phương pháp chẩn đoán điều trị
mới trên thế giới để có thể áp dụng vào Việt Nam .
2.2.3. Đầu tư cho đội ngũ cán bộ y tế.
Việc đầu tư cho cán bộ y tế là cần thiết vì các trang thiết bị chỉ là những phương tiện hỗ
trợ cho việc khám chữa và chẩn đoán bệnh tật cho người bệnh, còn lực lượng chủ chốt
trong ngành vẫn là đôi ngũ cán bộ y tế.
Cần tiến hành đầu tư cho hệ thống giáo dục đào tạo ngay từ trong nhà trường. Việc đào
tạo phải được kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, đầu tư trang bị các công cụ phục vụ
cho công tác học tập và giảng dạy. Liên quan đến tính mạng con người nên chuyên môn
của đội ngũ này có vai trò cực kì quan trọng.
Có những chính sách khuyến khích như cấp học bổng, tổ chức các chương trình du học
cho các sinh viên y khoa có thành tích học tập tốt, nhằm nâng cao chuyên môn và kinh
nghiệm.
- Tai nạn lao động: là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do kết quả của sự tác động
từ bên ngoài của các yếu tố nguy hiểm gây chết người hoặc làm tổn thương chức năng
hoạt động của một bộ phận nào đó trên cơ thể.
Tai nạn lao động không chỉ ảnh hưởng đên điều kiện vật chất mà còn ảnh hưởng đến tinh
thần của người lao động, gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp. Vì thế nhà
nước và doanh nghiệp cần có những biện pháp thích hợp để hạn chế tối đa việc xảy ra tai
nạn lao động.
- Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do ảnh hưởng và tác động thường xuyên kéo dài
của các yếu tố có hại phát sinh trong sản xuất lên cơ thể người lao động. Những người
làm việc trong môi trường độc hại, ô nhiễm thường mắc phải bệnh nghề nghiệp. Để hạn
chế vấn đề này nhà nước và các doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác bảo hộ cho người
lao động và có những chính sách ưu đãi phù hợp đối với những đối tượng này.
2.3.2.Vấn đề trả lương đúng, đủ cho người lao động.
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp
phải trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc mà người lao động cống
hiến cho doanh nghiệp.
Hàng hoá sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt. Chính vì vậy tiền lương không chỉ là
vấn đề thuần tuý về kinh tế mà còn là vấn đề xã hội rất quan trọng liên quan đến đời sống
và trật tự xã hội. Trả tiền lương không đúng và đủ cho người lao động có thể gây ra đình
công, bất mãn trong thái độ làm việc của công nhân… Từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến
quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Ở nước ta mức lương tối thiểu hiện còn chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người
lao động. Bên cạnh vấn đề trả lương đúng đủ cho người lao động, nhà nước và các doanh
nghiệp đang có những giải pháp nhất định để hoàn chỉnh vấn đề tiền lương, tạo ra động
lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình.
2.3.3. Đầu tư nhằm nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho người lao động.
Ngoài những điều kiện vật chất thì yếu tố tinh thần có ảnh hưởng không nhỏ đến năng
suất lao động. Nhận thức được điều này các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao đời
sống tinh thần của cộng nhân viên bằng các hoạt động thể thao, giải trí, văn nghệ…
Những hoạt động này đã ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng lao động và năng suất lao
đến khuyến khích đầu tư và tái đầu tư từ lợi nhuận. Ở nước ta ảnh hưởng của thuế thu
nhâp doanh nghiệp đến đầu tư chưa được thể hiện rõ nét, nhưng với các nước thu nhập
cao trên thế giới đây là yếu tố khá quan trọng khi các doanh nghiệp tiến hành đầu tư.
3.2.Các chính sách của nhà nước cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Các chính sách của nhà nước có ảnh hưởng lớn tới các hoạt động đầu tư nói chung và đầu
tư cho nguồn nhân lực nói riêng, bao gồm các chính sách đầu tư cho giáo dục, y tế, môi
trường, điều kiện làm việc…,chính sách thu hút vốn hiệu quả. Chính sách của nhà nước
có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư nhân lực.
Trong đầu tư cho giáo dục nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích học sinh sinh viên
như: học bổng, du học nước ngoài… hay các chính sách đầu tư xây đựng cơ sở vật chất
hạ tầng cũng như trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy, chăm sóc sức khoẻ…
Với mỗi giai đoạn khác nhau thì các chính sách của nhà nước cũng có những nét khác
biệt nhất định, gắn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. Trong
điều kiện CNH-HĐH nước ta hiện nay thì chính sách đầu tư cho nguồn lao động chất
lượng cao cũng không phải là điều khó hiểu. Để huy động hiệu quả nguồn vốn đâu tư,
nhà nước đã có những chính sách và giải pháp hợp lý đồng bộ như việc đa dạng hoá các
hìn thức và phương tiện huy động vốn, tạo môi truờng chính trị ổn định nhằm thu hút vốn
có hiệu quả, nâng cao hiêu quả đầu tư.
3.3.Các yếu tố quốc tế.
Hệ thống giáo dục nước ngoài là yếu tố không nhỏ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
nguồn nhân lực. Chúng ta đã liên doanh-liên kết, hợp tác-đào tạo với nhiều quốc gia có
nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, và đã thu về những thành tựu rất đáng tự hào.
Bên cạnh đó yếu tố vốn nước ngoài (chủ yếu do viện trợ chính thức ODA và đầu tư trực
tiếp nước ngoài FDI) cũng góp phần không nhỏ trong đầu tư phát triển nhân lưc. Với xu
thế toàn cầu hoá hiện nay thì yếu tố quốc tế là một trong những nhân tố có tác động trực
tiếp đến hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển nguồn nhân lực
ở Việt Nam (giai đoạn 2000-2007)
I. Thực trạng đầu tư phát triển nhân lực Việt Nam hiện nay (2000-2008)
Là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ đầu năm 2007,
khăn, vùng đồng bào dân tộc. Năm 2007,ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục đạt 66.770
tỷ đồng chiếm 20% tỷ lệ chi ngân sách Nhà nước.
Biểu đồ 2: Chi tiêu ngân sách cho giáo dục Việt Nam (tỷ đồng).
(Số liệu năm 2008 là ước tính của Bộ GD-ĐT)
( Nguồn: www.vnn.vn)
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, thu hút đầu tư từ các tổ
chức và cá nhân trong và ngoài nước. Theo ước tính, từ năm 1990 đến nay, tổng giá trị
đóng góp của các doanh nghiệp và nhà hảo tâm cho ngành giáo dục lên tới trên 1.200 tỷ
đồng và khoảng 1,5 triệu m
2
đất. Nhờ vậy, cơ sở vật chất cho ngành giáo dục ngày càng
được cải thiện, nhất là ở các vùng khó khăn. Cả nước hiện đã có 36.700 trường trong hệ
thống từ mầm non đến đại học. Đặc biệt, năm 2007 đã ghi dấu sự thành công của ngành
giáo dục và đào tạo Việt Nam khi lần đầu tiên đăng cai tổ chức thành công Olympic Toán
quốc tế lần thứ 48, với sự tham gia của 96 nước và vùng lãnh thổ. Theo Bộ Giáo dục và
Đào tạo, năm học mới 2008, cả nước có gần 22 triệu học sinh, sinh viên đến trường. Hiện
nay tổng nguồn vốn đầu tư nước ngoài đang được sử dụng trong các dự án giáo dục tại
Việt Nam là 825,4 triệu USD với tỷ lệ giải ngân năm 2007 đạt 74,15%.
Về minh bạch trong quản lý tài chính, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân thừa nhận, hệ
thống quản lý tài chính giáo dục ở VN rất phân tán. Bộ GD-ĐT chỉ quản lý khoảng 50%
nguồn tài chính cho giáo dục, còn lại là các bộ ngành địa phương trực tiếp quản lý và chi
tiêu không hề báo cáo với Bộ GD-ĐT. Vì thế, Bộ không kiểm soát được hoàn toàn việc
sử dụng tài chính giáo dục.
Nhà nước có chính sách cho cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn để trang trải các chi
phí tối thiểu cho học tập như học phí, sách vở và ăn ở. Với chính sách đổi mới mức thu
học phí và cho vay tín dụng đối với học sinh, sinh viên, nhà nước sẽ tiết kiệm được một
phần ngân sách để đầu tư cho các trường về cơ sở vật chất hoặc đầu tư trong những lĩnh
vực đào tạo cần có sự ưu tiên. Chỉ khi cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư
tốt, giáo viên có điều kiện nâng cao trình độ, khi đó mới có đủ điều kiện tối thiểu đáp ứng
nhu cầu của doanh nghiệp. Cần nhắc lại rằng, với mức đầu tư thấp như hiện nay, nhà
cường năng lực quản lý giáo dục.
Được biết, tổng đầu tư cho dự án là 64 triệu USD, trong đó có 50 triệu do Ngân hàng
Phát triển châu Á (ADB) cho vay và 14 triệu USD là nguồn vốn đối ứng của Việt Nam.
Số vốn này sẽ được đầu từ vào xây dựng 960 phòng ở nội trú cho trường vùng dân tộc
thiểu số và cung cấp đồ gỗ cho các phòng này; xây dựng và trang bị thiết bị cho 48 phòng
học mới có kèm theo công trình vệ sinh cho những nơi chưa có hoặc công trình phụ
xuống cấp cho trung tâm giáo dục thường xuyên; bồi dưỡng và nâng cao chuyên môn cho
giáo viên; đào tạo sinh viên sư phạm sắp ra trường; biên soạn 9.700 bộ tài liệu hướng dẫn
bổ trợ; xây dựng nhà công vụ cho 870 giáo viên; xây dựng và cung cấp trang thiết bị cho
112 phòng thí nghiệm và 180 thư viện mới; trao học bổng đào tạo giáo viên cho sinh viên
dân tộc thiểu số; giúp các trường xây dựng năng lực lập kế hoạch và quản lý giáo dục và
thử nghiệm phương pháp đổi mới nhằm tăng cường bình đẳng và cơ hội tiếp cận giáo dục
cho trẻ em gái và trẻ em dân tộc thiểu số.
1.1.1. Đầu tư phát triển trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.
1.1.1.1 Đầu tư cho giáo dục mầm non
Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển giáo dục mầm non, đồng thời đẩy mạnh xã hội
hóa sự nghiệp giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên
mọi địa bàn dân cư; ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục mầm non ở những xã có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn, các xã vùng núi cao, hải đảo; tăng cường phổ biến đến thức
nuôi dạy trẻ cho các gia đình, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em trước 6
tuổi, tạo điều kiện để trẻ em được phát triển toàn điện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm
mỹ và hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách.
Các loại hình cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:
- Cơ sở giáo dục mầm non công lập bao gồm các trường, lớp giáo dục mầm non do ngân
sách nhà nước đảm bảo cho đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên và
kinh phí hoạt động. Cơ sở giáo dục mầm non công lập được xây dựng chủ yếu ở các xã
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa
trong danh mục được Thủ tướng Chính phủ quy định.
- Cơ sở giáo dục mầm non bán công bao gồm: Các cơ sở giáo dục mầm non do Nhà nước
đầu tư cơ sở vật chất ban đầu, các cơ sở giáo dục mầm non ở vùng nông thôn trước đây
thiếu nhiều đồ dùng đồ chơi phục vụ cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ.
“Năm 2005, tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ, nhóm đạt 15%; trẻ từ 3 đến 5 tuổi đến
lớp mẫu giáo đạt 58%; trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 92%; tỷ lệ các cơ sở giáo dục
mầm non đạt chuẩn quốc gia đạt 9%. Đối với các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc
biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, nâng tỷ lệ trẻ từ 3
đến 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 43% năm 2005. Hiện cả nước có 1640 xã vùng dân tộc và
miền núi chưa có trường mầm non.” (Theo Dantri.com)
Nguồn vốn đầu tư phát triển giáo dục mầm non gồm: vốn từ ngân sách Nhà nước bố trí
trong chương trình mục tiêu quốc gia và dự toán chi thường xuyên hàng năm theo phân
cấp quản lý ngân sách và các nguồn hợp pháp khác.
Ở Nam Định,
Nhà nước hỗ trợ 30 triệu đồng cho trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, 10
triệu đồng/1 phòng học kiên cố được xây dựng mới; cấp 10 triệu đồng/trường/năm để chi
hoạt động và mua sắm dụng cụ dạy học. Năm 2007, nâng mức hỗ trợ giáo viên ngoài
công lập từ 100.000đ/tháng lên mức 200.000đ/tháng và đóng BHXH, BHYT cho giáo
viên theo mức lương 450.000đ. Công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non được đẩy mạnh,
các huyện, thành phố đã dành nguồn ngân sách cho hoạt động chuyên môn và mua sắm
thiết bị phục vụ việc dạy và học. Các xã, phường, thị trấn ngoài nguồn ngân sách ưu tiên
còn có nhiều hình thức huy động sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân Năm 2005 quy
mô trường lớp phát triển vững chắc: có 256 trường mầm non; số trẻ trong độ tuổi ra nhà
trẻ đạt 48,56%, mẫu giáo đến trường đạt 93%; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở các độ tuổi
giảm; 100% trẻ trong các trường được học theo đúng chương trình quy định; đội ngũ cán
bộ quản lý và giáo viên Mầm non được củng cố, bảo đảm về số lượng, chuẩn hóa về
trình độ đào tạo. Từ nguồn hỗ trợ của tỉnh, cộng với học phí được thu theo thỏa thuận với
cha mẹ học sinh, mức thu nhập của giáo viên ngoài công lập đã đạt khoảng 450.000
đ/tháng đến 800.000đ/tháng. Giáo viên mầm non nghèo được hỗ trợ xây dựng nhà ở từ
quỹ “Vòng tay đồng nghiệp”. Việc xây dựng trường, lớp, mua sắm trang thiết bị cho giáo
dục Mầm non cũng được đầu tư đáng kể. Kết thúc năm học 2006- 2007 đã có 136 trường
mầm non được xây dựng kiên cố, 90% trường có đủ nước sạch. Việc xây dựng các
trường đạt chuẩn quốc gia được các địa phương hưởng ứng mạnh mẽ, đã có 57 trường
có hoàn cảnh khó khăn'' bắt đầu được thực thi từ ngày 12/10/2004. Điều này có nghĩa là
200 triệu USD do các nhà tài trợ cung cấp đã đến với hơn 4.200 trường học chính và gần
15 nghìn trường điểm ở Việt Nam
Đối với vùng sâu vùng xa, Bộ GD-ĐT cũng đang tiến hành cung cấp miễn phí sách giáo
khoa và báo cho trẻ em dân tộc. Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở những vùng không
được triển khai hỗ trợ vẫn được nhận hỗ trợ. Mỗi điểm trường cử thêm 1 nhân viên hỗ
trợ cho những học sinh mà tiếng mẹ đẻ không phải tiếng Việt. Mỗi trường tiểu học còn
được nhận 500 USD/năm để hỗ trợ trực tiếp cho HS khó khăn mua quần áo ấm, bữa ăn
bán trú
Với bậc THCS và THPT, tới năm 2004, 33 tỉnh đã có trường học 2 buổi/ngày nhưng hiện
nay ở các thành phố lớn đang bị quá tải nên cần phải đầu tư mở rộng gần 10.000 trường
THCS và 1.000 trường THPT, đồng thời xây dựng thêm trường mới. Bộ GD-ĐT sẽ phối
hợp với các bộ ngành liên quan để tìm nguồn vốn 25.200 tỉ đồng phục vụ kiên cố hóa
trường lớp học và xây dựng nhà công vụ cho giáo viên. .
Tại Bắc Ninh, đến nay toàn tỉnh có 146/150 trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức I,
chiếm 97% (toàn quốc dưới 30%); 15 trường tiểu học đạt chuẩn mức II và vào năm học
mới 2008-2009 có thêm 7 trường đạt chuẩn mức II. Tỷ lệ phòng học kiên cố tính đến hết
năm học 2007-2008 là trên 90%; số phòng học có bàn ghế đạt chuẩn (1-2 chỗ ngồi) 90%;
phòng học có bảng chống loá, điện chiếu sáng 100%; số trường có phòng Tin học 48
Tại Hà Nội, đến năm 2005: phát triển 100% trường tiểu học và 50% trường trung học tổ
chức học sinh học tập và hoạt động cả ngày trong trường; phổ cập bậc trung học ở 12
quận nội thành; đảm bảo giáo viên các bộ môn ở các cấp học, ngành học đáp ứng yêu cầu
đồng bộ tập thể sư phạm nhà trường " Hoàn thành quy hoạch chi tiết mạng lưới trường
học của các quận, huyện; xây dựng cơ sở vật chất theo hướng kiên cố hoá, chuẩn hoá,
hiện đại hoá. Tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường nề nếp kỷ cương, ngăn chặn,
khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục Năm học 2002-2003, thành
phố đã huy động được 1.361.632 học sinh đến trường (không kể khối dạy nghề), tăng
31.737 học sinh so với năm học trước. Trong đó, học sinh tiểu học phổ thông cao nhất
422.517, học sinh giáo dục trẻ khuyết tật thấp nhất 2.250 học sinh.”
Tại Tiền Giang, từng bước sẽ đầu tư máy vi tính cho các trường chuẩn quốc gia với
trường đại học và 68 cơ sở là Viện nghiên cứu.Nếu phấn đấu đạt chỉ tiêu số sinh viên đại
học chiếm 200/10.000 dân, tăng quy mô đào tạo sau đại học lên 38.000 học viên cao học,
15.000 nghiên cứu sinh vào năm 2010 thì mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng đào tạo
sẽ còn gay gắt hơn nhiều. Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tuyển chọn để gửi đào tạo 2.500
tiến sĩ giảng cho các trường đại học, cao đẳng, trong đó đào tạo ở nước ngoài 1.000 và
trong nước là 1.500 người. Ngoài ra, khuyến khích các cơ sở GD ĐH thực hiện các hoạt
động nghiên cứu khoa học, tư vấn và chuyển giao công nghệ để tăng nguồn thu. Tuy
nhiên, so với nhu cầu của ngành GD, hàng năm các cơ sở GD vẫn thiếu kinh phí để đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất.
Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tính đến tháng 7/2007, cả nước có 325 Học viện, trường
ĐH, trường CĐ, trong đó có 155 ĐH, Học viện, trường ĐH; 170 trường CĐ (gồm cả các
trường thuộc khối an ninh quốc phòng). Có 54 trường ĐH, CĐ ngoài công lập.Tổng số
sinh viên CĐ, ĐH năm 2006 – 2007 là 1.415.563 (tăng 10,21% so với năm 2005 – 2006).
Tỉ lệ sinh viên/giảng viên bình quân trung của cả hệ thống giáo dục ĐH năm học 2006 –
2007 là 27,15 sinh viên/1 giảng viên. Khối các trường ngoài công lập, bình quân 31,1
sinh viên/giảng viên.
Chế độ, chính sách, lương và phụ cấp của giáo viên những năm vừa qua cũng đã có sự
cải tiến, điều chỉnh lên mức cao nhất trong khu vực hành chính sự nghiệp, cải thiện đáng
kể thu nhập, giúp họ phấn khởi, yên tâm phục vụ sự nghiệp giáo dục. Các chính sách
khuyến khích đối với sinh viên giỏi, sinh viên nghèo vượt khó cũng đã được áp dụng
như: chế độ học bổng cho các đối tượng thuộc chính sách xã hội, học bổng cho các sinh
viên học giỏi, thực hiện tín dụng sinh viên, miễn học phí cho các sinh viên theo học tại
các trường sư phạm.
Bộ Tài chính đề xuất về giải pháp cân đối ngân sách nhà nước, nên nghiên cứu xây dựng
cơ chế đấu thầu đặt hàng của Nhà nước đối với đào tạo ĐH, theo đó Nhà nước sẽ ban
hành các tiêu chí, tiêu chuẩn và yêu cầu về giáo dục đại học để tất cả các cơ sở GDĐH
đều được tham gia vào quy trình tuyển chọn, đấu thầu, qua đó lựa chọn được những cơ
sở có phương án đào tạo tốt nhất, hiệu quả nhất để giao kinh phí NSNN cho đào tạo,
không phân biệt trường công lập hay ngoài công lập. Huy động các nguồn lực từ xã hội,
vay tín dụng nước ngoài để bổ sung nguồn vốn cho phát triển GDĐT, xây dựng cơ sở vật