Đề tài "Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp và tình hình đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước" pot - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đ ề tài
"Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
và tình hình đầu tư phát triển trong
doanh nghiệp nhà nước"
1
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Đề tài 1
"Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp và tình hình đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà
nước" 1
MỤC LỤC 2
Lời mở đầu
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay,khi vừa gia nhập WTO còn gặp nhều
khó khăn và thử thách, cũng theo đánh giá của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX về định hướng phát triển các thành phần và các vùng kinh tế ở nước ta trong
giai đoạn 2001 – 2010, Đảng ta khẳng định cần phải tiếp tục đổi mới và phát triển kinh
tế nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Kinh tế nhà nước là lực
lượng vật chất quan trọng và là công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng và điều
tiết vĩ mô nền kinh tế; tập trung đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và một số
cơ sở công nghiệp quan trọng. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền
kinh tế, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất, chất
lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật. Phát triển doanh nghiệp nhà
nước trong những ngành sản xuất và dịch vụ quan trọng, xây dựng các công ty nhà
2
nước đủ mạnh để làm nòng cốt trong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh
tranh trên thị trường trong nước và quốc tế,đưa nước ta đi lên,hội nhập kinh tế thế giới
và khu vực.
Với vị trí của các doanh nghiệp đang ngày càng được khẳng định trong nền kinh tế
quốc dân, mà đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước thì nội dung đầu tư phát triển đã trở
thành một vấn đề cần phải được quan tâm hàng đầu. Trong thời gian qua đầu tư phát

số tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra, có thêm nhà máy, trường học, bệnh viện, máy móc thiết bị,
sản phẩm được sản xuất ra, tăng thêm sức lao động bao gồm cả số lượng và trình độ chuyên
môn nghiệp vụ và sức khoẻ).
Vậy,đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư,là việc sử dụng vốn trong hiện tại
và hoạt động nào đó,là việc đánh đổi lợi ích trước mắt lấy lợi ích lâu dài nhằm tạo ra những
tài sản mới,năng lực sản xuất mới và vì mục tiêu phát triển.
Xét về bản chất,đầu tư phát triển chính là đầu tư tài sản vật chất (nhà xưởng,thiết bị )
và tài sản trí tuệ (tri thức,kĩ năng,sức lao động ) trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến
hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền
kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều
kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là
việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và
lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường
xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực
hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và bổ sung tài sản.
2. Phân loại đầu tư phát triển
Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện
nhằm đạt những mục tiêu nhất định.Tùy từng quan điểm,tùy từng góc độ xem xét có thể chia
đầu tư phát triển thành nhiều loại.Trên quan điểm phân công lao động xã hội,có hai nhóm đối
tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.Trên góc độ tính chất và mục
đích đầu tư,đối tượng đầu tư chia làm hai nhóm chính là đầu tư công trình vì mục tiêu lợi
nhuận và đầu tư công trình vì mục tiêu phi lợi nhuận. Trên góc độ xem xét mức độ quan
trọng, đối tượng đầu tư chia làm thành:loại được khuyến khích đầu tư, loại không được
khuyến khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư. Từ góc độ tài sản,đối tượng đầu tư chia thành:
những tài sản vật chất (tài sản thực) là những tài sản cố định được sử dụng cho sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp,của nền kinh tế và có cả những tài sản lưu động;và những tài sản vô
hình như phát minh sáng chế, uy tín, thương hiệu
II- Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
1. Khái niệm
Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia,là một lĩnh

-Thời gian thực hiện đầu tư dài còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố không dự đoán ảnh
hưởng đến quá trình thực hiện: môi trường, điều kiện tự nhiên .pháp lý.kinh tế ,chính trị. Điều
này có thể thay đổi kết quả và hiệu quả của đầu tư.
c,Thời gian của hoạt động đầu tư phát triển kéo dài nên mang tính rủi ro cao.Vì vậy cần
phải phân tích kỹ để loại trừ hạn chế tới mức thấp nhất các rủi ro như:
-Trong trường hợp rủi ro nhất thì hiệu quả của dự án là bao nhiêu;những rủi ro nào có thể
xảy ra nhất.
-Trong trường hợp thuận lợi nhất thì hiệu quả đạt được bao nhiêu để bù lại trong trường
hợp rủi ro.
5
Tuy nhiên đối với những yéu tố rủi ro bất định, bất khả kháng thì chúng ta phải chấp nhận
d, Các thành quả của các hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm,có
khi hàng năm ,hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế
giới (Kim tự tháp cổ Aicập, Nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn lý thường thành ở Trung
Quốc,Ăngcovat của Cămpuchia…). Điều này nói lên giá trị lớn của các thành quả hoạt động
đầu tư phát triển .
e, Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở
ngay nơi mà nó được tạo dựng nên.
Do đó các điều kiện về địa lý, địa hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện
đầu tư cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư.
Thí dụ: qui mô đầu tư để xây dựng nhà máy sang tuyển than ở khu vực có mỏ than tùy
thuộc rất nhiều vào trữ lượng của mỏ than.Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì qui mô của nhà
máy cũng không nên lớn để đảm bảo cho nhà máy hang năm hoạt động hết công suất với số
năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án.
Vì thế cần có chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư đúng đắn và đầu tư phải theo quy
hoạch ,kế hoạch ,cần phải có cơ sở khoa học để lựa chọn địa điệm thực hiện dự án để có thể
khai thác tối đa lợi thế của địa diểm mà doanh nghiệp hoạt động trên đó. Nếu công trình
không tiến hành cẩn thận có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế không chỉ một hai năm
mà lâu dài.
f, Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao đòi hỏi phải

lượng và thời gian hàng tương ứng, thì không cần phải thiết lập lượng tồn kho dự phòng. Số
lượng tồn kho dự phòng ngoài việc chịu ảnh hưởng của sự bất ổn định về nhu cầu và cung
ứng, còn liên quan đến việc doanh nghiệp hy vọng đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng.
Đây là nhân tố xem xét chính khi đưa ra quyết sách cề lượng tồn kho dự phòng.
- Tồn kho vận chuyển: là sự tồn kho giữa hai đơn vị công tác hoặc hai tổ chức tiêu thụ gần
nhau, bao gồm lượng tồn kho trong quá trình vận chuyển và lượng tồn kho tạm dừng giữa hai
nơi.Tồn kho vận chuyển được quyết định bởi số lượng lô vận chuyển và thời gian vận chuyển.
- Lượng tồn kho dự định theo thời kỳ: do đặc điểm mang tính thời vụ của nhu cầu hoặc tính
thời vụ của việc mua sắm, nên doanh nghiệp buộc phải sản xuất, tích trữ và bán hàng vào mùa
bán ế để duy trì và tăng cường phục vụ khách hàng vào mùa bán hàng chạy, hoặc tăng cường
lượng tồn kho của mùa thu hoạch. Do vậy, nguyên nhân quyết định lượng tồn kho dự định
theo thời kỳ, ngoài chi phí mang tính cơ hội của việc khan hàng hết hàng, còn phải xét đến chi
phí tăng thêm khi sản xuất ổn định (chi phí khấu hao, khi thiết bị sản xuất ngừng nghỉ, lương
công nhân rảnh rỗi và các chi phí phát sinh khác…).
Dựa trên cơ sở thực tiễn, vai trò của hàng dự trữ được biểu hiện trong mối quan hệ
giữa việc khống chế lượng hàng dự trữ trong kho và hai loại nhu cầu: nhu cầu độc lập và nhu
cầu phụ thuộc:
-Nhu cầu độc lập: là nhu cầu do thị trường quyết định .Ví dụ: nhu cầu đối với các thành phẩm
như xe ô tô, máy giặt gia dụng và linh kiện dễ hỏng như tấm phanh xe, vòng đệm cao su.
Những nhu cầu này lúc nào thì sẽ nảy sinh? Mỗi lần bao nhiêu? Không theo kế hoạch sắp xếp
của doanh nghiệp, nó được gọi là nhu cầu độc lập. Tuy nhiên với phạm vi dao động và xu
hướng thay đổi nhất định trong một khoảng thời gian cùng những đặc trưng thay đổi, nhu cầu
này có thể dự đoán thông qua những số liệu lịch sử và các nhân tố tương quan khác.
-Nhu cầu phụ thuộc: Là nhu cầu do nhu cầu của sản phẩm cuối cùng hoặc hạng mục khác
quyết định, nó có thể đoán trước và có thể khống chế được. Ví dụ như: với một số lượng máy
giặt cần sản xuất cho trước, thì số lượng nhu cầu của nguyên vật liệu hoặc linh kiện như thùng
giặt, máy định giời, động cơ điện, hoàn toàn có thể được quyết định căn cứ vào linh kiện, vì
vậy nó được gọi là nhu cầu phụ thuộc.
7
Tóm lại: Nhu cầu xuất phát từ bên ngoài doanh nghiệp hay từ thị trường là nhu cầu độc

hàng cung cấp, khách hàng sẽ chuyển sang đặt hàng của doanh nghiệp khác, và hơn nữa, uy
tín của doanh nghiệp cũng bị tổn hại nghiêm trọng. Từ góc độ sản xuất, trong quá trình sản
xuất, thiếu hàng dẫn đến việc ngừng sản xuất đợi nguyên liệu, ứ đọng bán thành phẩm, kéo
dài thời gian giao hàng và dẫn đến ngưng ca…chi phí của nó được tính lần lượt với ảnh
hưởng của hoạt động tương ứng.
b) Tài sản cố định
Nghị định số 199/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 3/12/2004 về quy chế quản lý tài
chính của công ty Nhà nước và quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp khác có
quy định, tài sản của công ty Nhà nước bao gồm: tài sản cố định (tài sản cố định hữu hình, tài
sản cố định vô hình, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản dở dang và
8
các khoản ký cược, ký quỹ dài hạn); tài sản lưu động (tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản lưu động khác và chi sự nghiệp) mà công ty
Nhà nước có quyền chiếm hữu sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp luật.
Như vậy có thể thấy tài sản cố định hữu hình là một trong những tài sản quan trọng bậc
nhất của doanh nghiệp. Nó là những tư liệu lao động có thời hạn sử dụng tương đối dài và có
giá trị lớn. Trong quá trình sản xuất kinh doanh hình thái vật chất của tài sản cố định hầu như
không thay đổi, còn giá trị giảm dần trong suốt thời gian tồn tại, do cả hao mòn hữu hình và
hao mòn vô hình.
* Phân loại tài sản cố định:
Nhà cửa và vật kiến trúc: Gồm nhà xưởng kho bãi, văn phòng và các công trình có cùng
mục đích. Chúng tạo ra không gian sản xuất, vận hành quản lý và lưu trữ hàng hoá hoặc
nguyên vật liệu. Là tài sản cố định có thời gian khấu hao khá dài, có thể lên đến 30, 50 năm.
Máy móc thiết bị công nghệ : Bao gồm tất cả máy móc thiết bị, hệ thống dây chuyền. Là
bộ phận tài sản cố định hữu hình có hàm lượng khoa học công nghệ cao và có sự đổi mới
nhanh chóng. Hiện nay những dây chuyền hiện đại được khấu hao chỉ trong vòng từ 2 đến 4
năm.
Phương tiện vận tải : Ngoài chi phí ban đầu chi phí vận hành, chi phí nhiên liệu xăng dầu
chiếm một tỷ trọng đáng kể và cần được tính đến trong quá trình vận hành.
Các công cụ, dụng cụ quản lý, thiết bị đo lường và kiểm định. Đây là các máy móc có giá trị

động đầu tư cho hệ thống phương tiện giao thông vận tải mà còn phải chú trọng vấn đề bảo
hiểm tài sản, đặc biệt đối với cả các loại hình phương tiện vận tải đường thuỷ như tàu thuỷ xà
lam cũng như đối với các phương tiện cơ giới đường bộ thường xuyên phải đối mặt với các
rủi ro khác.
3.2. Nội dung đầu tư phát triển cho tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp
a) Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm:
+ Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch công trình chuẩn bị đầu tư
+ Chi phí thiết kế và xây dựng
+ Chi phí mua sắm lắp đặt thiết bị
+ Các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán và chi phí dự phòng( bằng 10 % tổng dự
toán).
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản có thể chia ra theo các mục sau:
a. Chi phí xây dựng và lắp đặt bao gồm:
+ Chi phí phá huỷ tháo dỡ các vật kiến trúc cũ.
+ Chi phí san lấp mặt bằng xây dựng.
+ Chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công.
+ Chi phí xây dựng các hạng mục công trình như làm mới mở rộng cải tạo và khôi phục các
công trình xây dựng.
+ Chi phí lắp đặt thiết bị bao gồm việc lắp đặt trang thiết bị vật dụng, các hoạt động thăm dò
phục vụ cho hoạt động lắp đặt đó.
+ Các chi phí di chuyển thiết bị thi công và vật liệu, lực lượng xây dựng.
10
b. Chi phí mua sắm thiết bị máy móc bao gồm:
+ Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ và các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm việc,
sinh hoạt.
+ Chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho lưu bãi chi phí
bảo quản bảo dưỡng tại kho chi phí gia công sửa chữa chi phí kiểm tra thiết bị máy móc khi
tiến hành lắp đặt.
+ Các loại thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình cần thiết.

khẩu dây chuyền sản xuất phù hợp. Ba là thực hiện việc tiếp nhận công nghệ của dây chuyền
máy móc trang thiết bị.Bốn là thực hiện việc nghiên cứu triển khai để có thể sản xuất dây
chuyền máy móc dựa vào công nghệ được tiếp nhận.
Về ĐTPT phần mềm của KHKT_CN ở doanh nghiệp có nghĩa là hoạt động ĐTPT
nguồn nhân lực, phát triển công nghệ bao gồm thương hiệu, bí quyết kinh doanh, uy tín…và
phát triển cơ cấu thể chế tổ chức
Về công nghệ cần tiến hành nội dung như sau: thứ nhất là doanh nghiệp có thể mua công
nghệ theo các cách khác nhau đó là:
+ Mua đứt công nghệ tức là công nghệ thuộc quyền sở hữu độc quyền của doanh nghiệp,
doanh nghiệp là người duy nhất có quyền quyết định về công nghệ đó. Từ đó doanh nghiệp có
khả năng sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ hiệu quả nhất, tốt nhất, tạo lợi thế cạnh tranh cao
nhất cho doanh nghiệp. Tuy nhiên trong thực tế các doanh nghiệp nước ta hiện nay thực thi
điều này là rất khó, mặt khác việc mua đứt công nghệ thường gặp rủi ro lớn vì chưa hẳn công
nghệ là tốt nhất.
+ Mua quyền sử dụng công nghệ: doanh nghiệp thường áp dụng hình thức này bởi hình thức
này có ít rủi ro hơn và tốn ít chi phí hơn. Tuy nhiên doanh nghiệp phải chấp nhận đối thủ của
mình cũng sở hữu công nghệ như mình và sức ép cạnh tranh là rất lớn. Nhưng ít ra nó cũng
giúp cho doanh nghiệp có những lợi thế hơn so với những sản phẩm không có công nghệ đó
hoặc lợi thế giá thành do công nghệ giúp khai thác tối đa những nguồn lực mà đối thủ không
có.
+ Và ngoài ra doanh nghiệp còn có thể đầu tư vào nghiên cứu phát minh ra công nghệ mới
hay có sự cải tiến trong việc sử dụng hay tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Về nhân lực: cần tiến hành những nội dung cụ thể như dân chủ hoá KHKT_CN, xây
dựng một chiến lược tổng thể rõ ràng nhằm phát triển thị trường lao lao động theo hướng đẩy
mạnh tính hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho lao động tự do dịch chuyển, hỗ trợ lao động
có chuyên môn kĩ thuật cao. Bên cạnh đó là những hoạt động ĐTPT nguồn nhân lực như mở
lớp đào tạo nhân lực, cử người đi học ở các quốc gia phát triển…
Về cơ cấu tổ chức và thể chế doanh nghiệp: để phục vụ cho phát triển KHCN cũng cần
tiến hành theo những nội dung như: đổi mới chính sách ưu đãi với các hoạt động nghiên cứu
và đổi mới công nghệ, đổi mới cơ chế trích khấu hao TSCĐ và cơ chế trích lập quỹ ĐTPT của

những hoạt động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
+ Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao
động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai
của doanh nghiệp.
Các lý do chủ yếu để doanh nghiệp tiến hành phát triển nguồn nhân lực, đó là:
+ Để đáp ứng yêu cầu của việc tổ chức hay nói cách khác là để đáp ứng nhu cầu tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
+ Để đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của người lao động trong doanh nghiệp.
+ Đào tạo và phát triển là những giải pháp có tính chiến lược tạo ra lới thế cạnh tranh cho
doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp đầu tư phát triển nguồn nhân lực thì doanh nghiệp đã mang lại cho
mình nhiều lợi ích trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình như:
+ Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc.
+ Nâng cao chất lượng của việc thực hiện công việc.
+ Giảm bớt sự giám sát vị người lao động được đào tạo có khả năng tự giám sát.
+ Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức.
13
+ Duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực.
+ Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kĩ thuật và quản lý vào doanh nghiệp.
+ Tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
+ Ngoài ra, đối với người lao động thì phát triển nguồn nhân lực thể hiện ở chỗ: tạo ra được
sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp, tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao
động, tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như tương lai, đáp
ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động, và tạo cho người lao động có cách
nhìn cách tư duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao
động trong công việc.
Chính vì những lý do trên mà các doanh nghiệp hiện nay đã chú trọng vào phát triển
nguồn nhân lực, coi hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực như là một hoạt động thường
xuyên và quan trọng của doanh nghiệp.
Ở nước ta thì hầu hết các doanh nghiệp để phát triển nguồn nhân lực mới chỉ sử dụng

+ Nguồn nhân lực
+ Các yếu tố khác
III- Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước
1. Vài nét về doanh nghiệp nhà nước
1.1 Khái niệm
Theo điều luật 1 chương 1 của bộ luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 đã qui định Doanh
nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu vốn điều lệ hoặc có cổ phần,vốn góp
chi phối,được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước,công ty cổ phần,công ty trách nhiệm
hữu hạn .
Hay theo khoản 22 điều 4 luật Doanh nghiệp năm 2005 Doanh nghiệp nhà nước là
doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
1.2 Phân loại
Có nhiều tiêu chí để phân loại DNNN như dựa vào hình thức tổ chức DN,nguồn luật áp
dụng cho việc tổ chức và hoạt động của DN , nhưng nhóm chúng tôi sẽ chỉ phân loại dựa
vào mức độ vốn NN đầu tư tại DN.
* DN 100% vốn NN là những DN mà NN đầu tư toàn bộ vốn ĐL để thành lập, được hình
thành dưới các hình thức (Tổng) công ty NN, công ty cổ phần NN và công ty TNHH NN ( 1
và 2 thành viên).
* DN có cổ phần, vốn góp chi phối của NN là những DN mà NN đầu tư trên 50% VĐL và
NN giữ quyền chi phối DN đó. Mức độ và các vấn đề chi phối được quy định trong điều lệ
DN. Các DN này tồn tại dưới các hình thức: Công ty cổ phần, công ty TNHH (ngoài cổ đông
chính là NN có cổ phần chi phối còn có các cổ đông, thành viên khác có thể là nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài)
1.3 Đặc điểm của DNNN trong nền kinh tế thị thường.
Hoạt động kém hiệu quả của các DNNN. DNNN là các cơ sở kinh doanh do nhà nứoc sở hữư
hoàn toàn hoặc một phần.Quyền sở hữu thuộc về nhà nước là dặc trưng cơ bản nhất ,phân biệt
DNNN với các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân. Đặc trưng này quy định sự kiểm soát của
chính phủ bao gồm quyền chủ đạo và quyền can thiệp vào hoạt động kinh doanh.
15
Do vậy,người quản lý DNNN không có quyền linh hoạt đối phó với những điều kiện thay

lịch sử,bảo vệ phong cảnh thiên nhiên…Những sản phẩm náy được coi là thuộc về cộng
đồng ,chính phủ phải chi phí đảm bảo giao thông đường thuỷ,bảo tồn các di tích lịch sử và
phong canh thiên nhiên,khu vực tư nhân không thể cung cấp vì nó không có quyền sở hữu
chúng ,vì vậy DNNN phải đảm nhiệm.
Chính phủ phải luôn có trách nhiệm trước những ngành thuộc kết cấu hạ tầng ,tạo cơ sở
cho sự phát triển toàn bộ nền kinh tếb trong đó có khu vực tư nhân,sản xuất những hàng hoá
này đòi hỏi cũng lớn,vốn thu hồi chậm nên không hấp dânc các khu vực tư nhân.Chính vì phái
đảm nhận việc cung cấp những loại hàng hoá này nên thu nhập tài chính của DNNN thường
được đánh giá thấp hơn thu nhập thực tế,vì không tính đến những lợi ích bên ngoài doanh
nghiệp.
2.Các chỉ tiêu đánh giá kết quả đầu tư phát triển trong doanh nghiêp nhà nước
16
Với số lượng ngày càng đông, sự đóng góp của doanh nghiệp vào GDP chung của đất
nước ngày càng tăng. Năm 2005, mức đóng góp này là 53% GDP. Bên cạnh đó, đầu tư hàng
năm của doanh nghiệp chiếm khoảng 55% trong tổng đầu tư chung của cả nước, và tỷ trọng
này đang ngày càng có xu hướng tăng lên. Các doanh nghiệp cũng đã giải quyết việc làm mới
cho trên 541 ngàn người mỗi năm .
Số lượng doanh nghiệp nhà nước hiện chỉ còn chiếm 3,61% tổng số doanh nghiệp trong
cả nước. Tuy nhiên, nếu so sánh với khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước vẫn là khu vực thu hút khá đông lao
động (gần 32,7%), tập trung nguồn vốn lớn nhất (hơn 54%), có lợi nhuận cao (hơn 41%) và
đóng góp nhiều nhất vào ngân sách nhà nước (gần 41%).
Nếu như năm 2000 cả nước có 5.759 doanh nghiệp nhà nước, đến cuối năm 2005 còn
4.086 doanh nghiệp. Số lượng giảm nhưng quy mô doanh nghiệp ngày càng tăng lên. Số vốn
bình quân một doanh nghiệp nhà nước năm 2000 là 130 tỷ đồng đến 2005 tăng lên 355 tỷ
đồng; tương tự số lao động đã tăng từ 363000 người lên 499000 người.
Trong khi đó, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng rất nhanh về số lượng. Năm 2000
mới có 35.004 doanh nghiệp hoạt động, đến 2005 đã lên đến 105.569 doanh nghiệp, mỗi năm
tăng trung bình 14.113 doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu cơ bản như lao động bình quân
năm 2005 là 32 người/doanh nghiệp tăng không đáng kể so với mức 30 người năm 2000; số

Tổng vốn
Chỉ tiêu này phản ảnh cứ một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo
được bao nhiêu đồng thuế nộp vào ngân sách nhà nước. Tỷ suất thuế trên vốn phản ánh rõ nét
hiệu quả đóng góp của doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế quốc dân.
2.3. Thu nhập bình quân của người lao động

Tổng thu nhập của lao động
Thu nhập bình quân NLĐ = x100%
Số lao động bình quân
Nâng cao thu nhập người lao động là tiêu chuẩn để đánh gía doanh nghiệp nhà nước hoạt
động có hiệu quả, điều này xuất phát từ mục đích của nền kinh tế xã hội nước ta. Chú ý rằng,
tăng thu nhập bình quân của người lao động đánh giá tích cực khi tốc độ tăng của nó phải nhỏ
hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Bởi vì, chỉ đảm bảo tốt nguyên tắc đó mới đảm bảo tái
sản xuất mở rộng và việc nâng cao thu nhập người lao động mới bền vững.

2.4. Tỷ suất giữa lợi nhuận với tổng vốn
Lợi nhuận hoạt động sau thuế
Tỷ suất giữa lợi nhuận = x100%
với tổng vốn Tổng vốn
Lợi nhuận hoạt động= [Doanh thu - Tổng chi phí chưa trừ chi phí trả
lãi] [1 - Thuế suất thuế lợi tức]
= Lợi nhuận sau thuế + chi phí lãi vay [ 1 - Thuế suất thuế lợi tức]
=> Tỷ suất giữa lợi nhuận với tổng vốn =
Lợi nhuận sau thuế + Chi phí lãi vay [1-Thuế suất thuế lợi tức]
18
x 100%
Tổng vốn
Cách tính lợi nhuận trên tổng vốn trình bày trên có ưu điểm:
- Chi phí lãi vay được trừ ra khi tính lợi nhuận hoạt động nên tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn
sẽ không bị tác động của nguồn tài chính tài trợ cho hoạt động.Sự biến động của chỉ tiêu này

2.6. Tỷ suất giữa lợi nhuận với thị giá cổ phần
Lợi nhuận một cổ phần
19
Tỷ suất giũa lợi nhuận với = x 100%
Thị giá cổ phần Giá thị trường một cổ phần
Trong đó:
Lợi nhuận một cổ phần = lợi tức mỗi cổ phần + mức tăng giá mỗi cổ phần
Tỷ suất giữa lợi nhuận với thị giá cổ phần trực tiếp phản ảnh hiệu quả đầu tư của cổ đông
vào doanh nghiệp, hiệu quả này về cơ bản chỉ đạt được trên cơ sở hiệu qủa hoạt động mà
doanh nghiệp tạo nên.Chỉ tiêu này đạt ở mức cao sẽ thu hút mức độ hưởng ứng và tham gia
đầu tư của đông đảo công chúng. Điều đó dẫn đến kết qủa là giá trị cổ phần của doanh nghiệp
trên thị trường ngày càng cao, thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp.
Hiện nay nước ta đang đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước. Trong tình hình này sẽ hình thành những DNNN cổ phần (DNNN giữ cổ phần chi
phối, khống chế) việc sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên thị giá cổ phần là thước đo quan
trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN cổ phần.
2.7. Tỷ lệ giữa nguồn vốn tự bổ sung với nguồn vốn kinh doanh
Tỷ lệ giữa nguồn vốn tự bổ sung với nguồn vốn kinh doanh =
Nguồn vốn tự bổ sung
= x 100%
Nguồn vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của nguồn vốn tự bổ sung trên nguồn vốn kinh doanh.
Cụ thể cứ một đồng vốn kinh doanh có bao nhiêu đồng vốn tự bổ sung, thông qua đó phản
ánh được tình hình bảo toàn và phát triển vốn. Tình hình bảo toán và phát triển vốn của doanh
nghiệp về cơ bản chỉ có thể đạt được khi hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao.
2.8. Tỷ số nợ
Nợ phải trả
Tỷ số nợ = x 100%
Tổng vốn
Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ phần trăm sử dụng nợ (vay dài hạn, ngắn hạn, chiếm dụng) để

những chỉ tiêu hiệu quả phản ảnh đặc thù của từng ngành như : năng suất cây trồng, suất sản
phẩm súc vật, số khách hàng được dịch vụ bình quân một giờ
Chương 2
Thực trạng tình hình đầu tư phát triển
trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
I.Một số vấn đề trong doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam
1. Tình hình doanh nghiệp nhà nước đến cuối năm 2005
1.1 Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đầu tư ra ngoài ngành
21
Hiện nay, do Nhà nước chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ hoạt động này nên có nhiều công
ty Nhà nước huy động vốn quá lớn, dư nợ phải trả cao gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu, dẫn đến
khả năng thanh toán không đảm bảo, ảnh hưởng đến an ninh tài chính.
Số liệu mới nhất cho biết, trong số 70 tập đoàn, tổng công ty (TCT) thì có 30 đơn vị có hệ
số nợ phải trả trên vốn vượt trên 3 lần, thậm trí nhiều doanh nghiệp vượt trên 20 lần như Tổng
công ty Xây dựng công trình giao thông 5 gấp 42 lần, Tổng công ty Xây dựng công trình giao
thông 1 gấp 22,5 lần, Tổng công ty Lắp máy Việt nam gấp 21,5 lần, Tập đoàn công nghiệp
Tàu thuỷ Việt Nam gấp 21,8 lần
Ngoài ra, một số doanh nghiệp huy động vốn từ các công ty tài chính, ngân hàng có vốn góp
của tập đoàn, TCT Nhà nước cũng rất rủi ro do được hưởng nhiều ưu đãi như không bắt buộc
phải có đủ tài sản đảm bảo cho khoản vay, thủ tục vay vốn đơn giản … dễ dẫn đến đổ vỡ dây
chuyền khi mất khả năng thanh toán.
Trong khi đó, do quy định không hạn chế phạm vi ngành nghề, lĩnh vực và quy mô đầu tư
vốn ra ngoài doanh nghiệp nên trong thời gian vừa qua nhiều DNNN đã góp vốn đầu tư hoặc
mua cổ phần, vốn góp tại nhiều doanh nghiệp khác, phân tán vào nhiều lĩnh vực kể cả không
thuộc lĩnh vực ngành nghề chủ yếu. Đáng chú ý, một số tập đoàn, TCT đã dành một lượng
vốn khá lớn đầu tư vào ngân hàng, bảo hiểm hoặc mua bán cổ phiếu trên thị trường.
Theo báo cáo của 70 tập đoàn, TCT thì có tới 28 đơn vị hoạt động đầu tư chứng khoán,
thành lập công ty chứng khoán, đầu tư vào công ty quản lý quỹ, ngân hàng thương mại, công
ty bảo hiểm với giá trị đầu tư là 23.344 tỷ đồng, chiếm 8,7% vốn chủ sở hữu và 20% tổng số
vốn đầu tư ra ngoài.Cụ thể, Tập đoàn Dầu khí đầu tư 5.780 tỷ đồng, trong đó ngân hàng 1.100

đầu tư mạo hiểm,các quĩ chứng khoán hoặc công ty đầu tư chứng khoán thì phải điều chỉnh
giảm trong vòng 2 năm.
Trong một hội thảo mới đây về vấn đề này, nhiều DN là tập đoàn kinh tế và TCT có ý
kiến xin xem xét mở rộng tỷ lệ đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp. Tuy nhiên, Bộ Tài chính
vẫn giữ ý kiến, doanh nghiệp cần phải dành tối thiểu 70% tổng nguồn vốn kể cả vốn chủ sở
hữu và vốn vay để đầu tư ngành nghề kinh doanh chính; đối với việc đầu tư ra ngoài doanh
nghiệp cho những ngành nghề khác khống chế ở mức 30% là phù hợp.
1.2 DNNN là lực lượng nòng cốt của thành phần kinh tế nhà nước, đảm bảo vai trò
chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân
Doanh nghiệp nhà nước là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp
38% GDP, chiếm 33% tín dụng và đóng góp 10% tổng việc làm của cả nước. Trong những
năm qua, tỷ trọng đầu tư của khu vực này trong tổng mức đầu tư toàn xã hội vẫn được duy trì
theo các năm, đóng góp rất lớn về đầu tư trong tổng đầu tư của xã hội. Đây là nguồn vốn các
doanh nghịêp chủ động trong việc huy động và sử dụng theo đúng yêu cầu của các doanh
nghịêp. Nguồn vốn này được tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, bổ sung thiết bị
để nâng cao công suất, chất lượng sản phẩm và một phần dùng để đầu tư xây dựng mới, mở
rộng sản xuất kinh doanh. Nếu nguồn vốn huy động được từ doanh nghiệp nhà nước được sử
dụng có hiệu quả hơn sẽ góp phần trực tiếp cho tăng trưởng nhanh kinh tế, nâng cao sức cạnh
tranh trong từng sản phẩm.

Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng (giá năm 2000)
1996-2000 2001 2002 2003 2004 2005 2001- 2005
Tổng vốn
đầu tư
toàn xã
hội
555 160,4 173,2 189,3 208,0 230,0 960,9
% 100 100 100 100 100 100 100
Đầu tư 97,3 26,3 27,1 31,4 38,1 45,3 168,2
23

động lớn hoạt động trong lĩnh vực kinh tế Nhà nước, bao gồm hệ thống hành chính quốc gia
và các doanh nghiệp Nhà nước (SOE). Khi chính phủ cải tổ bắt đầu nói về việc chuyển đổi
hình thức hệ thống doanh nghiệp không hiệu quả này thì "vương quốc" các doanh nghiệp NN
đã có tới 12.231 thành viên vào cuối những năm 1989.
Lịch sử sẽ không bao giờ quên một số những doanh nghiệp tiên phong đã châm mồi cho
cỗ máy cổ phần hóa của đất nước. Những doanh nghiệp này, lần đầu tiên kể từ năm 1946, đã
thay đổi hình thức doanh nghiệp để trở thành một đơn vị hoạt động độc lập do thị trường điều
tiết và thu nhập từ hiệu quả hoạt động. Việc chuyển đổi từ khu vực NN đáng kể nhất, mở ra
quá trình cổ phần hóa rung chuyển toàn bộ đất nước hiện nay bắt đầu với việc ban hành Quyết
định số 143-HĐBT vào ngày 10/5/1990, 3 năm sau ngày khởi động quá trình Đổi Mới. Tuy
24
nhiên, kế hoạch thử nghiệm không thành công. Trong giai đoạn thử nghiệm 4 năm, từ 6/1992
đến 5/1996, chỉ có một số công ty NN được cổ phần hóa: công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận
chuyển (Bộ GTVT); công ty cổ phần giày Hiệp An (Bộ Công nghiệp); công ty chế biến thức
ăn gia cầm (Bộ NN&PTNT); xí nghiệp cơ điện lạnh (Bộ Công nghiệp); công ty chế biến thức
ăn xuất khẩu Long An (UBND tỉnh Long An). Rõ ràng, kết quả đáng buồn này đã gây thất
vọng cho chính phủ, và cần thiết phải có chỉnh sửa toàn bộ. Một kế hoạch tổng thể để cải tổ
các doanh nghiệp NN được thực thi, theo đó đã đưa ra một số biện pháp cải tổ DNNN. Có thể
kể ra đây các biện pháp như cải tổ, sáp nhập, bán, cho thuê, và cổ phần hóa.
Số lượng DNNN đã giảm tới 5.571 vào cuối năm 2000, và tới 4.479 năm 2003. Khoảng
3.100 DNNN được sáp nhập vào các công ty khác. Khoảng 3.350 doanh nghiệp bị giải thể.
Khoảng 950 doanh nghiệp được thuê lại, hoặc được bán. Một số tổng công ty lớn hơn được
thành lập để thu nhận nhiều doanh nghiệp thành viên. Theo con số thống kê, vào cuối năm
2001, 17 tổng công ty đã thu nhận 1.605 doanh nghiệp thành viên, chiếm khoảng 65% lượng
vốn quốc gia và 61% lượng lao động của toàn bộ các DNNN. Từ đó, hàng năm một số lượng
lớn các doanh nghiệp cổ phần hóa đã được sáp nhập thành các tổng công ty dưới hình thức
các thực thể góp vốn. Những con số trên đây được minh họa bởi bảng sau.
Số lượng công ty
Vốn pháp định
(tỉ đồng)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status