LUẬN VĂN: Mục tiêu và phương hướng tiếp tục đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước pot - Pdf 11


LUẬN VĂN:
Mục tiêu và phương hướng tiếp
tục đổi mới và phát triển doanh
nghiệp nhà nước

Lời nói đầu

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh : Kinh tế Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để
Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp Nhà nước giữ
vững những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu
gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật.
Trong 30 năm từ năm 1960 đến năm 1990, số lượng doanh nghiệp Nhà nước
tăng lên nhanh chóng. Cũng trong 30 năm đó, chúng ta đã liên tục đổi mới, cải tiến
quản lý doanh nghiệp Nhà nước nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng yếu

b- đánh giá về thực trạng vai trò của dnnn trong nền kinh tế quôc dân .
1-Vai trò hết sức quan tr5ọng của DNNN trong nền kinh tế quốc dân .
2- Những tồn tại về hiệu quả hoạt động của DNNN.
C - NHữNG TồN TạI TRONG Đổi mới cơ chế ,chính sách đối với DNNN.
1-DNNN chưa thực sự hach toán kinh doanh trong cơ chế thị trường .
2-DNNN còn bị nhiều trói buộc,chưa thực sự được tự chủ trong kinh doanh phù
hợp với cơ chế thị trường như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
3-Cơ chế ,chính sách tiền lương và phân phối lợi nhuận để lạI DNNN chưa thực sự
tạo được động lực cả với cong nhân và người quản lý.
4-Chế thuế còn bất hợp lí cần được tiếp tục bổ sung và sửa đổi,ổn định trong một
thời gían nhất định.
5-Việc cổ phần hoá,đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong doanh nghiệp,với mô
hình công ty cổ phần có vốn của nhà nước chi phối hoặc tham gia,còn nhiều
vướng mắc và cơ chế tiến hành.
6-Các tổng công ty (TCT) còn gặp nhiều vướng mắc trong thực tiễn ,hạn chế việc
thực hiện chức năng nhiệm vụ.
7-Chưa có chính sách hữu hiệu để giảI quyết tình trạng nợ nần không có khả năng
thanh toán ,tình tràng lao động dôI dư lớn và đổi mới công nghệ vốn đã quá cũ kĩ
,lạc hậu ở các DNNN.
8-Nhiều chủ trương đổi mới của đảng đối với DNNN được thể chế hoá và đưa
vào thực hiện chậm ,hoặc chưa được thể chế hoá.
D-Nguyên nhân chủ yếu của tình hình.
1-Về mặt khách quan:
2-Về mặt chủ quan:
II- mục tiêu và phương hướng tiếp tục đổi mới và phát triển doanh nghiệp
nhà nước
A-mục tiêu tiếp tục đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước.

6.1.Đẩy mạnh sắp xếp các tổng công ty Nhà nước
6.2.Tạo lập cơ chế chính sách để hoàn thiện và phát triển mô hình tổng công ty
Nhà nước với tư cách là doanh nghiệp Nhà nước đặc biệt, là lực lượng chủ lực
trong nền kinh tế.
7-Thành lập công ty đầu tư tài chính của nhà nước.
8-Bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với các hình thức chuyển đốỉ sở hữu của
doanh nghiệp nhà nước.
9-Bồi dưỡng, đào tạo đôị ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp Nhà nước.
I-thực trạng đổi mới dnnn.
Bên cạnh những kết quả đạt được,việc đổi mới và phát triển có hiệu quả khu
vưc doanh nghiệp nhà nươc đang là khó khăn, phức tạp nhất trong sự nghiệp đổi
mới kinh tế ,là thử thách lớn đối với chúng ta .
Trong thực tế đang có hiện tượng đánh giá vai trò của doanh nghiệp nhà nước
thiếu khách quan hoặc thiên về nhấn mạnh các mặt yếu kém ,đI đến cho doanh
nghiệp nhà nước là một gánh nặng ,một sự cản trở đối với sự phát triển kinh
tế;hoặc có sự ngần ngại thiếu kiên quyết trong việc thực hiện sắp xếp gắn liền với
đổi mới cơ chế chính sách ,hiện đại hoá công nghệ và quản lí số doanh nghiệp
100% vốn nhà nước,đồng thời tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp không cần
giữ 100%vốn,chuyển hẳn sang hoạt động dưới dạng công ty cổ phần có vốn của
nhà nước chi phối hoặc tham gia ,chần chừ trong việc chuyển sở hữu hẳn,hoặc
chuyển hình thức sở hữu DNNN có qui mô nhỏ.

cấp,khoanh nơ,giảm khấu hao tàI sản cố định,miễn giảm thuế, hỗ trợ để giảI quyết
lao động dôI dư…)để duy trì và phát triển như công ty dệt Nam Định,công ty Dệt
8/3,công ty Dâu tằm tơ,công ty Gang thép TháI Nguyên,công ty Phân đạm và hoá
chất Hà Bắc…
Trong 10 năm (1991-2000)ngân sách nhà nước đã đầu tư thêm cho DNNN
41.535 tỷ đồng ;miễn giảm thuế 2.550 tỷ,khoanh nợ thuế và các khoản nộp ngân
sách 300 tỷ đồng, xoá nợ1.088 tỷ đồng,khoanh nợ 3.392 tỷ đồng…
Mặc dù giảm khá mạnh về số lượng DNNN,năng lực sản xuất của khu vực
DNNN vẫn tiếp tục tăng;sản xuất có tóc độ tăng trưởng khá;tỷ trọng GDP tăng từ
40,07% năm 1995 lên 41,23% năm1998,và 40,25 năm 1999;chiếm trên 62%giá trị
xuất khẩu;đóng góp 39,25%(kể cả thuế xuất nhập khẩu,thuế tiêu thụ đặc biệt thì là
60%)tổng nộp ngân sách nhà nước.thời kì 1991-1995 , khu vực DNNN ,nhất là
trong công nghiệp ,có tốc độ tăng trưởng khá cao(tốc độ tăng trưởng của công
nghiệp quốc doanh năm 1992 là 20,6%,1993 là 13,6%);Thời kì 1996-1999, do
những nguyên nhân khác nhau,đặc biệt là khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực
thiên tai trên diện rộng nên tốc độ tăng trưởng của khu vực DNNN có giảm
sút;DNNN đáp ứng phần lớn nhu cầu sản phẩm quan trọng trong khi các thầnh
phần kinh tế khác chưa vươn lên kịp; góp phần quan trọng phát triển kinh tế và giữ
vững ổn định chính trị, xã hội

2-Về đổi mơI cơ chế ,chính sách đối với DNNN.
Đã bước đầu hình thành khuôn khổ pháp lý với một hệ thống các văn bản luật
và dưới luật, nhằm chuyển các DNNN sang kinh doanh theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước;xoá dần bao cấp;xác lập dần quyền tự chủ và cạnh
tranh,chịu sự đIều tiết của quan hệ cung - cầu trong kinh doanh theo cơ chế thị
trường;được huy động các nguồn vốn để đầu tư phát triển; xây dựng các quĩ đầu tư
, phúc lợi và khen thưởng phụ thuộc vào kết quả sản xuất,kinh doanh; phân phối

gian đã được tổ chức gọn lại thành 18 tổng công ty 91( sau đó chuyển tổng công ty
đá quí sang tổng công ty 90,nên nay còn 17 doanh nghiệp) và 76 công ty 90, bao
gồm 1.605 DNNN thành viên ,chiếm 28,4 % tổng số các doanh nghiệp,65% tổng
số vốn nhà nước,61% tổng số lao động của khu vưc DNNN.
Sau từ 3-6 năm từ ngày thành lập,nhiều TCT đã thay đổi phương thức hoạt
động so với liên hiệp xí nghiệp trước đây.Nói chung, ở mức độ khác nhau, đã thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ như:Bước đường xây dựng định hướng phát
triển TCT để trình Thủ Tướng Chính phủ (với tổng công ty 91) hoặc Bộ trưởng
,chủ tịch ,uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố (với tổng công ty 90)xem xét ,phê duyệt
,làm căn cứ định hướng đổi mới đầu tư công nghệ;chỉ đạo hoạt động,phân công thị
trường và phối hợp giữa các doanh nghiệp thành viên;sắp xếp lại một số bộ máy
tổ chức của khối văn phòng TCT và một số đơn vị thành viên,lập và tổ chức thưc
hiện sau khi phê duyệt các phương án sắp xếp lại sản xuất, cổ phần hoá một số
đơn vị thành viên ;tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất ở một
số khâu then chốt;quản lý và tiến hành tập trung công tác nghiên cứu khoa
học;;ban hành các định mức kinh tế kĩ thuật (mức trần) để các đơn vị thành viên
vận dụng; sửdụng tập trung được một số vốn nhất định từ nguồn trích khấu hao,từ
3 quĩ trích từ lợi nhuận để lại của doanh nghiệp,hoặc vốn ODA,để đầu tư phát
triển một số dự án trọng điểm hoặc hỗ trợ cho các đơn vị thành viên theo định
hướng chiến lược đã trình;quản lí giá thông qua ban hành giá trần đối với các loại
vật tư mua vào và giá sàn đối với các sản phẩm doanh nghiệp thành viên sản
xuất;tập trung và hỗ trơ hiệu quả một số doanh nghiệp gặp khó khăn;đứng ra bảo
lãnh vay vốn cho các doanh nghiệp tạI các ngân hàng khi thực hiện đầu tư theo sự
phát triển chung của tổng công ty hoặc kí quĩ bảo lãnh khi tham gia đấu thầu quốc
tế;tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thành viên trao đổi kinh nghiệm
trong quá trình sản xuất kinh doanh;quản lí công tác qui hoạch và đào tạo lại
nguồn nhân lực,bồi dưỡng và nâng cao trình độ cán bộ quản lí.

trong các DNNN cổ phần hoá.Từ thực tế kinh nghiệm cùng với việc bổ sung, hoàn
thiện các qui định sẽ tạo đà cho cổ phần hoá mạnh hơn
3.3- Triển khai việc giao ,bán và khoán kinh doanh,cho thuê các DNNN có qui
mô nhỏ.
Trên cơ sở của việc co hiệu quả trong việc giao,khoán kinh doanh và cho thuê
những DNNN loạI nhỏ,đã ban hành nghị định 103/1999/CP để làm cơ sơ pháp cho
thực hiện. Đến 5/2001,đã thực hiện hình thức này với 52 DNNN (bán 33 ,giao 17,
khoán 2),chủ yếu dươI hình thức công ty cổ phần(46/52).sau khi thực hiện,tính
chung doanh thu,nộp ngân sách, số lao động và thu nhập của người lao động đều
tăng lên .
b- đánh giá về thực trạng vai trò của dnnn trong nền kinh tế quôc dân .
1-Vai trò hết sức quan tr5ọng của DNNN trong nền kinh tế quốc dân .
Nhìn lại quá trình lịch sử ,chúng ta đi lên từ cơ sở vật chất, kĩ thuật rất nghèo
nàn lạc hậu ,nền kinh trế mất cân đối trầm trọng ,lực lượng thù địch bao vây cấm
vận kinh tế triệt để .Trong hoàn cảnh đó, chúng ta đã xây dựng một nền kinh tế
độc lập tự chủ bằng biện pháp huy động một nguồn lực lớn cuả đất nước và viện
trợ quốc tế để xây dựng cơ sỏ vật chất kĩ thuậtcho nền kinh tế quốc dân dưới hình
thức các DNNN làm nòng cốt,cùng với khu vực kinh tế hợp tác xã làm nền tảng
đáp ứng những nhu cầu của xã hội.
Thực tiễn đã chứng minh:trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ,nếu không
phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã để xây dựng hậu phương vững
mạnh ,giải quyết hậu cần tại chỗ,thì không thể huy động tổng lực của dân tộc chi
viện cho tiền tuyến để tiến tới thắng lợi hoàn toàn.Sau khi thống nhất đất nước
,nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi lệnh bao vây cấm vận kinh tế của đế quốc
Mỹ,sự duy trì quá lâu của cơ chế tập trung quan liêu,bao cấp trong điều kiện xây
dựng hoà bình và sau đó là sự tan rã của hệ thóng XHCN.Đại hội VI đã đề ra chủ
trương đổi mới và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ,có sự quản lý

phần áp đảo trong huy động vốn chiếm 80% thị phần và cho vay 74% thị phần đối
với nền kinh tế.
+Các DNNN đã góp phần quan trọn vào việc điều tiết quan hệ cung - cầu,ổn
định , giá cả ,chống lạm phát,ổn định tỷ giá,khắc phục mặt trái của nền kinh tế thị
trường.
+DNNN chiếm một phần rất quan trọng trong xuất nhập khẩu;trong đó DNNN
giữ tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế xuất khẩu ;riêng công nghiệp năm 1999 đã
xuất khẩu được 6,17 tỷ USD (chủ yếu do các DNNN),chiếm 54% tổng kim nghạch
xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế,Tổng công ty lương thực Mìên Nam xuất khẩu
gạo chiếm 60-70% so với cả nước.
+Đóng góp nguồn thu tập trung lớn và ổn định cho ngân sách Nhà nước: năm
1999 phần thu thuế từ DNNN ( Thuế VAT,thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền sử
dụng vốn) chiếm 39,25% ;riêng 17 TCT 91 năm 1999 nộp ngân sách 23.487 tỷ
đồng,tăng 20,7% so với năm 1998.Năm 2000,DNNN chiếm 39,2 % tổng thu ngân
sách cả nước.
+Trong khi nhà nước không đủ vốn ngân sáchd cấp vốn lưu động cho kinh
doanh của DNNN theo qui định thì nhiều danh nghiệp đã tiết kiết kiệm ,hình thành
vốn tự bổ sung,năng động tìm nguồn vốn bên ngoài bao gồm vốn vay của các tổ
chức tín dụng và vay của công nhân viên trong doanh nghiệp.
Vốn tự tích luỹ ,tự bổ sung chiếm 27,8% tổng vốn nhà nước của DNNN.Đến
cuối năm 2000,vốn tự bổ sung của 17 TCT là 18.038 tỷ đồng, chiếm 22,5% tổng
số vốn nhà nứoc của các TCT 91.
+Trong lúc các thầnh phần kinh tế khác chưa vươn lên được thì DNNN là đối
tác chính trong liên doanh ,liên kết với bên ngoàI ;đồng thời DNNN cũng thực
hiện hạ tầng kĩ thuật cần thiết để thu hút các doanh nghiệp có vốn trong và ngoàI
nước đầu tư.
+ DNNN đã tạo ra điều kiện vật chất kĩ thuật ,kỹ thuật,là một trong những nhân
tố có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp
bộ nền kinh tế .
Hiện khu vực DNNN được giao cho sử dụng một số lượng lớn tài sản cố định
trong nền kinh tế khoảng 126.030 tỷ đồng);được giao khai thác 100% các tài
nguyên tập trung có qui mô lớn và hầu hết tài nguyên quý hiếm;được giao sử dụng
với chi phí thấp ,mặt bằng đất đai rộng lớn và thuận lợi về địa điểm,nhất là ở các
đô thị;sử dụng 85% vốn ưu đãi tín dụng trong nước,khoảng 80% dư nợ vay của
ngân hàng ngoại thương ,xấp xỉ 80% vay của ngân hàng Đầu tư và 62% của ngân
hàng công thương ;một bộ phận lớn vốn ODA cho phát triển nghành điện và một
số lĩnh vực sản xuất ;sử dụng phần lớn lực lượng do nhà nước đào tạo,gồm cả cán
bộ khoa học công nghệ có trình độ cao và các cơ sở nghiên cứu ứng dụng lớn của
đất nưóc;được sự quan tâm của lãnh đạo đảng ,Nhà nước ,và các đoàn thể ,một số
trường hợp được xét giảm thuế ,khoanh nợ,giãn nợ,xoá nợ khi gặp khó khăn.
Nhưng hiệu quả hoạt động của DNNN còn thấp và một số mặt còn có phần
giảm sút ,ảnh hưởng đến vai trò chủ đạo của DNNN và hiệu quả chung cùa toàn
bộ nền kinh tế:
+Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước những năm 1996- 1999 giảm: năm 1996
11,2% ,1997 9,3% ,năm 1998 9,1% ,năm 1999 9,2% .Tỷ suất lợi nhuận trên vốn
của nhà nướccủa DNNN địa phương rất thấp (năm 1998, của DNNN trung ương
là 13%, của DNNN địa phương là 6,4 %).
Năm 1999 tỷ suất lợi nhuận trên vốn của Công ty Máy động lực và Máy nông
nghiệp là 3%/năm,của nghành dệt ,sơị là 1,57% /năm;của TCT công nghiệp tầu
thuỷ năm 1998 là 3,9%,1999 là 1,9%;của DNNN thuộc thành phố Hồ Chí Minh
năm1995 là 9,3% năm 1998 là 7,13%;của các DNNN thuộc thành phố Hải Phòng
năm 1998 là 7,87%, năm 1999 là 4,74 %.
Số DNNN thua lỗ và ngày một tăng ,hầu hết là nhữnh doanh nghiệp nhỏ,ít vốn;
măc dù nhà nước đã có những biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp
như cấp vốn bổ sung ,chuyển nợ thành vốn ngân sách cấp,cho giảm khấu hao tai

Số doanh nghiệp thua lỗ kéo dàI nhiều năm thực chất là ăn vào vốn hoặc mất
vốn nhưng không được xử lý cứ treo lại ,do đó càng tăng thêm gánh nặng đối với
ngân sách nhà nước.
Giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp còn cao là do nhiều nguyên nhân như:
yếu kém về quản lý ,chi phí đầu tư cao công nghệ lạc hậu,số lao động quá thừa và
bậc thợ thấp ,phải gánh các chi phí xã hội quá cao….
+Phần lớn các cơ sở có công nghệ lạc hậu;80% công nghệ lạc hậu so với các
nước vài ba chục năm,thậm chí 50 năm.Đổi mới thiết bị công nghệ.Riêng trong
công nghiệp ,10 năm qua mới đầu tư đổi mới công nghệ được khoảng 15-18% giá
trị tài sản cố định ,nhưng nhiều DNNN lại tiếp tục nhập công nghệ lạc hậu;đến
giữa năm 1999chỉ có 70 DNNN dược cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO –
9000; đến tháng 5/2000 có 236 DNNN được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn
ISO –9000 trong tổng số 400 doanh nghiệp được cấp.
+Nhìn chung chất lượng và giá cả nhiều hàng hoá sản xuất trong nước còn kém
sức cạnh tranh ngay cả trong thị trường trong nước ; như sắt thép ,phân bón ,xi
măng ,kinh xây dựng ,đường thô…có mức giá cao hơn giá mặt hàng cùng loạI
xuất khẩu từ 20-40%,sản phẩm dệt may có giá nhân công giẻ nhưng giá sản phẩm
cũng không có sức cạnh tranh so với các sản phẩm trong khu vực .Sức cạnh tranh
của các ngân hàng thương mại quốc doanh yếu hơn và có chiều hướng giảm sút so
với ngân hàng liên doanh chi nhánh ngân hàng nứơc ngoài .Khả năng cạnh tranh
trong các ngành du lịch rất thấp ,một số một số công ty du lịch ,khách sạn lại đứng
ra làm vỏ ngoài bao bọc cho tư nhân chi phối
+Tình trạng nợ nần khó trả rất lớn ,đang là một gánh nặng đối với DNNN,hạn
chế sức cạnh tranh,ảnh hưởng xấu đến phát triển và cổ phần hoá doanh nghiệp
.Theo tài liệu của Bộ Tài chính ,số nợ tồn đọng từ năm 1991 trở về trước còn lại
phải trả các DNNN là 6.910 tỷ đồng ,trong đó số không có khả năng trả được là
4.777 tỷ (69%),bao gồm :số kê khai khồng được xác nhận là 1.982 tỷ (gần

lương trong giá thành của Tổng công ty xi măng là 6,32%,còn Công ty Chin Fon
chỉ có 5,8 %,trong khi bình quân tiền lương 1 năm của Chin Fon là 43,2 triệu đồng
/người/năm,còn của Tổng công ty Xi măng là 17,2triệu đồng /người /năm.
+Trừ một số công trình đầu tư mới,công nghệ hiện hiện đạI ở một số nghành
dùng vốn ODA như địên ,có cơ chế nhà nước cho phép tự vay ,tự trả như Bưu
chính viễn thông ,hoặc nghành có tỷ suất lợi nhuận cao như xi măng ,gạch
lát…,còn bình thường phải vay vốn ngân hàng thì đầu tư được ít (trong 10 năm từ
1990 đến 2000,Tổng công ty thép chỉ đầu tư 650 tỷ đồng ; giá trị còn lại của toàn
nghành cơ khí là khoảng 300 triệu USD ,trong khi 154 dự án cơ khí có vốn đầu tư
nước ngoàI có tổng vốn 2,1 tỷ USD).Bên cạnh những DNNN đầu tư đúng hướng
,có hiệu quả thì vẫn có một số nghành đầu tư không dúng hướng ,không căn cứ
vào nhu cầu của thị trường sản phẩm ,chi phí đầu tư các công nghệ lạc hậu nên
hiệu quả đầu tư thấp hoặc không có hiệu quả như :xi măng lò đứng ,nhà máy
đường ,gạnh tuy nen và dâu tơ tằm….
+Việc sắp xếp lạI DNNN chưa thực sự triệt để ,nhiều doanh nghiệp yếu kém
thua lỗ triền miên ,mất hết vốn vẫn không xử lý ,chủ yếu là sáp nhập và hợp nhất
.Quy mô doamh nghiệp hiện nay vẫn nhỏ bé ,bình quân mỗi doanh nghiệp có 22 tỷ
đồng vốn nhà nước ;18,2% có số vốn dưới 1 tỷ ,số có qui mô trên 10 tỷ chỉ có
25%.Vốn diều lệ của 6 ngân hàng thương mại quốc doanh tính đến 31/12/1999 là
6.468 tỷ đồng nên gặp nhiều khó khăn cho vay những món lớn của các tổng công
ty như điện lực ,Dầu khí ,xi măng ,giao thông ,…cần hàng chục triệu USD,mà
theo luật các tổ chức tín dụng thì không được cho phép một khách hàng vay quá
15% vốn tự có.
+DNNN chưa thực sự được cơ cấu lạI để tập trung hơn vào những nghành lĩnh
vực ,lĩnh vực then chốt ,nhất là những nghành công nghiệp cơ bản ,vẫn còn dàn
trải trong các nghành và lĩnh vực kể cả mhững hoạt động sản xuất ,kinh doanh nên
để cho nhân dân đầu tư.

và phạm vi vốn được giao.Trên thực tế cho đến nay ,Nhà nước với tư cách chủ sở
hữu ,vẫn chưa quản lý doanh nghiệp theo phương thức của chủ đầu tư ,vẫn chủ
yêu là quản hiện vật nhà máy ,qui định rằng buộc cụ thể rất nhiều khoản chi tiêu
của doanh nghiệp ;Nhà nước không thu lãI mà chịu lỗ theo kinh doanh tại doanh
nghiệp ,mà chỉ thu thuế như đối với các thành phần kinh tế khác ,ngoài ra còn thu
trên vốn nhà nước theo một tỷ lệ nhất định(như cho vay lấy lãi ,nhưng lạI không
đươc tính vào giá thành ,mà lấy vào phần lợi nhuận để lạI của doanh nghiệp )
+Rất ít DNNN có nkhả năng tự tích luỹ để đầu tư phát triển ;hầu hết các
DNNN đều thiếu vốn lớn ,không đủ lực để kinh doanh bình thường ,kể cả vốn cố
định và vốn lưu động ,phải đi vay và phải trả tiên lãi suất lớn (lãi suất cao thời hạn
vay ngắn ,nhiều khi phải vay thương mại để đầu tư ),góp phần làm tăng chi phí
sản xuất .Tình trạng thiếu vốn lưu động có tính phổ biến và nghiêm trọng ;nói
chung Nhà nước đã không cấp đủ 30% vốn cho các DNNN như đã qui định trước
đây ,lạ bị chiếm dụng nên phải vay nhiều.Vấn đề này đang là trở ngại lớn ,Nhiều
trường hợp đang là trở ngại chính trong kinh doanh .Việc huy động nội để đầu tư
phát triển còn rất yếu ớt.
Vốn của nhà nước khi giao cho các DNNN bao gồm cả nợ khó đòi ,sản phẩm
vật tư ứ đọng không có khả năng tiêu thụ ,giá trị máy ,móc không phảI là giá trị
thực ,nhiều thiết bị không thể sản xuất ra sản phẩm được thị trường chấp nhận ,có
thiết bị để năm nhiều năm vẫn không được xử lý được và vẫn tính vào giá thành
sản phẩm .(Đáng lý ra trước khi giao vốn phải xử lý các tồn tại về tài chính doanh
nghiệp ,nhưng lại chưa làm ).
Số nợ phảI trả của các DNNN thường cao hơn vốn nhà nước 13-14% .Nhiêu
doanh nghiệp có số nợ lớn như tổng công ty điện lực (14000 tỷ ),Tổng công ty
Bưu chính –Viễn thông (hơn 11000 tỷ),Tổng công ty rượu - bia (hơn 4500 tỷ
),nhiều doanh nghiệp có số nợ lớn gấp nhiêu lần số vốn nhà nước tạI hoanh
nghiệp như Tổng công ty mía đường I(gần 6 lần), Tổng công ty gốm sứ thuỷ tinh

động xã hội cần thiết :máy móc ,vật tư không cần dùng rất nhiều năm tồn đọng
lạI,có loại từ thời bao cấp chuyển qua ,không được bán hạ giá so với sổ sách;lao
động dư thừa làm cho giá thành của doanh nghiệp phảI tăng cao;Nhà nước không
cấp đủ 30% vốn lưu động nên phảI trả lãI tiền vay lớn ;vay ngọai tệ thì mỗi lần thì
mỗi lần điều chỉnh giá ,giá của đồng Việt Nam giảm làm cho số nợ qui ra tiền Việt
Nam lạI tăng lên ;máy hết khấu hao ,đã cũ kỹ vẫn tính khấu hao lạI nên chi phí
khấu hao không tương xứng với năng suất ;các doanh nghiệp thương mạI dịch vụ
phải chịu giá cao về điện ,nước ,điện thoạI ;nhiều trường hợp áp đụng thuế sai làm
tăng chi phí nguyên vật liệu trong sẩn phẩm ;doang nghiệp hoạt động ở các vùng
sâu ,xa,nhà trẻ ;làm chiphí của giá thành cao lên;doanh nghiệp cũng góp nhiều vào
hoạt động nhân đạo từ thiện,đền ơn đáp nghĩa ,đóng góp cho xã phường,thực tế
phảI tính một phần vào giá thành sản xuât .Chưa kể các khoản lót tay,lễ tết,đãI
đằng quan chức bên trên xuống xí nghiệp,khoản tiêu xàI ,chia chác,hằ lạm của các
cán bộ lãnh đạo tạI một số doanh nghiệp.
2-DNNN còn bị nhiều trói buộc,chưa thực sự được tự chủ trong kinh doanh
phù hợp với cơ chế thị trường như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác.
Các cơ quan quản lý can thiệp quá sâu vào quyền kinh doanh của doanh
nghiệp ,nhưng lại không chịu tránh nhiệm về hiệu quả hoạt động kinh doamh của
doanh nghiệp.Doanh nghiệp chưa được tự chủ quyết đnh dự án đầu tư ứ đọng
,quyết định trích khấu hao ,chi phí quảng cáo ,giao dịch ,qui định về trả lương
thương ….
Một số dẫn chứng cụ thể:
+Phân cấp đầu tư cho DNNN thực chất còn là hình thức ,doanh nghiệp phảI trải
qua rất nhiếu cửa để tiến hành mồt dụ án đầu tư ;việc xét duyệt dự án và đấu thâu
phải trải qua rất nhiều bước và kéo dài;thủ tục bằng vốn vay còn rất phiền hà và
phức tạp,qua nhiều cửa,trong khi văn bản hướng đẫn của nhà nước chưa đầy đủ

nhuận để lại.
3-Cơ chế ,chính sách tiền lương và phân phối lợi nhuận để lạI DNNN chưa
thực sự tạo được động lực cả với cong nhân và người quản lý.
+Qui định về tiền lương đối với DNNN hiện nay chưa phù hợp với hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường và còn nhiều bất hợp lý,chưa
tạo được động lực cả với công nhân và cán bộ quản lý.Một số vấn đề cụ thể là:
Lương của giám đốc DNNN quy định dựa trên phân loại DNNN có 2 bậc và
lương thực tế không được cao quá 3 lần lương công nhân.
Lương cán bộ quản lý ,đặc biệt là chuyên viên nghiệp vụ tạI DNNN có nhiều
bậc khoản cách bậc ngắn,hệ số thấp so với một số chức danh như thủ kho hay bảo
vệ …Hệ số phụ cấp chức vụ khá thấp.
Một số thang bảng lương cho sản xuất lám căn cứ để tính toán tiền lương
không còn phù hợp hoặc chưa đầy đủ .
+Về phần lợi nhuận để lại doanh nghiệp ,theo nghị định 27/CP(20/4/1999),lợi
nhuận của doanh nghiệp sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.doanh nghịêp
còn phảI bù khoản lỗ của các năm trước đối với các khoản lỗ không được trừ vào
lợi nhụân trước thuế,nộp tiền sử dụng vốn cho ngân sách nhà nước ,trừ vào các
khoản vi phạm pháp luật.Sau khi trừ các khoản này,được trích 10% vào quĩ dự
phòng tài chính,50% vào quĩ đầu tư phát triển,5% ở quĩ dự phòng mất việc làm ;số
lợi nghuận còn lạI được trích lập 2 quĩ lhen thưởng và phúc lợi,nếu tỷ suất lợi
nhuậnh năm nauy không thấp hơn năm trước thì dược trích tối đa 3 tháng lương
,nếu thấp hơn 2 năm trước thì được trích 2 tháng lương.Như vậy phần trích thực tế
vào 2 quĩ phúc lợi và khen thưởng rất thấp chưa tạo được động lực đối với người
lao động .
4-Chế thuế còn bất hợp lí cần được tiếp tục bổ sung và sửa đổi,ổn định trong
một thời gían nhất định.
Chính sách thuế đặc biệt là thuế VAT,thuế xuất nhập khẩu sửa đổi, bổ sung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status