ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG THỊ THU HÀ
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÍNH MÙA VỤ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn: TS. Trần Hữu Nam
HÀ NỘI - 2008 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH DOANH LỮ HÀNH VÀ TÍNH
3.1.1. Một vài dự báo về lữ hành thế giới trong tương lai 75
3.1.2. Một vài dự báo về lữ hành Việt Nam và Hà Nội 77
3.2 . Quan điểm phát triển du lịch và phương hướng hạn chế tính thời
vụ trong kinh doanh lữ hành trên địa bàn Hà Nội 78
3.2.1. Quan điểm chung 78
3.2.2. Phương hướng và mục tiêu cụ thể 79
3.3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị 81
3.3.1. Các giải pháp 81
3.3.2. Kiến nghị 95
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 1
MỞ ĐẦU
Việc tìm ra những giải pháp cụ thể khắc phục những bất lợi do tính thời vụ
gây ra là việc làm có ý nghĩa sống còn cho sự tồn tại và phát triển của các
doanh nghiệp lữ hành Hà Nội, quyết định đến hiệu quả kinh doanh của
từng doanh nghiệp.
Vậy đâu là những yếu tố tạo ra tính thời vụ du lịch trên địa bàn Hà Nội?
Nó tác động đến hoạt động kinh doanh lữ hành ra sao? Các doanh nghiệp
lữ hành Hà Nội phải làm gì trước tác động của quy luật thời vụ? Để tìm lời
giải đáp cho vấn đề này tác giả đã mạnh dạn thực hiện đề tài: “Giải pháp
hạn chế tính mùa vụ của các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà
Nội’ làm đề tài luận văn của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu tính thời vụ trong hoạt động du lịch, luận văn chỉ
ra những nhân tố quyết định tính thời vụ trong du lịch nói chung và du lịch
Hà Nội nói riêng; đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế tính thời vụ trong
hoạt động du lịch tại thành phố Hà Nội.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về hoạt động lữ hành và xây dựng
một số luận cứ khao học về thời vụ du lịch.
- Phân tích thực trạng thời vụ du lịch Hà Nội thông qua các nhân tố tác
động tới cung và cầu du lịch tại 8 công ty lữ hành và đưa ra các nguyên
nhân chính quyết định thực trạng trên.
- Đề xuất một số giải pháp hạn chế tính thời vụ trong hoạt động lữ hành
trên địa bàn Hà Nội.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1. Những lý luận cơ bản về kinh doanh lữ hành và tính thời vụ
trong kinh doanh lữ hành
Chương 2. Thực trạng thời vụ du lịch trên địa bàn Hà Nội
Chương 3. Một số giải pháp hạn chế tính thời vụ trong kinh doanh lữ
hành trên địa bàn Hà Nội
5
Chưong 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH DOANH LỮ
HÀNH VÀ TÍNH THỜI VỤ TRONG KINH DOANH LỮ HÀNH
1.1. Kinh doanh lữ hành
1.1.1. Lữ hành và kinh doanh lữ hành
Trên cơ sở khái niệm lữ hành và kinh doanh lữ hành luận văn đưa ra
nhận xét:
- Hoạt động lữ hành có sự di chuyển và lưu trú qua đêm. Hình thành
một lĩnh vực kinh doanh lữ hành nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của con
người trong quá trình di chuyển và lưu trú: dịch vụ trọn gói, dịch vụ từng
phần. Trong tương lai, các dịch vụ từng phần, mang tính mở sẽ chiếm ưu
thế trong sự lựa chọn của khách hàng. Bởi sự phát triển như vũ bão của
khoa học công nghệ, thế giới bị thu hẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho khách
hàng dễ dàng lựa chọn sản phẩm, các nhu cầu sẽ đa dang và phong phú
hơn.
- Kinh doanh lữ hành chịu tác động của quy luật thị trường: chứa
đựng tổng cung và tổng cầu về du lịch. Một số nhân tố tác động đến cầu du
lịch bao gồm:tình hình thế giới, quan hệ quốc tế, điều kiện chính trị, kinh
tế, nhân khẩu, địa lý, văn hóa xã hội, mức giá so sánh, khả năng di chuyển,
chính sách khuyến khích phát triển du lịch của chính phủ, truyền thông,
động cơ đi du lịch, phong tục tập quán, thói quen, tâm sinh lý, trình độ văn
hoá, độ tuổi, thu nhập…Một số nhân tố tác động đến cung du lịch: giá của
hàng hoá và dịch vụ từ các nhà cung cấp dịch vụ, tài nguyên du lịch, cơ sở
1.2.2. Tính thời vụ trong hoạt động lữ hành
7
Tính thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi lặp lại đối với cung và
cầu của các dịch vụ và hàng hoá du lịch, xẩy ra dưới tác động của các
nhân tố xác định. Thời vụ du lịch là khoảng thời gian của một chu kỳ
kinh doanh, mà tại
Đặc điểm thời vụ của du lịch
- Thời vụ trong du lịch mang tính phổ biến ở tất cả các nước và các
vùng có hoạt động du lịch.
- Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ
du lịch, tuỳ thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở đó
- Độ dài thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau
đối với từng thể loại du lịch và chu kỳ kinh doanh
- Độ dài và cường độ của thời vụ du lịch phụ thuộc vào mức độ phát
triển và kinh nghiệm kinh doanh du lịch của từng quốc gia, điểm du lịch và
các nhà kinh doanh du lịch
- Độ dài và cường độ của thời vụ du lịch phụ thuộc vào đặc điểm thị
trường khách
- Độ dài và cường độ của thời vụ du lịch phụ thuộc vào số lượng các
cơ sở cung cấp dịch vụ
1.2.3. Các nhân tố tác động đến tính thời vụ trong hoạt động lữ hành
- Vị trí địa lý, điều kiện thời tiết, khí hậu là nhân tố thuận lợi để phát
triển đa dạng các loại hình du lịch và thu hút khách
- Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
- Cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch
- Chính sách phát triển du lịch của quốc gia, từng vùng, từng địa phương
- Điều kiện kinh tế - xã hội
1.3. Các giải pháp hạn chế tính thời vụ trong hoạt động lữ hành
1.3.1. Thoả mãn nhu cầu đa dạng của du khách
9
- Định ra hướng tác động của từng nhân tố lên cung, lên cầu hoặc lên
cả cung và cầu trong du lịch.
- Xác định mức độ tác động của từng nhân tố và ảnh hưởng tổng hợp
của các nhân tố.
Việc nghiên cứu toàn diện các nhân tố, ảnh hưởng và vai trò của các
nhân tố tác động đến tính thời vụ trong du lịch sẽ cho phép chúng ta xây
dựng được chính sách phát triển ngành và vùng hợp lý, có những giải pháp
nhằm giảm bớt tác động bất lợi của các nhân tố, đồng thời kéo dài thời vụ
du lịch.
Chương 2. THỰC TRẠNG THỜI VỤ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
HÀ NỘI
2.1. Điều kiện phát triển các loại hình du lịch trên địa bàn Hà Nội
2.1.1. Các điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và địa hình thuận lợi cho phép Hà Nội có thể khai thác
các loại hình du lịch cũng như trở thành một trung tâm du lịch, một điểm
đến lý tưởng cho khách trong và ngoài nước với mục đích du lịch thuần tuý
hay du lịch kết hợp với nhiều mục đích khác.
- Thời tiết và khí hậu: Hà Nội trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn
khách vào mùa khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Đây cũng
là khoảng thời gian đẹp nhất để tiến hành các hoạt động du lịch ở Hà Nội.
2.1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Hà Nội mang trong mình một kho tàng
tài nguyên du lịch nhân văn phong phú với bề dầy lịch sử văn hoá, các lễ
hội, phong túc tập quán về cư trú, tổ chức xã hội, ăn uống, kiến trúc, trang
phục, các đối tượng văn hoá thể thao khác… Các yếu tố này góp phần tạo
ra sản phẩm du lịch đặc trưng riêng cho Hà Nội. Đây là tiền đề để các nhà
10
mạn, chất lượng phục vụ thấp không có sức thu hút khách. Điều kiện giao
thông đến các di tích gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, các doanh nghiệp lữ
hành Hà Nội cũng không tích cực chủ động giới thiệu các dịch vụ này vì
lợi ích kinh tế cho họ mang lại không được bao nhiêu. Đặc biệt là khi đưa
khách đến các cơ sở dịch vụ giải trí mang tính chất dịch vụ công.
- Các dịch vụ khác: các nhà kinh doanh lữ hành trên địa bàn Hà Nội
được sự trợ giúp rất nhiều của các nhà cung cấp dịch vụ như bưu chính
viễn thông, ngân hàng bảo hiểm,…Các dịch vụ này đảm bảo tính linh hoạt
và tiện ích cho khách hàng vào thời kỳ chính vụ (thanh toán, liên lạc, bảo
hiểm…).
2.1.5. Chính sách phát triển du lịch của Hà Nội
Chính sách phát triển du lịch của Hà Nội đã và đang tạo dựng hình
ảnh du lịch thủ đô, đa dạng hoá sản phẩm du lịch dựa trên tiềm năng sẵn
có, đồng thời mở rộng thị trường khách đến. Những nỗ lực này sẽ làm tăng
nguồn khách cả vào dịp chính vụ và trái vụ.
2.2. Đánh giá hoạt động du lịch tại các doanh nghiệp lữ hành
2.2.1. Giới thiệu các doanh nghiệp khảo sát
- Quy mô và thị phần của tám doanh nghiệp lữ hành khảo sát: Công
ty du lịch Việt Nam Hà Nội – Vietnamtourism Hanoi (DN1), Công ty du
lịch Hà Nội – Hanoitourism (DN2), Công ty du lịch dịch vụ Hà Nội -
Hanoi Toserco (DN3), Công ty Điều hành Hướng dẫn Du Lịch Việt Nam -
Vinatour (DN4), Công ty Công ty du lịch Việt Ý (DN5), Công ty du lịch
dịch vụ Tây Hồ (DN6), Công ty liên doanh Hồ Gươm – Diethelm (DN7),
Công ty lữ hành Saigontourist Hà Nội(DN8).
Đây là 8 doanh nghiệp lữ hành nhận khách hàng đầu của Hà Nội,
trong đó có 3 doanh nghiệp luôn được xếp vào top 10 doanh nghiệp lữ
12
hành của Việt Nam là: Công ty Du lịch Hà Nội, Công ty du lịch Việt Nam
Hà Nội, Công ty liên doanh Hồ Gươm – Diethelm. Cả 8 doanh nghiệp này
2566
15874
2468
19462
3412
20747
Tháng 2
2656
18415
2219
20034
2600
22987
Tháng 3
2232
17003
1760
21058
2293
18012
Tháng 4
1502
10100
1993
16412
1602
15833
Tháng 5
929
5200
2193
16452
Tháng 10
2214
21156
2853
22468
2744
20000
Tháng 11
2768
23654
3077
25450
2356
20333
Tháng 12
2856
22125
3412
23583
2967
28485
(Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội)
Phân tích số liệu tại bảng trên có thể rút ra những nhận xét sau đây:
- Mùa cao điểm du lịch nội địa tại Hà Nội thông qua tám doanh
nghiệp khảo sát bắt đầu từ tháng 8 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa
thấp điểm là khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7.
13
quan tâm khai thác mạnh. Thị trường du lịch nội địa còn bị các doanh
nghiệp xem nhẹ trong khi lượng khách du lịch nội địa đến Hà Nội là rất
lớn.
- Chính sách kinh doanh: các doanh nghiệp chưa có chính sách kinh
doanh dài hạn để cân đối giữa cung và cầu du lịch. Quan hệ giữa các doanh
nghiệp với các đối tác và các đơn vị cung cấp dịch vụ còn thiếu chặt chẽ.
Nhà nước chưa có chính sách cụ thể hỗ trợ các doanh nghiệp lữ hành trước
những khó khăn của thời vụ du lịch.
Tóm tắt chương 2
Chương 2 giới thiệu những điều kiện phát triển du lịch Hà Nội, phân
tích những điều kiện mà các doanh nghiệp lữ hành có thể khai thác để tăng
lượng khách vào dịp chính vụ và trái vụ. Trên cơ sở đó, phân tích về tính
thời vụ trong hoạt động du lịch của 8 doanh nghiệp lữ hành khảo sát (cơ
cấu khách đến theo tháng, cơ cấu khách đến theo thị trường và loại hình
du lịch đến được các daonh nghiệp khai thác). Nêu ra những tồn tại cần
giải quyết và nguyên nhân làm cơ sở để đưa ra các giải pháp trong chương
3.
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÍNH THỜI VỤ
TRONG KINH DOANH LỮ HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
3.1. Dự báo về triển vọng phát triển của du lịch Việt Nam và Hà Nội
3.1.1. Một vài dự báo về lữ hành thế giới trong tương lai
Trong những năm đầu của thế kỷ 21, một trào lưu du lịch mới sẽ
dần thay thế cho trào lưu du lịch cổ điển. Trào lưu mới có đặc trưng là: sự
linh hoạt, tự do đi du lịch cá nhân, nhóm nhỏ, các chương trình mang tính
độc lập cao, khách du lịch đa dạng phong phú, được chia thành những
15
nhóm nhỏ với các đặc điểm tiêu dùng khác nhau trong cùng chuyến đi, đan
xen giữa các động cơ trong tiêu dùng du lịch. Người tiêu dùng du lịch có
Nội, trước hết nhằm góp phầ phát triển kinh tế xã hội của thành phố, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hà Nội phấn đấu đạt mục tiêu: Phát triển
nhanh, bền vững ngành du lịch thủ đô, đạt tăng trưởng doanh thu bình quân
từ 16 - 18 %/năm; Giai đoạn 2007 – 2010 đón 2 triệu lượt khách quốc tế, 7
- 10 triệu lượt khách du lịch nội địa). Giai đoạn 2011 – 2015 đón 2,5 triệu
khách quốc tế, 10 triệu lượt khách du lịch nội địa.
3.2.2. Phương hướng và mục tiêu cụ thể
- Phát triển trong xu thế hội nhập WTO: các doanh nghiệp lữ hành
trên địa bàn cần chủ động hội nhập trên nguyên tắc giữ vững độc lập, tự
chủ, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và giữ gìn
bản sắc văn hoá dân tộc.
- Phát triển theo hướng phát triển bền vững: Phát triển kinh doanh lữ
hành trên địa bàn Hà Nội phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường sinh
thái; thể hiện bản sắc văn hoá của người Hà Nội, của dân tộc Việt Nam,
đảm bảo trật tự xã hội, an ninh quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng
giao lưu quốc tế, góp phần giáo dục truyền thống, thẩm mỹ, nhân cách có
công dân Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng.
3.3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị
3.3.1. Các giải pháp
Tác giả đưa ra 3 nhóm giải pháp bao gồm: nhóm giải pháp về sản
phẩm du lịch, nhóm giải pháp về thị trường, nhóm giải pháp về quản lý và
điều tiét hoạt động kinh doanh
* Nhóm giải pháp về sản phẩm du lịch
17
- Giải pháp về sản phẩm mới: các chương trình ít bị chi phối bởi tính
thời vụ du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch làng nghề, du lịch cuối tuần,
du lịch giáo dục, du lịch kết hợp chữa bệnh, du lịch tuần trăng mật, du lịch
văn hoá, du lịch chuyên đề, du lịch ẩm thực, du lịch kết hợp thể thao, du
lịch khen thưởng, du lịch kết hợp hội thảo, tổng kết, du lịch mở, du lịch sự
+ Các chương trình du lịch homestay: dành cho những người ưa thích tìm
hiểu về văn hoá Việt Nam và Hà Nội, muốn trở về với thiên nhiên (thể
hiện trong cách ăn, ở và đi lại ở trong các ngôi nhà truyền thống, ăn những
thức ăn dân dã, thôn quê và đi bằng các phương tiện vận chuyển thô sơ, tự
tay làm các sản phẩm thủ công). Họ muốn tìm hiểu vốn cổ của người Hà
Nội thể hiện trong nếp ăn, nếp ở, các sinh hoạt hàng ngày.
- Giải pháp về bảo hộ sản phẩm: các chương trình du lịch du lịch mới
phải có tính đặc thù, là sản phẩm của từng doanh nghiệp, gắn với tên tuổi
từng doanh nghiệp lữ hành. Vì vậy, nhà nước cần có chính sách bảo hộ sản
phẩm đi kèm: quyền tác giả, tiêu chuẩn chất lượng ISO…Có như vậy mới
kích thích các doanh nghiệp lữ hành tạo ra các sản phẩm mới, tránh trùng
lặp đồng thời cũng đảm bảo chất lượng của các chương trình du lịch.
* Nhóm giải pháp về thị trường
- Thị trường khách:
+ Tăng cường nghiên cứu thị trường, phát triển kênh phân phối và xúc
tiến sản phẩm của doanh nghiệp.
+ Mở rộng thị trường, đầu tư vào các thị trường còn bỏ ngỏ.
- Thị trường cung cấp dịch vụ: tăng vốn đầu tư và sự liên kết vào các cơ
sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ lưu trú, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ thăm
quan giải trí…Các doanh nghiệp lữ hành Hà Nội có thể tăn vốn đầu tư
bằng cách vay vốn ngân hàng, tham gia cổ phần với các doanh nghiệp
19
khác, phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, liên kết liên doanh
với các hãng hàng không, Tổng công ty đường sông và Liên hiệp đường
sắt Việt Nam. Thuê ngắn hạn hoặc dài hạn cơ sở vật chất kỹ thuật của các
nhà cung cấp, mua mới các loại ôtô chuyên dùng. Chủ động thích ứng với
phương thức bán hàng trên mạng.
3.3.2. Kiến nghị
của các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội. Tìm ra nguyên nhân và
những vấn đề cần giải quyết.
Thứ ba, đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp để hạn
chế tính thời vụ trong kinh doanh lữ hành. Tác giả cũng đưa ra các kiến
nghị để các giải pháp đó có tính khả thi.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả nhận được sự động viên,
giúp đỡ tận tình từ phía thầy cô giáo khoa du lịch học - trường
ĐHKHXH&NV, ban giám đốc các doanh nghiệp, bạn bè, đồng nghiệp và
đặc biệt là của thầy giáo hướng dẫn TS - Trần Hữu Nam. Tác giả xin bày
tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy hướng dẫn khoa học TS - Trần Hữu
Nam, người đã luôn chỉ giáo và động viên kịp thời để tác giả hoàn thành
công trình này.