Báo cáo nghiên cứu khoa học: "TỪ XƯNG HÔ TRONG DỊCH THUẬT" doc - Pdf 19

TỪ XƯNG HÔ TRONG DỊCH THUẬT
ADDRESS FORMS IN TRANSLATION PHẠM THÀNH VINH
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Trong bất kỳ một hành vi giao tiếp nào xưng hô là hiện tượng không thể tránh được. Hình thái
xưng hô không những chỉ đóng vai trò quan trọng trong các tài liệu khoa học, pháp lý và
thương mại mà còn thực hiện các chức năng ngữ dụng. Hầu như bất kỳ người Việt Nam học
tiếng Anh nào cũng gặp phải một số khó khăn khi nói, viết, dịch hệ thống xưng hô từ tiếng
Anh sang tiếng Việt. Bài viết này đề cập đến hình thái xưng hô Anh Việt và phân tích các khía
cạnh dụng học để dịch từ xưng hô.
ABSTRACT
In any act of communication, addressing is, so to speak, unavoidable. Address forms not only
play an important role in scientific, legal and commercial documents but also perform
pragmatic functions. It can be said that, any Vietnamese learners of English have some
difficulties in speaking, rendering address forms from English into Vietnamese. The paper
refers to a contrastive analysis of English - Vietnamese address forms and analyses some
pragmatic aspects in translating these forms. 1. Đặt vấn đề
Hình thái xưng hô hay từ xưng hô có thể nói không thể thiếu được trong bất kỳ một
hành động giao tiếp nào, nhưng tại sao khi dịch từ xưng hô từ một ngôn ngữ gốc (source
language) như tiếng Anh sang một ngôn ngữ đích (target language) như tiếng Việt và ngược
lại, hầu hết những người học tiếng Anh đều gặp phải những khó khăn không nhỏ? Chúng tôi
xin đề cập đến một số khó khăn khi:
1.1. Dịch đại từ nhân xưng

người cần học tiếng Việt và tìm hiểu về Văn hoá Việt Nam, bài viết này nhằm mục đích phân
tích và đưa ra một số giải pháp cần thiết để giải quyết phần nào khó khăn trên.

2. Từ xưng hô với dịch thuật
Xin mở đầu bài viết này bắng ý kiến của nhà ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu [3]:
"Chuyển dịch từ xưng hô của các ngôn ngữ Ấn - Âu sang tiếng Việt quả là một điều khó
khăn". Tác giả Nguyễn Văn Chiến [4] cho rằng "Nếu coi tiếng Việt là ngôn ngữ phiên dịch
(ngôn ngữ đích) để chuyển dịch các ngôn ngữ khác qua nó thì lớp từ xưng hô của tiếng Việt
là một hiện tượng gây ra nhiều chuyện rắc rối ". Từ các nhận định này, ta thấy rằng hệ
thống từ xưng hô ở mỗi ngôn ngữ vốn dĩ đã phức tạp lại càng phức tạp hơn khi chuyển sang
một ngôn ngữ khác.
Vậy từ xưng hô là gì?
2.1. Định nghĩa về từ xưng hô
Trước hết, theo tác giả Nguyễn Văn Khang [7], xưng hô là lớp từ dùng để chỉ "tự gọi
tên mình (xưng) và gọi tên người khác" (hô) khi giao tiếp.
Nói đến xưng hô ta không thể không nói đến khái niệm đại từ nhân xưng, vốn là cái
lõi của các dạng thức xưng hô, xuất phát từ chức năng trỏ ngôi (chỉ xuất) về người, từ điển
Longman [9] cho chúng ta định nghĩa về đại nhân xưng: "Đó là một hệ thống đại từ biểu thị
một phạm trù ngữ pháp của Ngôi (person), mà hệ thống các từ này ở trong tiếng Anh được tạo
bởi một loạt các hình thái từ đơn giản I, you, she, it, they và các biến thể như me, mine, yours,
him, his…". Định nghĩa trên khẳng định rằng khi nói đến hình thái xưng hô phải nói đến đại
từ nhân xưng, có nghĩa là nhấn mạnh chức năng trỏ ngôi, thường được gọi là phạm trù ngữ
pháp ngôi.

2.2. Các nghiên cứu liên quan đến việc dịch từ xưng hô
Liên quan đến việc dịch từ xưng hô tác giả Nguyễn Việt Tiến [8] đã chỉ nêu ra một số
khó khăn mà người dịch gặp phải trong quá trình dịch từ Việt sang Pháp và ngược lại, ông
cũng đề xuất hướng dịch dụng học về từ xưng hô nhưng chưa đề xuất một giải pháp cụ thể.
Nguyễn Phước Vĩnh Cố [5 ] đề nghị dịch từ xưng hô từ Anh sang Việt theo hướng dụng học
và nhấn mạnh quan niệm tương đương xét trong đối chiếu giữa hai ngôn ngữ. Đặc biệt tác giả

Phạm trù lịch sự + +

Lưu ý: +: có
- : không

Khác với tiếng Anh vốn có phạm trù cách, trong tiếng Việt cách không phải là một
phạm trù ngữ pháp mà nó chỉ là một hiện tượng cú pháp mà các dạng thức xưng hô Việt ngữ
khu biệt với nhau chỉ qua vị trí câu. Ở tiếng Anh các hình thái nhân xưng thuộc phạm trù cách
được cấu thành với 3 thành tố [5].

Chủ cách
(Nominative case)
Tân cách
(Accusative case)
Sở hữu cách
(Possessive case)
Đại từ nhân xưng
I, you, she, he, we,
they
Me, you, her, him,
us, them

Tính từ sở hữu
My, your, her, his,
our, their
Đại từ sở hữu Mine, yours, hers,
Theo phạm trù cách, trong các từ xưng hô tiếng Anh thành phần chính có thể là các
đại từ nhân xưng, sau đó đến tính từ sở hữu và các đại từ sở hữu, đặc biệt là tân cách.
Nếu đối chiếu với tiếng Việt thì ở tiếng Việt hình thái xưng hô hoàn toàn không có
phạm trù cách (chủ cách, tân cách, sở hữu cách). Nhưng các hình thái tương đương thì nhiều

Hệ thống các quy tắc xưng hô của tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ phương Đông rất khác
với các ngôn ngữ phương Tây. Người Trung Quốc cho rằng lịch sự là một hiện tượng chi phối
mọi cá nhân trong xã hội, khái niệm “Lễ” của Khổng Tử là khởi nguồn của quan niệm “lịch
sự, “khiêm với mình và tôn kính với người”, trong tiếng Việt cũng vậy, biểu thị lịch sự dựa
vào các chiến lược quy định bởi các chuẩn mực xã hội, con người Việt Nam cụ thể phải gắn
kết với cộng đồng, chịu sự tác động qua lại trong cộng đồng, coi mọi người trong cộng đồng
như họ hàng trong gia đình lớn, người dưới phải xưng hô người trên như thế nào cho đúng
mực. Ở tiếng Anh vốn không quy định các chuẩn mực này, thường đề cao yếu tố cá nhân độc
lập nên khi biểu hiện lịch sự người ta dựa vào chiến lược lịch sự cá nhân.

3. Quan niệm về dịch thuật và những điểm cần lưu ý khi dịch từ xưng hô
Hiện nay tồn tại nhiều quan niệm về dịch thuật nhưng quan niệm gắn liền với từ xưng
hô thuyết phục nhất vẫn là của Koller [2]. Theo ông, dịch "để đạt được tương đương về ngữ
dụng có nghĩa là dịch cho một số đông độc giả cụ thể", dịch thế nào để “đảm bảo sự hiểu
được” ở nền văn hoá tiếp nhận.
Dịch từ xưng hô theo hướng ngữ dụng là nhấn mạnh các qui tắc giao tiếp xưng hô, đây
cũng là sự khác biệt rõ nét nhất giữa hai hình thái xưng hô Anh Việt.
Ta cần chú ý các nguyên tắc sau:
a. Xưng hô ngoài xã hội phải tuân thủ nguyên tắc “xưng khiêm, hô tôn”.
b. Tuổi tác là tiêu chí quan trọng nhất.
c. Quyền lực xã hội cần được đề cao.
d. Gia đình hoá xã hội để thân mật hoá.
e. Xưng hô trong gia đình khác biệt với xưng hô ngoài xã hội.
Để có cơ sở vững cho việc biên phiên dịch các dạng thức xưng hô từ Anh sang Việt, ta
cần chú ý đến tương đương và bất tương đương trong các nguyên tắc xưng hô trong giao tiếp
cuả người Việt, từ đó có thể định ra hướng dịch phù hợp với nội dung văn bản gốc và nền văn
hoá của văn bản đích.
Những tương đương về cấu trúc chưa phải là tất cả, người dịch còn phải tính đến
tương đương và bất tương đương trong nguyên tắc xưng hô. Cần kết hợp cả hai khía cạnh:
Cấu trúc và quy tắc xưng hô thì mới đạt được hiệu quả ngữ dụng. Điều lưu ý cuối cùng là

thuật, Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội (trang 90 - 92),1993.
[9] Richards, J. C., Longman Dictionary of Language Teaching and Applied Linguistics,
Longman (p. 271), 1999.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status