Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
5
Cây cà phê TRong đồn điền Phủ Quỳ (Nghệ An)
thời thuộc Pháp
Bành Thị Thuý Hà
(a)Tóm tắt. Trong bài viết này chúng tôi bàn về sự xuất hiện và hiệu quả kinh tế
của cây cà phê trong đồn điền Phủ Quỳ thời thuộc Pháp: từ nguồn gốc, đặc trng của
cây cà phê, cách trồng trọt, chăm sóc và phơng thức kinh doanh cho đến những tác
động do việc kinh doanh cà phê mang lại đối với đời sống nhân công trong các đồn
điền. Qua đó thấy đợc tầm quan trọng của cây cà phê trong kinh tế nông nghiệp ở
Phủ Quỳ.
ghệ An là một tỉnh thuộc miền
Bắc Trung Kì có diện tích
khoảng 16.057 km
2
, trong đó diện tích
đất nông nghiệp chiếm khoảng 1/3, dân
c khá đông, chủ yếu sống bằng nghề
nông nghiệp. Ngay sau khi Nghệ An bị
thực dân Pháp đánh chiếm và bình
trở thành nơi có nhiều đồn điền lớn
nhất về cà phê ở Đông Dơng" [3, tr.1].
Vì thế mà cho đến năm 1928, vùng đất
Phủ Quỳ đã có hơn 10 đồn điền lớn của
ngời Pháp, trong đó chủ yếu trồng cà
phê. Một trong những chủ đồn điền có
số lợng đồn điền nhiều nhất và lớn
nhất ở khu vực Phủ Quỳ thời kì này là
ông Walther. Với tổng diện tích đồn
điền của ông là 6300 ha thì "có hơn 400
ha dùng vào việc chuyên trồng cây cà
phê. Trong đó, có 2 triệu cây cà phê non
trong vờn ơm, 17.000 gốc cây cà phê
đang ra quả, 6.000 gốc cây đợc trồng
hai năm, 145.000 gốc một năm" [3,
tr.24]. Cùng với ngời Pháp, một số
ngời Việt cũng tham gia chiếm đất lập
đồn điền. Trong việc kinh doanh ở đồn
điền, họ cũng học theo ngời Pháp. Tuy
nhiên trong số diện tích 13.000 ha đất
đỏ của Phủ Quì có thì ngời ta mới chỉ
trồng trọt đợc 3.200 ha và diện tích
trồng cà phê là 750 ha [1, tr.15].
Nhận bài ngày 23/5/2006. Sửa chữa xong 08/01/2007.
N
đó là đất đỏ ba gian, đợc xếp vào loại
đất tốt nhất Đông Dơng [7, tr.25].
Qua nghiên cứu ngời Pháp thấy rằng,
đặc điểm nổi rõ của cây cà phê là nó
thích hợp với những vùng đất đỏ và khí
hậu nhiệt đới. Chính đặc điểm này có
thể giúp cây cà phê nhất là loại arabica
tránh đợc bệnh sâu nấm hồng, phát
triển tốt và đem lại hiệu quả lớn trong
việc kinh doanh. Tuy vậy, yếu tố khí
hậu đáng sợ ở đây có thể gây nguy hiểm
cho việc trồng cà phê là bão và gió Lào
thờng hay xảy ra. Đây cũng là vùng
mà ánh sáng mặt trời chiếu mạnh, vì
vậy các chủ đồn điền phải áp dụng kĩ
thuật thích ứng để giữ ẩm cho đất và
bảo vệ cây cà phê khỏi bị nắng quá.
Chẳng hạn nh việc trồng xen các loại
cây bóng mát nh: cây catxia, cây trẩu,
rồi các loại cây họ đậu, cây xấu hổ để
vừa làm phân bón vừa giữ ẩm, đó là
việc làm hữu dụng và hết sức cần thiết.
Trong ba loại cà phê có ở Trung kì thì "ở
Phủ Quỳ có hai loại cây cà phê đợc
trồng nhiều hơn cả, đó là cà phê arabica
và cà phê exensa" [7, tr.14]. Còn cà phê
robusta thì chỉ thích hợp với loại đất
ven biển và vùng đất nơi thấp, mặt
khác loại cà phê này chất lợng không
bằng hai loại trên nên trong các đồn
7
suất trung bình của các vụ thu hoạch ở
những đồn điền trởng thành (từ 9 đến
10 năm) khoảng 600 đến 700 kg/ha.
Cà phê exensa là loại cây cà phê có
rễ khoẻ, thân cây chắc, không kén chọn
đất đai nh cà phê arabica, thậm chí có
thể trồng trên loại đất không tốt mấy
và ít bị sâu nấm hồng phá hoại. Chính
vì thế mà ở Phủ Quỳ, bên cạnh cây cà
phê arabica ngời ta thờng để một
khoảnh nhỏ trồng cà phê exensa phòng
tránh những may rủi của một nền độc
canh. ở mỗi đồn điền, mật độ trồng cây
cà phê exensa là 400 gốc/ha, trong khi
đó cà phê arabica có mật độ từ 1.100
đến 1.300 gốc/ha. Năng suất thực tế cà
phê thu hoạch đợc trên một héc ta là từ
320 đến 400 kg. Chất lợng quả cà phê
loại này kém cà phê arabica 20% [3,
tr.6]. Cà phê exensa thờng ra quả ở
năm thứ năm sau khi trồng và thu
hoạch từ tháng 6 đến tháng 9.
2. Việc trồng trọt và kinh
doanh cà phê
Trớc khi ngời Pháp đến ở Phủ
Quỳ, nó vốn dĩ là vùng đất còn hoang
sơ, rừng rậm. Để có thể trồng trọt đợc
ngời ta phải làm những công việc khá
clorat de potasse, sun phát đồng hoặc
muối đôi khi không làm cho cây dại chết
hẳn. Còn máy đào gốc cây thì dùng loại
có cần kiểu Monkey mà ông Walther -
một chủ đồn điền lớn ở vùng Phủ Quỳ
hồi đầu thế kỉ trớc đã có - muốn sử
dụng nó phải cần đến 4 ngời, trong khi
đó để đào một gốc cây chỉ cần sử dụng 2
nhân công lao động là đủ. Mặt khác chi
phí của loại máy này khá đắt đỏ: để
mua đợc một chiếc máy này phải mất
500 đồng [4, tr.20]. Ngời ta cũng thử
dùng loại máy đào gốc sử dụng sức kéo
của súc vật nhng loại này thờng mất
thời gian, dây cáp nặng, khó điều
khiển Vì thế, việc sử dụng nhân công
lao động trong việc khai hoang vẫn là
biện pháp tốt nhất mà các chủ đồn điền
quan tâm. Thấy đợc việc thuê nhân
công lao động là cần thiết nên họ cũng
tính toán đến việc thuê ngời An Nam
(ngời Kinh) hay ngời Mờng (dân tộc
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
8
rễ của cây cũ không thể mọc lên. Do
điều kiện khí hậu ở vùng Phủ Quỳ thất
thờng (hay có gió Lào, bão và ma lớn)
nên không thể gieo hạt cà phê trực tiếp
xuống khu đất đồn điền nh ở Brazin
hay ở một vài nơi khác. Trớc khi tiến
hành trồng cà phê, ngời ta tiến hành
gieo hạt ở một khoảng đất riêng có đủ
độ ẩm, ánh sáng và không khí tốt nhất
để hạt nảy mầm. Hạt sau khi đợc gieo
xuống đất phải đợc phủ một lớp rơm,
rạ khô, cho đến khi hạt nảy mầm, cây
con đợc hai lá, ngời ta bứng nó vào
vờn ơm (bấy giờ là những căn nhà lá)
trồng cách nhau 15cm cho cây tiếp tục
phát triển. Cùng lúc đó, ở khu đất đồn
điền, cây xấu hổ hoặc các loại cây họ
đậu đã đợc trồng đã bảo vệ đất khỏi bị
xói mòn, phải đợc loại bỏ và đốt ngay
tại chỗ. Chỉ đến khi cây cà phê con cứng
cáp và đợc đem ra trồng chính thức
trong các đồn điền thì cây xấu hổ và các
loại cỏ hoang khác mới đợc trồng lại
xung quanh gốc để tiếp tục làm công
việc che chở cho rễ cây cà phê con ấy.
Cây cà phê đợc trồng cách đều
nhau 3m, hàng cây cách nhau 2m, mỗi
héc ta có 1285 gốc. Trong những quãng
đờng cách nhau nh thế, ngời ta
trồng những giống cây họ đậu, cây trẩu,
là trung tâm chế biến cà phê duy nhất ở
Phủ Quỳ thời kì này. Tại cơ sở đó, cà
phê đợc sơ chế qua nhiều công đoạn
bởi một hệ thống máy móc: máy nghiền,
máy xay, máy lựa chọn nhân (mỗi ngày
có thể chọn 1500 kilô cà phê), máy sấy
điện. Trải qua các công đoạn đó, cà phê
đợc đóng bao cẩn thận và đợc chở về
cảng Bến Thuỷ. Từ Bến Thuỷ, cà phê
đợc chở ra cảng Hải Phòng và đợc
xuất khẩu ra thị trờng chính là nớc
Pháp và một số nớc khác trong khu
vực. Giá thành của cà phê đợc vận
chuyển ra bến Hải Phòng hay sang
thành phố Havrơ (Pháp), kể cả chi phí
đài tải, bảo hiểm và chi phí cho việc
bán, tính bằng đồng bạc Đông Dơng
đợc ghi trong bảng 1:
Bảng 1
Tuổi của đồn điền năm thứ Số vốn Ra tận bến
4 5 6 7 8 9-10
Hải Phòng 1đ,31
1,04
0,90
0,80
Havrơ 1,00
0,83
0,74
0,68
0,65
0,63
Nguồn [7, tr.33].
Giá cà phê lên xuống theo thị
trờng và nằm ở mức trung bình là 1
đồng Đông Dơng/1kg. Nh vậy, đối
chiếu với năng suất thu hoạch trung
bình của từng loại cà phê chúng ta có
thể tính đợc mức trung bình chung
sản lợng cà phê thu hoạch đợc trên
một héc ta là 500 kg, điều đó cũng đồng
nghĩa là trên mỗi héc ta nh thế ngời
ta có thể thu hoạch đợc 500 đồng. Một
đồn điền rộng lớn với hàng trăm héc ta
cà phê, trừ các khoản chi phí từ việc
mua đất cho đến công việc trả tiền
lơng khoảng 400 đồng thì số tiền lãi
mà các điền chủ thu đợc rất lớn. Trong
khi đó trên thị trờng quốc tế, cà phê
10
3. Tác động của việc kinh
doanh cà phê đối với đời sống của
nhân công trong các đồn điền
Việc hàng loạt các đồn điền cà
phê lớn đợc thiết lập ở Phủ Quỳ trong
thời gian từ năm 1910 cho đến năm
1945 đã thu hút một lực lợng nhân
công đông đảo ở khắp mọi nơi đến đây
làm việc.
Trớc hết là bộ phận ngời Mờng
và ngời Kinh sinh sống ở trong khu
vực, họ tranh thủ lúc thời vụ nông nhàn
vào các đồn điền làm việc để có thêm
thu nhập. Đông đảo nhất là lực lợng
nông dân của các huyện đồng bằng
trong tỉnh nh Diễn Châu, Yên Thành,
Nghi Lộc, Hng Nguyên, Nam Đàn :
Những ngời đáng thơng ở các đồng
bằng gần Phủ Diễn hình nh nhân dịp
này để kiếm tiền lơng từ 30 đến 40 xu
mà không phải xa hẳn quê hơng bản
quán [3, tr.22]. Bên cạnh đó, một bộ
phận không nhỏ ngời thuộc các tỉnh
phía Bắc nh: Thanh Hoá, Ninh Bình,
Nam Định, Thái Bình cũng có mặt ở
vùng đất này. Họ đều là những ngời
nông dân nghèo khổ bị thực dân, phong
kiến tớc đoạt hết ruộng đất, không còn
chút đất đai nào để làm ăn sinh sống,
Đối với ngời làm thuê theo chế độ
nhận khoán, công việc làm theo chế độ
nhận khoán là tu bổ đờng sá, đào hố
trồng cây đợc trả 0,02 đồng mỗi ngày/
ngời. Công việc hái quả cà phê đợc
trả tuỳ theo mức độ khó khăn: "từ 0,015
đến 0,02 đồng/ 1kilô, rồi đến 0,03 đồng
cho đợt đầu hái, 0,01 đồng 1 kilô vào
cuối đợt hái" [5, tr.33]. Trong khi đó các
đốc công ngời Pháp, quản lí ngời
Nhật chỉ với công việc nhàn hạ là quản
lí nhân công và đốc thúc các nhân công
làm việc, sinh hoạt trong điều kiện đảm
bảo, mức lơng mỗi tháng đến 120
đồng, các ông kí ngời Việt thu nhập
mỗi tháng cũng có tới 50 đồng, còn thu
nhập bình quân của mỗi chủ đồn điền
khoảng từ 300 đến 400 đồng một tháng.
Trong khi đó, điều kiện ăn ở, sinh
hoạt của nhân công trong các đồn điền
cà phê cũng không đợc đảm bảo nh
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
11
trong một số văn bản nghị định mà
Chính cuộc sống lao động tồi tàn
nh vậy, nên trong lòng mỗi nhân công
luôn ấp ủ một tinh thần đấu tranh để
giải thoát thân phận. Vì thế, từ năm
1930 trở đi, trong các đồn điền Phủ Quỳ
đã hình thành một phong trào đấu
tranh khá mạnh mẽ của nhân công góp
phần to lớn làm nên thắng lợi trong
công cuộc đấu tranh giành chính quyền
Tháng Tám năm 1945 ở vùng đất này.
Các cuộc đấu tranh đó còn có ý nghĩa
hết sức to lớn trong công cuộc đấu tranh
chung để giành chính quyền ở tỉnh
Nghệ An.
4. Kết luận
Có thể nói rằng ngời Pháp đã đặt
chân đến vùng Phủ Quỳ từ rất sớm để
khai thác đất đai, lập nên những đồn
điền cà phê rộng lớn ở đây. Điều đó cho
chúng ta thấy tiềm năng đất đỏ trong
việc trồng các loại cây công nghiệp,
nhất là cây cà phê đem lại nguồn lợi rất
lớn trong kinh tế. Qua đó có thể học hỏi
những kinh nghiệm trồng trọt cà phê,
kĩ thuật chăm sóc cà phê, bảo vệ đất đai
cũng nh việc kinh doanh cà phê kết
hợp với chăn nuôi gia súc lớn để thu
đợc kết quả nh mong muốn.
Cà phê Phủ Quỳ một thời đợc
nhân dân trong nớc và nớc ngoài rất
dân nơi đây. Nhắc lại nó là chỉ để cho
con ngời sống ngày hôm nay không
đợc quên quá khứ, để có thể cùng
nhau xây dựng một Phủ Quỳ trở nên
trù phú.
Tài liệu tham khảo
[1] Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn, Lịch sử Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn, sơ
thảo, tập 1(1930-1945), NXB Khí tợng thuỷ văn Hà Nội, 1990.
[2] Liên hiệp công đoàn Nghệ Tĩnh, Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn
Nghệ Tĩnh 1885- 1945, NXB Lao động, Hà Nội, 1987.
[3] H. Cusơrutsê, Trong những vùng đất đỏ ở miền Bắc Trung kì, Tập san chấn hng
kinh tế Đông Dơng, Số 534, 1928.
[4] G.M Castagnol, Báo cáo về việc khai hoang ở miền Bắc Trung kì, Tập san Chấn
hng kinh tế Đông Dơng (B.E.I), trang 212B-216B, số 424,1930.
[5] Yvơ Henry, Kinh tế nông nghiệp Đông Dơng, Bản dịch của Hoàng Đình Bình, t
liệu khoa Lịch sử, Trờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, Hà Nội,
1932.
[6] Trần Văn Giàu, Giai cấp công nhân Việt Nam- sự hình thành và sự phát triển
của nó từ giai cấp tự mình đến giai cấp cho mình, NXB Sự thật, Hà Nội, 1957.
[7] Phạm Mạnh Phan (dịch), Tài liệu về cây cà phê Phủ Quỳ, Lu trữ tại th viện
tỉnh Nghệ An, Kí hiệu NA 401. Summary
The Shrub plantation in Phu Quy (Nghe An) under French
colony