Báo cáo nghiên cứu khoa học: "SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP" - Pdf 19

SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN
VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
UTILIZATION OF HUMAN RESOURCES IN VIETNAM’S RURAL AREA BÙI QUANG BÌNH
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Nguồn nhân lực (NNL) là một trong những nguồn lực phát triển kinh tế quan trọng nhất của
mỗi quốc gia. Bài báo chỉ nêu một vài đánh giá về tình hình sử dụng NNL ở nông thôn Việt
Nam dưới góc độ xem xét cung cầu trên thị trường lao động ở khu vực này. Trên cơ sở đó,
chúng tôi đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của nông
thôn Việt Nam.

ABSTRACT
Human resources are one of the most important forces in a country’s economic development.
This paper is to examine the human resource utilization in Vietnam’s rural area in terms of the
demand and supply on this area’s labor market. We also propose some solutions to promote
the socio-economic development in Vietnam’s rural area.
1. Tình hình cung lao động ở nông thôn nước ta
Ở Việt Nam, đại bộ phận dân cư tập trung sinh sống ở khu vực nông thôn, tính đến
ngày 1/7/2002, dân số cả nước là 79,93 triệu người, thì dân số nông thôn là 60,05 triệu người
(75,13%). Số người trong độ tuổi lao động là 35,44 triệu, khoảng 59% dân số, trong đó 30,9
triệu người tham gia vào lực lượng lao động (LLLĐ). Tốc độ tăng dân số bình quân hơn 10
năm qua là 1,7%, mức tăng trung bình của số người trong độ tuổi lao động là 2,6% năm.(1)
Khu vực nông thôn đang tập trung một số lượng lớn lực lượng lao động của cả nước

so với các cây trổng khác, làm cho hiệu quả sử dụng không cao. Ngoài ra, hiện nay hệ số sử
dụng đất bình quân cả nước là 1,4; Miền Bắc là 1,2. Hiện có 445 ngàn hộ nông dân không có
đất. Rõ ràng, việc không sử dụng tốt yếu tố đất đai, cũng là một nguyên nhân thiếu việc làm
cho lao động ở khu vực nông thôn.
Đầu tư là chìa khoá của tăng trưởng kinh tế, đặc biệt đối với tạo việc làm, lý thuyết đã
chứng minh rằng khi tăng đầu tư sẽ bù đắp những thiếu hụt của “cầu tiêu dùng” từ đó tăng
việc làm, tăng thu nhập, tăng hiệu quả biên của vốn đầu tư, và kích thích tái sản xuất mở rộng.
Trong nông nghiệp, nông thôn, quan hệ đầu tư và tăng trưởng vận động theo chu kỳ: tăng đầu
tư => tăng thu nhập=> tăng cầu=> tăng đầu ra; và sang chu kỳ sau với quy mô lớn hơn. Thực
tế ở nhiều nước châu Á đã chứng minh cho lý thuyết trên.
Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1991-2000 khoảng 632 ngàn tỷ (theo giá
năm 1995 là khoảng 57 tỷ USD; trong đó đầu tư cho NN, nông thôn là 65.2 ngàn tỷ (5.9 tỷ
USD) chiếm khoảng 10,37%. Tương tự cho CN là 264 ngàn tỷ đồng (23.8 tỷ USD) chiếm
41,85 %, và đầu tư cho giao thông bưu điện là 95.5ngàn tỷ đồng (8.6 tỷ USD) chiếm 15,14%).
Nếu so sánh với số lao động thu hút vào công nghiệp là 1,76 triệu, dịch vụ là 4,2 triệu, nông
nghiệp là 3,1 triệu mười năm qua, thì rõ ràng việc đầu tư không mang lại hiệu quả cho việc
thu hút thêm lao động đặc biệt trong công nghiệp. Nếu tính giá trị vốn đầu tư cho một chỗ làm
mới thì một chỗ làm trong công nghiệp gấp khoảng 7 lần so với nông nghiệp. Chỉ thu hút
thêm 3,1 triệu lao động này trong 10 năm là quá nhỏ só với nhu cầu tăng thêm của hàng năm
của khu vực nông thôn là khoảng gần 1triệu người. (3)
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò lớn với nền kinh tế nước ta
hiện nay, song sự tác động của nó với ngành nông nghiệp không nhiều. Trong nông nghiệp,
kể từ khi có luật nước ngoài năm 1988 đến hết năm 2002, thu hút được 354 dự án với số vốn
là 1,4333 tỷ USD trong đó có 678 triệu USD vốn pháp định, quy mô bình quân của một dự án
chỉ khoàng 4 triệu USD vốn đăng ký và 1,9 triệu USD vốn pháp định. Doanh thu từ các dự án
FDI này chỉ chiếm 0,4% giá trị tổng sản lượng nông lâm nghiệp (năm 2003). Nhìn chung, quy
mô vốn đầu tư không nhiều, đầu tư chủ yếu vào vùng Đông Nam Bộ, còn các vùng khác ít về
số lượng và quy mô nhỏ. Ngay đối với những vùng trọng điểm về nông nghiệp tập trung
nhiều lao động, với số lượng nông sản lớn như đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông
Hồng cũng rất ít (đặc biệt năm 2003 khu vực này không có dự án nào).

ngành nghề của các hộ nông thôn khá tiến bộ: 64,2 % nông nghiệp và 35,8% còn lại là phi
nông nghiệp. Các vùng Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc cơ cấu ngành nghề của các hộ
mang tính thuần nông nặng và chuyển dịch rất chậm. Tỷ lệ giữa nông nghiệp và phi nông
nghiệp của Tây Nguyên là 91,1% và 7,1%, vùng Đông Bắc là 88,4% và 8,6%, Tây Bắc là
93% và 5,97%. Ngay cả hai vùng trọng điểm nông nghiệp hàng hoá là đồng bằng sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long tuy có lợi thế gần các trung tâm công nghiệp và dịch vụ lớn,
nhưng xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động cũng rất chậm và không đều. Vì vậy,
lao động dư thừa lại tập trung trong ngành nông nghiệp và khả năng tạo thêm việc làm từ đây
là rất khó, vì thế chuyển dịch cơ cấu sẽ là yêu cầu cấp bách trong thời gian tới. (1)
NSLĐ trong nông nghiệp là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ sử dụng lao động
trong lĩnh vực này, gia tăng NSLĐ là điều kiện cho phép thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và lao động nông nghiệp, nông thôn.
Năng suất lúa bình quân cả năm tăng từ 28,1 tạ/ha năm 1986 lên 45,5 tạ/ ha năm 2002
tăng gần 62% (bình quân tăng hơn 01 tạ/ ha năm). Trong nông nghiệp, ngành trồng trọt chiếm
tỷ trọng 80% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, lúa là cây trồng chính. Do đó, tăng năng suất
lúa là yếu tố quan trọng để tăng giá trị tổng sản lượng nông nghiệp (GTTSLNN). Điều đáng
chú ý là sản lượng lương thực tăng lên từ 18,4 triệu tấn năm 1986 thì năm 2002 là 36,3 triệu
tấn, bình quân tăng khoảng 1,052 triệu tấn 1 năm, trong đó do yếu tố tăng diện tích (từ 5,76
triệu ha năm 1986 lên 8,295 triệu ha năm 2002) khoảng gần 60 % còn do năng suất tăng là
gần 40 %. Một trong những nguyên nhân tăng năng suất lúa ngoài yếu tố khoa học kỹ thuật,
thì tác động của năng suất lao động trong nông nghiệp tới mức tăng sản lượng là không nhiều.
(5)
Chất lượng thấp của nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn thể hiện qua tỷ lệ không biết
chữ là 4,79%, tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở là 34,59% và tốt nghiệp trung học phổ
thông là 11,18%. Nếu đánh giá trình độ văn hoá bình quân theo giới tính có thể thấy số năm
đi học văn hoá trung bình của khu vực nông thôn thấp hơn thành thị, của phụ nữ thấp hơn
nam giới. Theo các nhà nghiên cứu, năng suất lao động sẽ tăng nếu người nông dân có trình
độ học vấn ở mức độ nào đó, và nếu tốt nghiệp phổ thông, mức tăng này là 11%. Ngoài ra
trình độ học vấn còn cho người lao động khả năng lĩnh hội những kiến thức, kinh nghiệm sản
xuất kinh doanh. Với chất lượng của NNL nông thôn Việt Nam như vậy sẽ hạn chế họ trong

động gắn với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Từ đó cần tiến hành các giải
pháp sau:
Thứ nhất: Giảm lượng cung lao động
Cần tiếp tục duy trì chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình. Việc đưa chương trình
dân số và kế hoạch hóa gia đình về nông thôn nhằm thực hiện chỉ tiêu tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên là 1,1% vào 2010, từ đó giảm số lượng nguồn nhân lực. Muốn thực hiện được thì trước
hết phải hỗ trợ cho họ có thể tiếp cận được các phương tiện truyền thông để họ hiểu được
pháp lệnh dân số và biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Cần hỗ trợ cho họ các loại thuốc và
dụng cụ tránh thai không phải trả tiền. Cần phải có các chính sách về lợi ích vật chất, để
khuyến khích họ sinh đẻ đúng kế hoạch.
Thứ hai: Phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn lực đất đai
Cần hoàn thiện chính sách và pháp luật về quản lý đất đai, để biến đất đai thành nguồn
vốn quan trọng cho phát triển kinh tế và tạo thêm việc làm. Mỗi địa phương phải xây dựng và
thực hiện nghiêm túc quy hoạch dài hạn sử dụng đất. Trong nông nghiệp phải thay đổi cơ cấu
về diện tích cây trồng trên cơ sở lựa chọn đúng cơ cấu cây trồng vật nuôi thích hợp, phải đẩy
nhanh thâm canh tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng ruộng đất, tăng nhanh giá trị sản lượng trên
một đơn vị diện tích. Phải tiếp tục thực hiện giao đất giao rừng cho nhân dân để gắn đất đai
với lao động, đất rừng phải có chủ. Hoàn thành giao đất cho những hộ dân không có đất sản
xuất và kèm theo những điều kiện hỗ trợ về khuyến nông để giúp họ sản xuất và khắc phục
tình trạng sử dụng kém hiệu quả đất đai của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp. Trong xây
dựng đô thị và kết cấu hạ tầng quan trọng phải trên cơ sở quy hoạch tránh lãng phí. Tạo ra thị
trường đất đai ở khu vực nông thôn sẽ làm cho sự minh bạch về giá, giúp cho quá trình sử
dụng nguồn vốn này tốt hơn, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung đất đai, từ đó góp phần
thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.
Thứ ba: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Xác định chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn và xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá lớn. Vì thế cần một là: phát triển mạnh công
nghiệp và dịch vụ ở khu vực nông thôn. Tiếp theo là phát triển mạnh lâm nghiệp và thuỷ sản
nhằm thay đổi cơ cấu giữa nông- lâm- thuỷ sản. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cần tiếp tục
đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, và tất nhiên là thay đổi cơ cấu cây trồng giảm tỷ trọng cây

dục nâng cao trình độ văn hoá cho các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng Tây Nguyên, Tây Bắc
và đồng bằng sông Cửu Long sớm phổ cập giáo dục cơ sở.
Điều chỉnh mạng lưới cơ sở đào tạo cho phù hợp với yêu cầu quy hoạch phát triển
kinh tế xã hội của từng vùng nông thôn. Xây dựng một số cơ sở sản xuất nông nghiệp có trình
độ kỹ thuật công nghệ cao trong các vùng nông nghiệp trọng điểm nhằm kết hợp khuyến
nông, đẩy mạnh hoạt động phổ biến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân. Trong việc
đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân cần chú ý cả phương tiện kỹ thuật và kỹ năng quản
lý, không chỉ chú trọng các loại hình chính quy trên cơ sở phát triển hệ cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, mà đặc biệt quan tâm tới mô hình đào tạo cộng đồng. Tăng cường đào tạo
ngành nghề phi nông nghiệp cho nông dân.
Có chính sách khuyến khích và sử dụng tốt sinh viên học sinh tốt nghiệp các trường
đại học, cao đẳng, trung cấp về phục vụ ở nông thôn. TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo cáo kết quả điều tra lao động - việc làm của Bộ Lao động Thương binh Xã hội,
1/7/2002.
[2] Số liệu thống kê Lao động - việc làm 1996-2000 và 2002 của Bộ LĐ-TBXH, NXB
Thống kê, 2001 và NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội - 2003.
[3] Đánh giá việc thực hiện chiến lược KT-XH, trang Web của Bộ Kế hoạch Đầu tư

[4] Thực hiện mục tiêu chuyển dich cơ cấu ngành của của Bộ Kế hoạch Đầu tư, trang
Web của Bộ Kế hoạch Đầu tư
[5] Niên giám thông kê việt Nam, Tổng cục Thống Kê 1995, 1996, 1997, 2000, 2002.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status