ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
Hiệu quả của chính sách giao đất, giao rừng ở Việt
Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề
mặt trái đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung
cấp nguồn gỗ củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà
nước, nơi cư trú của động vật và lưu trữ các nguồn gen quí
hiếm. Ngoài ra, rừng còn là nơi du lịch, nghỉ ngơi, cung
cấp dược liệu… cho con người. Cùng với sự tiến bộ và
phát triển của xã hội vai trò của rừng cũng ngày càng
được nâng cao đòi hỏi phải được quản lý sử dụng một
cách bền vững.
Nhận thức được sự quan trọng của rừng, kể từ năm
1994, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật hướng
dẫn thực hiện chính sách giao đất giao rừng và quyền
hưởng lợi của người nhận đất nhận rừng. Giao đất khoán
rừng và thực hiện cơ chế hưởng lợi là những vấn đề quan
trọng đang được xã hội quan tâm. Đây là những vấn đề
vừa mang ý nghĩa kinh tế, ý nghiã xã hội và có tính lâu
dài. Việc thực hiện chính sách giao đất giao rừng và
quyền hưởng lợi đã có những tác động lớn trực tiếp đến
đời sống của người dân, chủ yếu là người dân vùng trung
du, miền núi. Bên cạnh những thành công, việc thực hiện
chính sách giao đất giao rừng và quyền hưởng lợi còn
nhiều vấn đề cần nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp với
thực tiễn. Mặc dù đã có nhiều chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước, nhiều nghiên cứu xung quanh vấn đề
này nhưng trên thực tế còn nhiều câu hỏi được đặt ra cần
được giải quyết.
Cho đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào về kết
các doanh nghiệp nhà nước.
- Nghị định số 02/CP ngày 15/03/1995 của Chính phủ
ban hành quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào
mục đích lâm nghiệp.
- Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về giao
đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và
cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của
Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/03/2006 của
Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ và
phát triển rừng.
- Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của
Chính phủ về việc giao khoán đất nông nghiệp, đấy rừng
sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các
nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh.
- Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ
tưởng Chính phủ về rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng.
- Quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ
tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia
đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và
đất lâm nghiệp.
- Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/07/1998 của Thủ
tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ
chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.
- Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 06/07/2007
của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều
của Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/07/1998 về mục
tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án
được tâm lý phấn khởi về có được một tài sản và nguồn
lực đầu tiên để các hộ gia đình có điều kiện sử dụng lao
động của hộ gia đình tham gia quản lý, bảo vệ, phát triển
rừng.
Điều này, chứng tỏ nhân dân miền núi rất thiết tha với
đất đai, rất cần đất đai để sản xuất, rất cần quyền sử dụng
đất đai ổn định. Đến nay, cần phá bỏ tư duy cho rằng nông
dân miền núi không tha thiết sổ đỏ đất lâm nghiệp, và cần
chú ý đến thị trường đất đai đang xuất hiện ở miền núi khá
mạnh.
- Kết quả giao đất lâm nghiệp đã tạo được tiền đề để có
những chủ rừng đích thực phát triển kinh tế hộ gia đình.
Đối với hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng tốt các nguồn lực
hỗ trợ từ các chương trình, dự án của nhà nước và của hộ
gia đình để tham gia trồng rừng, bảo vệ rừng trên đất lâm
nghiệp được giao thì thật sự họ đã trở thành người chủ sở
hữu rừng trồng trên đất được giao.Từ đó, đã có tác động
tốt đến phát triển lâm nghiệp, đến tình hình phát triển kinh
tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, ảnh hưởng tích cực đến
sản xuất lâm sản hàng hóa và phát triển kinh tế xã hội ở
nông thôn miền núi.
- Giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp đến hộ gia đình
đã tạo điều kiện nâng cao tư duy kinh tế cho các chủ hộ
gia đình, có thêm nguồn lực mới để “gắn đất đai với lao
động” và phát triển kinh tế hộ gia đình.
Trước đây nông dân miền núi tham gia lâm nghiệp với
vị trí của người làm thuê. Các hộ gia đình ở miền núi rất
thiếu đất đai, sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào sự thăng
trầm của các Lâm trường Quốc doanh. Không có đất, hoặc
thiếu đất, kinh tế hộ nông dân miền núi không thể phát
- Chính sách giao đất lâm nghiệp mới cung cấp nguồn
lực, nhưng chưa tạo được động lực đủ mạnh trồng rừng và
quản lý rừng bền vững. Bởi vì động lực để phát triển lâm
nghiệp bền vững sau khi nhận được quyền sử dụng đất ổn
định thường được tạo ra từ các yếu tố:
+ Quyền sử dụng đất đai của nhà nước và quyền sử dụng
đất đai của người sử dụng đất phải được quy định cụ thể
rõ ràng.
+ Các hộ gia đình cần được hỗ trợ, bổ sung thêm các
nguồn lực khác ngoài đất đai và rừng, nhất là vốn và kỹ
thuật.
+ Thị trường lâm sản và dịch vụ lâm nghiệp phát triển.
+ Kỹ thuật, kỹ năng quản lý đất đai của người có quyền
sử dụng đất phải được nâng cao.
- Công tác giao đất lâm nghiệp trước đây chủ yếu theo
mục tiêu “giao nhanh, cấp nhanh sổ đỏ đến tổ chức và hộ
gia đình”, chưa gắn liền với việc thực hiện chính sách giao
đất lâm nghiệp, nhất là các chính sách hỗ trợ các nguồn
lực khác cho người sử dụng đất lâm nghiệp và chính sách
xúc tiến thị trường lâm sản và dịch vụ lâm nghiệp. Vì vậy,
tuy đã giao và cấp sổ đỏ đến hộ gia đình, nhưng nhiều chủ
rừng vẫn chưa bảo vệ và phát triển đã được diện tích rừng
và đất lâm nghiệp được giao. Mặt khác có những trường
hợp không xác định được phạm vi ranh giới rừng và đất
lâm nghiệp được giao trên thực địa, nên xảy ra tranh chấp
giữa các chủ rừng giáp ranh với nhau.
- Chính sách “khoán đất rừng sản xuất” ở các Lâm
trường quốc doanh, ban quản lý còn nhiều bất cập, bên
nhận khoán vẫn nhận tiền giao khoán hàng năm với bên
giao khoán nhưng thực tế không bảo vệ được diện tích
+ Diện tích đất chưa có rừng : 2.724.936 ha
- Hiện tích rừng và đất lâm nghiệp nằm trên địa bàn
6.093 xã
- Độ che phủ rừng năm 2011 đạt 39,7%. Trong 5 năm
(2006-2011) diện tích rừng cả nước tăng 0,78 triệu ha, độ
che phủ tăng 2,5% (trung bình tang 0,5%/năm).
2. Thực trạng công tác giao rừng, cho thuê rừng
Công tác giao đất, giao rừng trong thời gian qua chủ yếu
được thực hiện theo Nghị định 02/CP ngày 15/03/1995;
Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính
phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ
gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích
lâm nghiệp và Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 về việc hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm
2003. Theo số liệu thống kê, kiểm kê ban hành tại Quyết
định số 2089/QĐ-BNN-TCLN ngày 30/08/2012 của Bộ
NN & PTNN, tính đến ngày 31/12/2011 như sau:
- Tổng diện tích rừng đã giao: 11,4 triệu ha, chiếm
84,4% diện tích rừng toàn quốc (13,5 triệu ha) và chiếm
70,3% so với tổng diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp
(16,24 triệu ha)
Tổng hợp kết quả giao rừng chia theo chủ quản lý cả
nước như sau:
Biểu tổng hợp kết quả giao rừng chia theo chủ quản
lý
TT Chủ quản lý
Diện tích (triệu
ha)
Tỷ lệ
(%)
được nâng cao.
b. Những hạn chế
Mặc dù trên danh nghĩa, phần lớn các diện tích rừng đã
được giao cho các chủ quản lý, sử dụng, nhưng thực tế
công tác giao rừng, cho thuê rừng còn có những hạn chế
sau:
- Tỷ lệ diện tích rừng do các doanh nghiệp Nhà nước,
UBND các cấp quản lý chiếm khoảng 50% trong khi đó tỷ
lệ diện tích rừng giao cho các hộ gia đình, cá nhân thấp
(27,5%) làm giảm hiệu quả xã hội của chính sách giao
rừng, cho thuê rừng của Nhà nước và chưa huy động được
nguồn lực to lớn trong dân.
- Nhiều nơi diện tích rừng giao cho chủ rừng và người
dân chưa xác định cụ thể trên bản đồ và thực địa; hồ sơ
giao đất, giao rừng thiếu nhất quán, quản lý không chặt
chẽ và không đồng bộ. Có những diện tích rừng và đất
lâm nghiệp được giao/ quản lý đã bị chuyển đổi mục đích
khác nhưng không bị xử lý hoặc làm ngơ.
- Diện tích rừng có chủ thực sự rất thấp, dẫn đến tình
trạng rừng chưa được bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu
quả. Qua đánh giá của một số địa phương hiệu quả sau
giao rừng chỉ đạt 20% - 30%. Nhiều doanh nghiệp Nhà
nước quản lý diện tích rừng lớn những không có khả năng
kinh doanh và chưa được tạo điều kiện để sản xuất kinh
doanh có hiệu quả các diện tích rừng được giao. Các diện
tích rừng do UBND các cấp quản lý thì cơ bản vẫn trong
tình trạng vô chủ hoặc không được bảo vệ, quản lý tốt.
Nhiều diện tích rừng giao cho các hộ gia đình, cá nhân
chưa phát huy hiệu quả kinh tế, người dân vẫn chưa sống
được bằng nghề rừng.
cơ quan Nhà nước các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở về giao
rừng, cho thuê rừng rất hạn chế. Điều tra, quy hoạch các
loại rừng và đánh giá chất lượng rừng để làm cơ sở cho
việc giao rừng, cho thuê rừng chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Công tác phổ biến, tuyên tuyền, giáo dục pháp luật và
cơ chế chính sách về lâm nghiệp còn hạn chế và chưa thực
sự có hiệu quả. Người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa
chưa tích cực tham gia nhận rừng, cũng như quản lý và sử
dụng có hiệu quả diện tích rừng được giao.
- Việc giám sát, theo dõi, đánh giá hiệu quả công tác
giao rừng, cho thuê rừng, sủ dụng rừng sau khi giao, cho
thuê chưa được làm thường xuyên.
3. Sự cần thiết tăng cường công tác giao rừng, cho
thuê rừng
Mục tiêu của Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt
Nam là tiếp tục triển khai các biện pháp bảo vệ có hiệu
quả diện tích rừng hiện có và phát huy sử dụng tối đa lợi
thế của rừng, tiềm năng lao động ở địa phương; bảo vệ
rừng gắn với phát triển bền vững tài nguyên rừng góp
phần nâng độ che phủ của rừng lên 43% vào năm 2015,
45% vào năm 2020 và cải thiện đời sống người dân miền
núi, xây dựng nông thôn mới ( Quyết định số 57/QĐ-TTg
ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020).
Như vậy, để đạt được mục tiêu trên cần phải tăng cường
công tác giao rừng, cho thuê rừng cho các thành phần kinh
tế để phát triển sản xuất và tăng nguồn thu trong lâm
nghiệp. Bên cạnh đó, áp lực về dân số các vùng có rừng
tăng nhanh, đòi hỏi cao về đất ở và đất canh tác, những
đối tượng này chủ yếu là những hộ nghèo, đời sống gặp
thích hợp khuyến khích mọi thành phần tham gia nhận
đất, nhận rừng để quản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh
hiệu quả.
4. Xây dựng, lập kế hoạch bố trí đủ nguồn kinh phí cho
công tác giao đất, giao rừng và cho thuê rừng theo tiến độ
kế hoạch đề ra.
5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về Luật
BV&PT Rừng, Luật đất đai và các văn bản liên quan đến
chủ trương, chính sách giao rừng, cho thuê rừng đến mọi
tầng lớp nhân dân, để nhân dân tham gia nhận rừng, thuê
rừng quản lý, sử dụng.
6. Xây dựng phần mềm quản lý thành quả giao rừng,
thuê rừng gắn với giao đất, thuê đất lâm nghiệp toàn quốc.
Quy định rõ ràng chế độ quản lý hồ sơ giao và cho thuê
rừng, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý bảo vệ và phát
triển rừng.
7. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý,
sử dụng của các chủ rừng sau khi được giao, cho thuê
rừng.
8. Tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực quản lý và
chuyên môn kỹ thuật cho các bộ cấp cơ sở về giao rừng
cho, thuê rừng.
9. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định thống
nhất việc quản lý đất và quản lý rừng tự nhiên sau khi
giao.
10. Chỉ đạo quyết liệt việc giao rừng, cho thuê rừng gắn
liền với giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Trong trường hợp, nếu không kết hợp
được với giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận
quyền sử đất thì vẫn tiến hành giao rừng, cho thuê rừng và
giao đất giao rừng gắn với giao đất, cho thuế đất lâm
nghiệp. Tiến hàng rà soát, đánh giá việc sử dụng rừng và
đất lâm nghiệp của các chủ rừng, kiên quyết thu hồi
những diện tích quản lý, sử dụng không hiệu quả; nghiên
cứu, sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm phát luật
về giao đất giao rừng cho phù hợp với thực tiễn hiện nay,
đồng thời có chính sách hưởng lợi thích hợp khuyến khích
mọi thành phần tham gia nhận đất, nhận rừng để quản lý,
bảo vệ và sản xuất kinh doanh hiệu quả; xây dựng, lập kế
hoạch bố trí đủ nguồn kinh phí cho công tác giao đất, giao