ĐIỀU TRỊ BỆNH LOÃNG XƯƠNG
I- Khái niệm tổng quát:
Loãng xương là một bệnh gây giảm mật độ chất khoáng và sức đề kháng
(résistance) của toàn thể xương của cơ thể khiến xương dể bị gãy.
Một cách đơn giản, có thể xem xương được xây dựng từ một khung lưới bằng
protéine, và calcium đến đóng kết trên khung lưới protéine đó, tạo nên độ cứng và
sức đề kháng của xương.
Xương phát triển dần dần trong giai đoạn tuổi trưởng thành và vài năm sau đó để
đạt đến mức độ tối đa (pic) về kích thước và khối lượng. Cao độ nầy thay đổi tùy
theo từng cá nhân và tùy thuộc phần lớn vào đặc tính di truyền từng người, tuy
nhiên yếu tố dinh dưỡng và hoạt động thể lực hàng ngày cũng giữ vai trò rất quan
trọng.
Xương là cơ quan chịu sự biến chuyển, thay đổi không ngừng với những chu kỳ
phá hủy và tái tạo xương mới, do đó cơ thể cần được cung cấp đầy đủ các yếu tố
cần thiết để cho sự tái tạo xương tiến triển tốt.
Nếu vì lí do nào đó, cơ thể không có đủ các yếu tố cho sự tái tạo của xương
(calcium, protéine, vit D ) xương sẽ bị loãng, suy yếu, dể bị gãy.
Xương chứa 99% lượng calcium của cơ thể và là kho dự trử calcium của cơ thể.
Calcium không những góp phần tạo độ cứng của xương mà còn là yếu tố cần thiết
cho sự hoạt động của các tế bào trong cơ thể.
Bình thường lượng calcium trong máu (calcémie) phải luôn luôn được ổn định, để
giữ lượng calcium trong máu được ổn định, cơ thể nhờ vào một hệ thống điều hoà
khá tinh tế với sự đóng góp của vit D và kích thích tố parathormone:
Vit D: Được cung cấp từ thức ăn và chế biến từ da dưới ảnh hưởng tia xạ
UV của ánh sáng mặt trời. Do đó những người sinh hoạt ngoài trời (làm
vườn, lao động, đi bộ, du lịch ) ít có nguy cơ bị bệnh loãng xương.
Parathormone là kích thích tố tiết ra từ tuyến cận giáp trạng.
bệnh loãng xương. Ở phái nữ bệnh thường bắt đầu từ lúc mãn kinh (50-55 tuổi).
Gãy xương là biến chứng chủ yếu và trầm trọng nhất của bệnh loãng xương.
Vì tính cách phổ thông và sự trầm trong của nó, OMS coi bệnh loãng xương là
một trong những quan ngại hàng dầu của y tế cộng đồng hiện nay.
Mỗi năm ở Pháp có khoảng 35.000 trường hợp gãy cổ tay, 50.000 trường hợp gãy
cổ xương đùi. Về trường hợp gãy xương cột sống, khoảng 50.000 cas được định
bệnh mỗi năm, nhưng người ta ước tính thực sự có khoảng 150.000 cas vì 2/3
trường hợp gãy xương cột sống không được định bệnh và bị bỏ qua vì ít có triệu
chứng lâm sàng.
Nguy cơ gãy xương gia tăng với tuổi: khi bị biến chứng gãy xương 90% nữ giới,
70% nam giới có tuổi lớn hơn 70.
Gãy xương là biến chứng trầm trọng vì có thể gây tử vong (20%), mất độc lập
trong hoạt động hàng ngày (50%) nhất là ở bệnh nhân cao tuổi, không chỉ vì biến
chứng của phẩu thuật mà còn vì các biến chứng do sự nằm viện lâu ngày.
Ở Pháp có hơn 1/5 người ở tuổi từ 65 trở lên bị té ít nhất một lần trong một năm.
Mỗi năm có khoảng 91.000 trường hợp nhập viện vì lí do gãy xương và ở những
nguời từ 75 tuổi trở lên, cần trị liệu bằng phẩu thuật trong 4/5 trường hợp.
IV- Triệu chứng lâm sàng - Định bệnh:
Ở giai đoạn chưa có biến chứng, bệnh loãng xương có tiến triển thầm lặng, nghĩa
là không có triệu chứng lâm sàng dể báo động bệnh nhân, không gây đau, không
gây cứng khớp hoặc bại liệt thường chỉ được phát hiện khi bệnh nhân bị gãy
xương.
Gãy xương là biến chứng chủ yếu và trầm trọng nhất của bệnh loãng xương.
Gãy xương thường xãy ra ở xương cột sống, cổ xương đùi, xương cổ tay.
Khòm lưng, lưng bị vẹo, mất chiều cao quá nhanh chóng ở người cao tuổi là thể
hiện lâm sàng của gãy xương hoặc xẹp xương của cột sống, đôi khi rất khó thấy ở
hình X quang standard.
Xẹp xương ở vùng cổ không bao giờ gây đau (ngoại trừ trường hợp nặng do chấn
thương), ở những xương khác của cột sống thường gây đau nhẹ , nhưng khó trị
bằng các thuốc chống đau thông thường.
Chỉ định cần xét nghiệm ostéodensitométrie:
Trước một bệnh cảnh gây nghĩ đến bệnh loãng xương cần phải hỏi bệnh và tìm
kiếm các yếu tố nguy cơ sinh bệnh và nguy cơ gãy xương trước khi chỉ định làm
xét nghiệm đo độ đặt của xương (ostéodensitométrie). Thêm vào đó, cần phải tìm
các bệnh lí hoặc dược liệu có thể là nguyên nhân của bệnh loãng xương để có xét
nghiệm và điều tri thích ứng.
Ostéodensitométrie chỉ được chỉ định khi nào kết qủa xét nghiệm cho phép mở
hướng hoặc thay đổi diều trị bệnh.
Các chỉ định của ostéodensitométrie có thể phân chia làm 2 nhóm như sau:
a- Trong trường hợp tổng quát, không phân biệt tuổi và giới tính:
Trường hợp bệnh nhân có triêu chứng bị bệnh loãng xương như: xương
sống có hình dạng bất bình thường ở X quang, bị khòm hoặc vẹo cột sống
không do chấn thương hoặc u bướu, tiền căn cá nhân bị gãy xương ở các
chi không vì lí do chấn thương (không kể gãy các xương ở ngón chân, ngón
tay, xương dầu, xương cột sống).
Dùng dược liệu có nguy cơ sinh bệnh loãng xương như điều trị bằng
cortioides qua đường tổng quát trơng thời gian tối thiểu 3 tháng liên tục, với
liều lớn hơn 7,5 mg/ngày prednisone (hoặc tương đương), tiền căn cá nhân
bị bệnh cường giáp trạng đang tiến tiển hoặc cường cận giáp trạng nguyên
phát (primitive), tiền căn bệnh hypogonadisme lâu năm, kể cả trường hợp
cắt tuyến (orchidectomie) với mục đích làm mất kích thích tố nam bằng
phương pháp giải phẩu, hoặc bằng thuốc (dùng dược chất tương đương Gn-
RH trơng thời gian lâu).
b- Trường hợp bệnh nhân là phụ nữ mãn kinh (kể cả trường hợp đang dùng kích
thích tố nữ nhưng liều lượng còn thấp so với liều cần thiết để phòng ngừa loãng
xương):
Bao gồm những chỉ định ở (a), thêm vào đó những chỉ định sau đây:
Nếu có cha, mẹ hoặc anh, chị, em (tiền căn gia đình cấp 1) bị gãy cỗ xương
đùi mà không phải do chán thương.
nhằm đạt được khối lượng xương tối đa trong thời gian tuổi trưởng thành, kế tiếp
là loại bỏ những yếu tố nguy cơ gây mất xương nhanh chóng.
Nếu có một nguyên nhân bệnh lí gây ra bệnh loãng xương, điều trị nguyên nhân sẽ
được kết hợp với các phương pháp dinh dưỡng.
Trong một số trường hợp, có thể dùng thuốc để phòng ngừa bệnh.
1- Cải thiện dinh dưỡng và lối sống:
Nếu có một số yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được như tuổi, giới tính, di
truyền phần lớn các yếu tố nguy cơ khác có thể cải thiện qua các biện pháp dinh
dưỡng và lành mạnh hóa cuộc sống.
a- Thể thao, thể dục, vận động hàng ngày:
Thể thao, thể dục, hoạt động thể lực hàng ngày có tác dụng tốt cho sự tăng trưởng
va duy trì độ đặt của xương:
Ở trẻ em và tuổi vị thành niên, vận động thể lực đóng vai trò nổi bật trong việc
nâng cao sự thành lập khối lượng xương tối đa.
Ở mọi lứa tuổi, các báo cáo y khoa đều công nhận vận động thể lực có tác dụng tốt
trong việc duy trì độ cứng của xương: 45 phút , 3 lần trong tuần, đi bộ, chạy bộ, xe
đạp, bơi lội tùy hoàn cảnh, là hoạt động tối thiểu để đạt được mục đích trên.
b- Cung cấp đầy đủ vit.D và calcium:
Nhu cầu calcium cần thiết hàng ngày được ước tính khoảng 1000mg ở người lớn
và khoảng 1200mg ở người cao tuổi.
Thiếu vit.D và calcium là yếu tố nguy cơ quan trọng gây loãng xương. Cung cấp
đầy đủ vit.D và calcium rất quan trọng ở trẻ em , trong giai đoạn thành lập xương.
Do đó mỗi ngày nên có ít nhất một khẩu phần thực phẩm chế biến từ sửa (produits
laitiers) như yaourt, bánh, fromage
Cần phải cẩn thận đối với các chế độ ăn kiên quá nghèo về các chất dinh dưỡng
nhất là ở tuổi nhỏ và tuổi trưởng thành ( thận trọng các chế độ ăn kiên gây ốm của
các cô, các bà).
Chế độ dinh dưỡng bình thường ít khi cung cấp thiếu calcium và thường thiếu
vit.D nhất là ở người già. Cung cấp thêm Vit.D và calcium cho người già thường
là biện pháp phòng ngừa cần thiết, nhất là những người sống ở viện dưỡng lão và
B- Điều trị bệnh loãng xương bằng thuốc:
Dược liệu và phương cách dùng tùy thuộc mức độ nguy cơ gãy xương, kết quả xét
nghiệm ostéodensitométrie và những yếu tố nguy cơ khác.
Cùng với điều trị bằng dược liệu cần phải có biện pháp phòng ngừa té ngã đối với
những bệnh nhân khuyết thị, khả năng di chuyển yếu kém (bệnh cơ, bệnh thần
kinh), cải thiện thiết bị nội thất, tránh dùng thuốc an thần, thuốc ngủ
Trước khi tiến hành điều trị bằng thuốc cũng cần phải điều chỉnh tình trạng thiếu
vit.D, thiếu calcium nếu có.
1- Ở bệnh nhân đã có gãy xương:
Thuốc: hiện đang được dùng ở Pháp:
Thuộc nhóm bisphosphonates :
alendronate 10 và 70 mg (Fosamax),
alendronate 70mg + cholécalciférol 2800 UI (Fosavance)
risédronate 5 và 35 mg (Actonel),
étidronate 400 mg (Didronel), ít được dùng hơn so vối alendronate và
risédronate vì kém hiệu quả trong điều trị chống gãy xương.
ibandronate (Bonviva), chỉ có hiệu quả đối với gãy xương cột sống.
Những thuốc khác:
raloxifène (tác dụng điều hoà ở các thụ thể estrogènes), (Evista, Optruma)
sử dụng ở phụ nữ mãn kinh có nguy cơ về gãy xương cột sống; chưa có dữ
liệu về các gãy xương khác.
ranélate de strontium (Protelos) giảm nguy cơ gãy xương cột sống và cổ
xương đùi.
tériparatide (parathormone) (Forsteo) được dùng cho những trường hợp có
nguy cơ gãy xương cao với ít nhất 2 gãy xương ở cột sống.
Chỉ định:
Nếu T score ≤ - 2,5 , tức là bị bệnh loãng xương: điều trị với
bisphosphonate, raloxifène hoặc ranélate de strontium.
Nếu có từ 2 gãy xương trở lên ở cột sống: điều trị bằng tériparatide.
Nếu - 2,5 < T score ≤ - 1 tức chất xương bị giảm nhưng chưa phải bệnh
Do đó trước khi bắt đầu tiến hành trị liệu bệnh nhân cần phải được giải thích và tin
chắc có thể theo đuổi điều trị trong suốt thời gian nầy.
Nếu có biến cố gãy xương xảy ra sau một năm điều trị, cần phải tái đánh
gíá sự trung thành theo đuổi trị liệu trong thời gian qua của bệnh nhân. Nếu
bệnh nhân dùng thuốc tốt, phải ngừng điều trị nầy và thay thế bằng một
thuốc khác, cùng hoặc khác nhóm thuốc.
Nếu có biến cố gãy xương xảy ra sau hai, ba năm điều trị, quyết định ngưng
thuốc hoặc thanh đổi thuốc khác tùy thuộc vào sự taí đánh giá mức độ nguy
cơ gãy xương.
VI- Thay lời kết luận:
Với sự cải thiện đời sống, mỗi năm tuổi thọ của con người đựoc tăng thêm khoãng
3 tháng, tổng lượng người gìà trong xã hội sẽ gia tăng nhanh chóng và bệnh loãng
xương đang là mối quan tâm càng ngày càng lớn của y tế cộng đồng.
Do đó diều trị và phòng chống hữu hiệu bệnh loãng xương đã trở thành thử thách
quan trọng của các nghiên cứu y khoa từ những năm gần đây.