Bàn về cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay – Phần 1 - Pdf 19

Bàn về cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay –
Phần 1

Bảo hiến là vấn đề đặc biệt được coi trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc
biệt là đối với các nước xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền. Hiện nay, chúng
ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền cho nên việc nghiên cứu về vấn đề bảo
hiến trở nên hết sức cần thiết. Chúng ta đã có cơ chế bảo hiến hay chưa? Cơ chế
bảo hiến hiện nay như thế nào? Hiệu quả chưa? Nếu chưa thì cơ chế bảo hiến nào
là hiệu quả?
Ngày nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Điều này đã được Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) ghi
nhận : ”Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” (Điều 2). Những đặc
trưng cơ bản nhất của một Nhà nước pháp quyền nói chung là tính thượng tôn
pháp luật và bảo đảm dân chủ. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải tạo dựng và phải tiếp tục hoàn
thiện, đảm bảo có được hai đặc trưng đó. Tuy nhiên, đây là một bài tóan khó mà
muốn giải được nó đòi hỏi chúng ta phải có nhiều bước giải khác nhau với các quy
trình và thủ thuật thích hợp. Ở đây, chúng tôi muốn nói rằng, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi phải đầu tư rất nhiều “chất xám”
và công sức. Chúng ta phải thực hiện rất nhiều việc trong thời gian lâu dài mới có
thể xây dựng được. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đề cập đến một trong
những việc đó. Đó chính là xây dựng “cơ chế bảo hiến”.
Bảo hiến là vấn đề đặc biệt được coi trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc
biệt là đối với các nước xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền. Hiện nay, chúng
ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền cho nên việc nghiên cứu về vấn đề bảo
hiến trở nên hết sức cần thiết. Chúng ta đã có cơ chế bảo hiến hay chưa? Cơ chế
bảo hiến hiện nay như thế nào? Hiệu quả chưa? Nếu chưa thì cơ chế bảo hiến
nào là hiệu quả? Chúng ta phải nghiên cứu để có được câu trả lời hợp lí nhất cho
những câu hỏi đó. Chúng ta phải nghiên cứu để xây dựng, để có được cơ chế bảo
hiến hữu hiệu trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặc dù đã

Tại Hội nghị, Đảng ta nêu ra nhiệm vụ: “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền Việt Nam
được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy
liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng,
do Đảng ta lãnh đạo”. Từ đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, trường kỳ.
Tư tưởng đó được phát triển tại các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo và chính thức trở
thành một vấn đề Hiến định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân”[1]. Như phần mở đầu chúng tôi đã có đề cập, một trong những đặc
trưng chung nhất của Nhà nước pháp quyền là tính tối cao của Hiến pháp, pháp
lụât, trước hết là vị trí tối thượng của Hiến pháp. Hiến pháp và Nhà nước pháp
quyền, đó là hai yếu tố không thể tách rời nhau, không thể có cái này mà không có
cái kia. “Lý thuyết về Hiến pháp (Chủ nghĩa lập hiến) đồng thời cũng là lý thuyết
về Nhà nước pháp quyền. Nội dung, yêu cầu của Hiến pháp cũng chính là nội
dung, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Nói cách khác, nội dung của Hiến pháp
điều chỉnh những vấn đề thuộc về nội dung, yêu cầu của Nhà nước pháp
quyền”[2]. Vì vậy, Hiến pháp, tính tối thượng của Hiến pháp trở thành một đòi hỏi
không thể tách rời Nhà nước pháp quyền.”Nhưng sự hiện diện của Hiến pháp chỉ
là yếu tố cần chứ chưa phải là đủ của một chế độ dân chủ, của một Nhà nước pháp
quyền, nếu như các cơ quan công quyền thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp vượt quyền, lạm quyền, vi phạm thẩm quyền được Hiến pháp ghi nhận, ban
hành các văn bản họăc thực hiện các hành vi trái Hiến pháp có khả năng hoặc thật
sự đã gây thiệt hại cho công dân, cho các tổ chức xã hội. Vì vậy, để chế độ Hiến
pháp được tôn trọng và bảo đảm trên thực tế, cần phải có cơ chế hữu hiệu bảo vệ
và khôi phục trật tự hiến định”[3]. Để đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp thì
nó cần phải được bảo vệ. Hiến pháp, tính tối thượng của Hiến pháp không thể bị
xâm phạm vì bất kỳ lí do gì. Do đó, chúng ta cần phải có một cơ chế bảo hiến - cơ

Không những vậy, cơ chế bảo hiến còn là một đòi hỏi, một nhu cầu mang tính
nguyên tắc. Đó chính là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. “Pháp chế xã hội
chủ nghĩa được hiểu là chế độ tuân thủ nghiêm chỉnh, chính xác hiến pháp và luật
của mọi chủ thể của các quan hệ pháp luật. “Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992” quy định tại điều 12 “Nhà nước quản lí xã hội
bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Nguyên
tắc này cũng được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước ở Việt Nam. Trong hoạt động lập pháp, hành pháp và
tư pháp, cần triệt để tôn trọng, thi hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật.
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải bảo đảm tính thống nhất của
pháp chế, bảo đảm tính tối cao của hiến pháp và luật, bảo đảm và bảo vệ các
quyền và tự do cơ bản của công dân đã được pháp luật quy định, ngăn chặn kịp
thời và xử lí nhanh chóng, công minh mọi hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm sự
thống nhất giữa pháp chế và tính hợp lí, công bằng”[4]. Như vậy, nguyên tắc này
đã khẳng định tính tối cao của Hiến pháp. Đã là nguyên tắc thì phải được tuân thủ
nghiêm ngặt. Nhưng trên thực tế, khó tránh khỏi nguyên tắc này bị vi phạm. Do
đó, để ngăn ngừa và xử lí việc vi phạm, một nhu cầu tất yếu là phải có biện pháp
bảo vệ. Cơ chế bảo hiến đáp ứng được nhu cầu đó.
Trên đây là một vài lý do để có một cơ chế bảo hiến. Chúng tôi cho rằng đó là
những lý do hết sức thuyết phục để có một cơ chế bảo hiến hữu hiệu ở nước ta. Và
những lý do đó cũng là những đòi hỏi khách quan, tất yếu về một cơ chế bảo hiến.
Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng
là lý do để có cơ chế bảo hiến. Đến lượt mình, cơ chế bảo hiến trở thành đòi hỏi tất
yếu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì nó đảm bảo đặc trưng
của mô hình Nhà nước này, đảm bảo được dân chủ.
Tuy nhiên, chúng ta cũng lưu ý rằng, cơ chế bảo hiến chỉ đặt ra đối với Hiến
pháp cương tính. Vì Hiến pháp cương tính mới đòi hỏi hiến pháp ở vị trí tối
thượng, có hiệu lực pháp lý cao nhất và thủ tục sửa đổi phải tuân thủ nghiêm ngặt
những trình tự phức tạp. Đối với Hiến pháp nhu tính thì không có đòi hổi đó, Hiến
pháp nhu tính chỉ có vị trí như thường luật và thủ tục sửa đổi dễ dàng. Nếu một

nhân dân ta, dân tộc ta, khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - Nhà
nước công nông đầu tiên ở đông Nam châu Á. Ngày 03/09/1945, tại phiên họp đầu
tiên của Chính phủ, Hồ Chủ Tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ,
trong đó có nhiệm vụ lập ra một Hiến pháp dân chủ: "Trước chúng ta đã bị chế độ
quân chủ cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta
không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng
ta phải có một Hiến pháp dân chủ". Ngày 20/9/1945 Chính phủ lâm thời ban hành
Sắc lệnh số 34 thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người, do Chủ tịch Hồ Chí
Minh đứng đầu. Tháng 11/1945 bản Dự thảo Hiến pháp đầu tiên được công bố để
nhân dân đóng góp ý kiến. Ngày 9/11/1946 tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I
(do cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 bầu) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên
của nước ta.
Nền độc lập dân tộc vừa mới giành được lại bị đe dọa vì Thực dân pháp quay lại
xâm lược. Với niềm tin "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi" dưới sự lãnh
đạo của đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta làm nên chiến thằng Điện Biên Phủ
lịch sử. Thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (21/07/1954), miền Bắc được
giải phóng nhưng đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền. Nhiệm vụ cách mạng
trong giai đoạn mới này là: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh
thống nhất nước nhà. Hiến pháp năm 1946 “đã hoàn thành sứ mệnh của nó. Nhưng
so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp
nữa. Vì vậy, chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy”. (Hồ Chí Minh: Báo cáo về Dự
thảo Hiến pháp sửa đổi năm 1959). Ngày 23/1/1957 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội
khóa I đã ra nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp và thành lập Ban sửa đổi Hiến
pháp đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 1/4/1959 Dự thảo Hiến pháp sửa
đổi công bố để nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến. Tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội
khóa I, ngày 31/12/1959 Hiến pháp sửa đổi được thông qua và ngày 1/1/1960 Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp này.
Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975 đã mở ra một
giai đoạn phát triển mới trong lịch sử cách mạng nước ta nói chung, lịch sử lập
hiến Việt Nam nói riêng. Đó là thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất, cùng thực

đổi Hiến pháp để sửa đổi một cách cơ bản, toàn diện Hiến pháp 1980 nhằm đáp
ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Ngày 15 tháng 4 năm 1992 tại kỳ họp
thứ 11 Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp 1980.
Sau gần một thập kỷ tồn tại, đất nước có nhiều đổi mới, phát triển. Để phù hợp với
tình hình mới, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X (12/2001), Quốc hội đã thông
qua Nghị quyết 51/2001/QH10, sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992.
2.2. Cơ chế bảo hiến ở Việt Nam
Nhìn lại lịch sử lập hiến Việt Nam, chúng ta nhận thấy rằng dù chưa lâu đời nhưng
chúng ta đã có được một nền lập hiến dân chủ. Ngay từ đầu, ngay từ bản Hiến
pháp đầu tiên, chúng ta đã để cao vai trò của Hiến pháp. Trên thực tế, mặc dù Hiến
pháp 1946 không được ban hành rộng rãi trong nhân dân vì hoàn cảnh chiến tranh
nhưng Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.Chính vì ngay từ đầu chúng ta đã
đề cao tính tối cao của Hiến pháp nên đã sớm hình thành cơ chế bảo hiến. Tuy
nhiên, trong thời gian đầu cơ chế này không thể hoàn thiện hay đầy đủ được cũng
như chưa đáp ứng trọn vẹn về mặt ngữ nghĩa của cụm từ này. Cơ chế là cách thức
theo đó một quá trình được thực hiện. Theo nghĩa rộng: cơ chế bảo vệ hiến pháp là
tổng thể những cách thức và phương tiện pháp lý khác nhằm bảo đảm sự tuân thủ
nghiêm chỉnh hiến pháp của mọi cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong xã
hội. Theo nghĩa hẹp: cơ chế bảo hiến được hiểu là một thiết chế được tổ chức và
hoạt động theo những nguyên tắc xác định của pháp luật để thể hiện các biện pháp
nhằm bảo đảm cho Hiến pháp được tôn trọng, giữ đúng vai trò của nó trong đời
sống nhà nước, đời sống xã hội và chống lại mọi sự xâm phạm có thể xảy ra; được
hiểu là hoạt động được thể hiện bởi một cơ quan nhằm gìn giữ cho Hiến pháp
không bị xâm phạm, đặc biệt là từ trong hoạt động ban hành và thực thi các đạo
luật, bảo vệ Hiến pháp thuờng gắn liền với việc cơ quan có thẩm quyền xem xét và
ra quyết định về tính hợp hiến của các đạo luật do cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp hoặc cũng có thể là cơ quan tư pháp ban hành đồng thời xét xử các hành vi vi
phạm hiến pháp của các cơ quan hành pháp quyết định. Cơ chế bảo hiến ở nước ta
trong thời gian đầu chính là được hiểu theo nghĩa rộng của từ này. Nó đảm bảo

việc sửa đổi Hiến pháp có thủ tục bắt buộc là đưa ra "tòan dân phúc quyết". đây là
một trong những đặc điểm thể hiện tính dân chủ của Hiến pháp này, và là một
trong những biện pháp nhằm mục đích bảo hiến, bảo vệ ý nguyện của nhân dân.
Cơ chế bảo hiến trong Hiến pháp 1959: Chúng ta thấy rằng, dù Hiến pháp 1946,
có quy định việc sửa đổi Hiến pháp nhưng chưa khẳng định hiệu lực pháp lý của
Hiến pháp. Hiến pháp năm 1959 cũng chưa khẳng định điều này. Tuy nhiên, qua
những gì được ghi trong Hiến pháp này thì tính tối cao của Hiến pháp cũng đã
gián tiếp được thừa nhận. Hiến pháp này quy định:
- Điều 50: “Quốc hội có những quyền hạn sau:
1- Làm hiến pháp sửa đổi hiến pháp
2- Làm pháp luật
3- Giám sát việc thi hành hiến pháp.
……………… ”
Những điều trên đã hạn chế quyền lực của quốc hội trong một định khung, tức là
Hiến pháp đã gián tiếp thể hiện tính tối cao của mình đối với cơ quan quyền lực tối
cao nhất trong bộ máy nhà nước.
- Điều 112: “Chỉ có quốc hội mới có quyền sửa đổi hiến pháp.Việc sửa đổi phải
được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu quốc hội biểu quyết tán thành”.
- Điều 73: “Hội đồng chính thể căn cứ vào hiến pháp, pháp luật và pháp lệnh mà
quy định những biện pháp hành chính, ban bố những nghị định, nghị quyết, chỉ thị
và kiểm tra việc thi hành những nghị định , nghị quyết và chỉ thị ấy”.
- Điều 105: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc hội đồng chính phủ, cơ
quan nhà nước và công dân.Các viện kiểm sát nhân dân địa phương và viện kiểm
sát nhân địa phương và viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do
luật định".
Như vậy, Hiến pháp 1959 đã đề cập đến vấn đề bảo hiến một cách đầy đủ hơn
Hiến pháp 1946. Đã có nhiều chủ thể tham gia bảo hiến, đã có cơ chế giám sát văn
bản quy phạm pháp lụât.
Cơ chế bảo hiến trong Hiến pháp 1980:Kế thừa nhứng gì đã quy định trong hiến

Nhà nước, giám sát hoạt động của bộ máy Nhà nước".
- Điều 100: "Hội đồng Nhà nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

3- Công bố luật.
4- Ra pháp lệnh.
5- Giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh.
6- Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân.
7- Giám sát công tác của Hội đồng bộ trưởng, của Toà án nhân dân tối cao và của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
8- Đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết, nghị định,
quyết định của Hội đồng bộ trưởng trái với Hiến pháp, luật và pháp lệnh.

10- Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của các Hội đồng
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương; giải tán các
Hội đồng nói trên trong trường hợp các Hội đồng đó làm thiệt hại nghiêm trọng
đến quyền lợi của nhân dân.

16- Phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước quốc tế, trừ trường hợp xét thấy cần
trình Quốc hội quyết định".
- Điều 107: "Hội đồng bộ trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật.

22- Tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật
trong nhân dân.
23- Đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông
tư không thích đáng của các bộ và các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng.
24- Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của các Hội đồng
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, đồng thời đề
nghị Hội đồng Nhà nước sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết đó.
25- Đình chỉ việc thi hành và sử đổi hoặc bãi bỏ những quyết định và chỉ thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status