THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2001-2007 - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với bất kỳ một nền kinh tế nào, để tạo ra tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững
đếu phải có sự đầu tư đúng hướng; trong đó, cơ cấu đầu tư phải phù hợp và phục vụ cho
chiến lược về cơ cấu kinh tế. Do đó, cần phải có một cơ cấu đầu tư hợp lý, cơ cấu đó phải
khai thác được lợi thế so sánh, đáp ứng được những yêu cầu thị trường chung cho cả nước,
phát huy nội lực và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội.
Trong thời gian qua, tại các kỳ họp quốc hội, Đảng và Nhà nước ta cũng đã và đang đề
ra nhiệm vụ: Để đảm bảo thắng lợi nhiệm vụ phát triển của đất nước cần có sự chuyển dịch
cơ cấu đầu tư một cách hợp lý đó là: Chuyển dịch cơ cấu đầu tư gắn với mục tiêu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá- hiện đại hoá
đất nước; trong khi nhấn mạnh vai trò quan trọng bậc nhất của tích luỹ nội bộ kinh tế,
chúng ta phải coi vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng, kết hợp hai
nguồn lực này trong một thể thống nhất để đầu tư phát triển; đó còn là sự chuyển đổi cơ
cấu đầu tư cần đảm bảo sự phát triển hợp lý giữa các vùng, bên cạnh việc hình thành nên
những vùng kinh tế trọng điểm cần có sự quan tâm đến những vùng sâu, vùng xa, vùng còn
khó khăn.
Trên thực tế, cơ cấu đầu tư của nước ta trong những năm gần đây đã có sự dịch chuyển
khả quan, đáp ứng được những yêu cầu và mục tiêu trên. Tuy nhiên bên cạnh đó, cơ cấu
đầu tư hiện nay cũng còn thể hiện nhiều mặt hạn chế, bất cập. Do đó, việc nghiên cứu cơ
cấu đầu tư, sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư, và từ những thực trạng về cơ cấu đầu tư của Việt
Nam thời gian qua từ đó có thể đưa ra những giải pháp để cơ cấu đầu tư dịch chuyển theo
hướng hợp lý là đúng đắn và cần thiết.
Nhóm chúng em xin được chân thành cảm ơn thầy giáo Từ Quang Phương đã giúp
chúng em hoàn thành đề án này
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ
1.1 Cơ cấu đầu tư
1.1.1 Khái niệm cơ cấu đầu tư
Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu vốn, nguồn vốn cơ cấu

tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước : Nguồn vốn này chủ yếu từ khấu tài sản
cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước. Theo Bộ Kế hoạch va Đầu tư, thông
thường nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 14-15% tổng vốn
đầu tư toàn xã hội, chủ yếu là đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị
hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp.
Vốn đầu tư tư nhân và dân cư : Nguồn vốn tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân
cư, phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo ước tính của Bộ
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kế hoạch và Đầu tư ,tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp dân doanh chiếm bình
quân khoảng 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư gián tiếp vào
khoảng 3,7% GDP, chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư; phần tiết kiệm của dân
cư tham gia đầu tư trực tiếp khoảng 5% GDP và bằng 33% số tiết kiệm được. Đầu tư của
các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có vai trò quan trong đặc biệt trong việc phát triển
nông nghiệp va kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, thương mại, dịch vụ, vận tải trên các địa phương. Ở mức độ nhất định,các hộ
gia đình cũng sẽ là một trong số những nguồn tập trung và phân phối vốn quan trọng trong
nền kinh tế.
Nguồn vốn trong dân cư còn phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia dình.
Quy mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào: Trình độ phát triển của một nước (ở
những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp); tập quán
tiêu dùng của dân cư; chính sách động viên của nhà nước thông qua chính sách phát triển
thuế thu nhập và các khoản đóng góp của xã hội.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và
phát triển. Nó có đặc điểm là tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước nhận
vốn. Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận
vốn nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành nghề đòi
hỏi cao về kĩ thuật hay cần nhiều vốn. Vì thế, nguồn vốn này có tác dụng cực kì to lớn đối

ngành sản xuất sản phẩm xã hội, nhưng cần có tỉ lệ hợp lý vì nếu quá tập trung đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng, không chú ý dến sản xuất kinh doanh thì sẽ không có tăng trưởng.
* Chia cơ cấu đầu tư theo 3 nhóm ngành: Ngành công nghiệp, nông nghiêp, dịch vụ.
Mục đích là đánh giá, phân tích tình hình đầu tư, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,
trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp và dịch vụ, chú ý đầu tư phát triển nông nghiệp hợp
lí ở nước ta hiện nay, nông dân chiếm tỉ trọng phần lớn và nông thôn có vị trí rất quan
trọng trong quá trình phát triển.
Ngành nông nghiệp: Đây là ngành sản xuất vật chất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của nhân dân, là ngành chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân, cung
cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu,đồng thời
cũng là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động xã hội và dân cư ở nước ta.
Nông nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do năng sất lao động trong nông
nghiệp thấp hơn trong các ngành khác, nên nông nghiệp không phát triển nó sẽ trở thành
gánh nặng cho nền kinh tế, sẽ kéo toàn bộ mức tăng trưởng của nền kinh tế. Mặt khác nông
nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng cho toàn xã hội, đảm
bảo sự ổn định kinh tế xã hội để phát triển.Nông nghiệp và nông thôn phát triển sẽ mở rộng
thị trường trong nước, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, công nghiệp sản
xuất hàng xuất khẩu, tích lũy vốn ban đầu và cung cấp lao động cho các ngành sản xuất
khác của nền kinh tế. Nhưng đây là ngành sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên,
tính bấp bênh cao, thu hồi vốn lâu, đòi hỏi vốn lớn cho các công trình thủy lợi, máy móc
trang thiết bị, phòng trừ sâu bệnh… Do vậy chính phủ phải có các chính sách phát triển
nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu ngành một cách thích hợp, sao cho sự phát triển của nông
nghiệp không ảnh hưởng đến đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ mà còn tạo điều
kiện tốt hơn cho sự phát triển của hai ngành này cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Ngành công nghiệp: Để đưa nước ta thoát khỏi một nước nghèo và rút ngắn khoảng
cách tụt hậu so với các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới, chúng ta không thể
chỉ phát triển nông nghiệp mà phải phát triển cả công nghiệp và dịch vụ. Công nghiệp là
ngành quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Ngành này thu
hút một lượng lao động lớn và năng suất lao đông trong ngành này rất cao và tạo ra giá trị
sản lượng công nghiệp tăng nhanh hơn trong các ngành khác, tạo ra lợi nhuận lớn. Ngành

nhằm đáp ứng yêu cầu nhanh, bền vững hiệu quả.
1.1.2.4 Cơ cấu đầu tư phát triển theo địa phương vùng lãnh thổ
Cơ cấu đầu tư phát triển theo địa phương vùng lãnh thổ là cơ cấu đầu tư theo không
gian, phẩn ánh tình hình sử dụng nguồn lực địa phương và việc phát huy thế mạnh cạnh
tranh của từng vùng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Cơ cấu đầu tư phát triển
theo địa phương vùng lãnh thổ phải phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã
hội, khai thác sử dụng có hiệu quả về các nguồn lực lợi thế của vùng, dựa vào nhu cầu của
nền kinh tế, phù hợp xu thế phát triển thế giới. Xác định các vùng kinh tế trọng điểm để ưu
tiên phát triển đồng thời cũng tạo ra động lực để phát triển các vùng kinh tế lạc hậu khó
khăn. Có thể phân tích cơ cấu đầu tư giũa lãnh thổ phát triển (địa bàn là động lực phát triển
) với lãnh thổ kém phát triển (lãnh thổ còn khó khăn) hoặc phân tích cơ cấu đầu tư theo các
vùng lãnh thổ kinh tế.
1.2 Chuyển dịch cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý.
1.2.1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu đầu tư:
Cơ cấu đầu tư phụ thuộc vào nhiều các yếu tố, các yếu tố này lại không cố định. Trong
từng giai đoạn cụ thể khác nhau, cơ cấu đầu tư luôn thay đổi để phù hợp với sự phát triển
với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Để có sự chuyển đổi đó thì cần có sự chuyển dịch
cơ cấu đầu tư. Do vậy sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư là điều cần thiết nhằm hướng tới xây
dựng một cơ cấu đầu tư hợp lý.
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư có thể hiểu là sự thay đổi của cơ cấu đầu tư từ mức độ này
sang mức độ khác, phù hợp với môi trường và mục tiêu phát triển.
Trước hết sự thay đổi cơ cấu đầu tư được thể hiện trên phương diện về vị trí ưu tiên. Từ
đó tuỳ theo từng loại cơ cấu đầu tư sự chuyển dịch sẽ tác động theo hướng ưu tiên cho
những mặt mạnh giúp phát triển một cách hợp lý giữa các mặt, các ngành sao cho đạt hiệu
quả cao nhất.
Sự chuyển dịch không chỉ bao gồm thay đổi về vị trí ưu tiên mà còn có sự thay đổi về
chất trong nội bộ cơ cấu và các chính sách áp dụng.
Về thực chất khi có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư thì cơ cấu vốn, vốn đầu tư, cơ cấu huy
động và sử dụng các loại vốn, nguồn vốn sẽ được điều chỉnh. Như vậy các nhân tố nội bộ
trong cơ cấu đầu tư sẽ được đổi mới để phù hợp với mục tiêu xác định của nền kinh tế,

mục đích hướng tới của nó. Vì vậy một cơ cấu đầu tư tối ưu vừa cho phép nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn, vừa là phương tiện để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý đảm bảo tăng
trưởng nhanh. Cơ cấu đầu tư phụ thuộc vào nhiều nhân tố và các nhân tố đó lại luôn vận
động và phát triển. Vì thế cơ cấu đầu tư cũng như cơ cấu kinh tế không phải là cố định.
Sự thay đổi của cơ cấu đầu tư và sự tác động của nó đến cơ cấu kinh tế diễn ra một cách
thường xuyên, lặp đi lặp lại theo hướng tiến dần đến những cơ cấu kinh tế tối ưu. Nói cách
khác, chuyển dịch cơ cấu đầu tư có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới cơ cấu kinh tế. Quá
trình thay đổi đó mang tính chất khách quan, dưới tác động của các quy luật kinh tế. Định
hướng đầu tư để đổi mới cơ cấu kinh tế trên cơ sở sự tác động của yếu tố đầu tư và có tính
đến những nhân tố ảnh hưởng khác. Sự thay đổi và phát triển của các bộ phận nền kinh tế
cũng sẽ quyết định sự thay đổi số lượng cũng như chất lượng của các ngành trong nền kinh
tế quốc dân theo hướng xuất hiện nhiều ngành mới, giảm tỷ trọng những ngành không phù
hợp, tăng tỷ trọng những ngành lợi thế. Bên cạnh đó chuyển dịch cơ cấu đầu tư cũng làm
thay đổi mối quan hệ giữa các bộ phận của một ngành, của nền kinh tế theo xu hướng ngày
càng lợi thế hơn, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội cho từng bộ phận cũng như toàn bộ
nền kinh tế quốc dân.
Tóm lại, quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư của một quốc gia, ngành, địa phương hay
cơ sở thông qua kế hoạch đầu tư là nhằm hướng tới xây dựng một cơ cấu đầu tư hợp lý với
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện hơn.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.3. Cơ cấu đầu tư hợp lý:
1.2.3.1 Khái niệm
Cơ cấu đầu tư hợp lý là cơ cấu đầu tư phù hợp với các quy luật khách quan, với các điều
kiện kinh tế - xã hội, lịch sử cụ thể trong từng giai đoạn, phù hợp và phục vụ chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, vùng, cơ sở và toàn bộ nền kinh tế. Cơ cấu đầu tư
hợp lý sẽ có tác động tích cực đến đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý
hơn, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực trong nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập, phù
hợp với xu thế kinh tế, chính trị của thế giới và khu vực.
1.2.3.2 Các tiêu chí để đánh giá cơ cấu đầu tư hợp lý

tỷ lệ giữa các nguồn vốn trong doanh nghiệp, giữa vốn chủ sở hữu và vốn đi vay sao cho
tận dụng tối đa mọi nguồn lực, giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
1.2.4.2. Cơ cấu vốn đầu tư hợp lý:
Như giới thiệu ở phần trên, chúng ta biết cơ cấu vốn đầu tư thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa
từng loại vốn trong tổng vốn đầu tư xã hội, vốn đầu tư của doanh nghiệp hay của một dự
án.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong thực tế, có một số cơ cấu vốn đầu tư quan trọng cần được chú ý xem xét như:
- Cơ cấu kĩ thuật của vốn (vốn xây lắp và vốn máy móc thiết bị trong tổng vốn đầu tư.
- Cơ cấu vốn đầu tư cho hoạt động XDCB.
- Cơ cấu vốn đầu tư cho công tác nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ.
- Cơ cấu vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực.
- Cơ cấu vốn đầu tư cho tái tạo tài sản lưu động và những chi phí khác như: chi phí
quảng cáo, tiếp thị...
- Cơ cấu vốn đầu tư theo quá trình lập và thực hiện dự án như chi phí chuẩn bị đầu tư, chi
phí thực hiện đầu tư...
Vậy một cơ cấu vốn đầu tư hợp lý là cơ cấu mà vốn đầu tư được ưu tiên cho bộ phận
quan trọng nhất, phù hợp với yêu cầu và mục tiêu đầu tư. Và bộ phận được ưu tiên cung
cấp vốn này thường chiếm một tỷ trọng khá cao.
1.2.4.3. Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành hợp lý:
Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành là cơ cấu thực hiện đầu tư cho từng ngành kinh tế
quốc dân cũng như trong từng tiểu ngành. Từ đó sẽ thể hiện việc thực hiện chính sách ưu
tiên, phát triển, chính sách đầu tư đối với từng ngành trong một thời kỳ nhất định.
Trong thực tế, một quyết định đầu tư có thể làm thay đổi số lượng tuyệt đối của các
ngành, tiểu ngành cấu thành nền kinh tế quốc dân. Những ngành, tiểu ngành mới xuất hiện
sẽ ngày càng hiệu quả với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ như các ngành
công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao. Bên cạnh đó, một số ngành không phù
hợp với xu thế phát triển của thời đại sẽ giảm vai trò và tỷ trọng của mình trong nền kinh
tế. Điều đó là do nhu cầu xã hội về ngành đó ngày càng giảm hoặc không còn thiết thực

chiến lược trên là tạo ng uồn lực lớn lôi kéo các vùng phát triênt nhưng vẫn đảm bảo các
vúng khó khăn, vùng sâu, vùng xa không bị tụt hậu nhiều.
Cụ thể ở Việt Nam, việc đầu tư cho nông nghiệp nông thôn là một trong những hoạt
động đầu tư quan trọng nhất, hiệu quả nhất trong việc xoá đói, giảm nghèo, phát triển kinh
tế xã hội. Trong giai đoạn hên nay, Nhà nước ta cần phải tập trung đầu tư phát triển các
vùng kinh tế trọng điểm làm đầu tàu cho phát triển kinh tế các nước. Đồng thời phải tăng
cường đầu tư cho những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo đặc biệt là các
vùng sâu, vùng xa. Có thể nói phương hướng đầu tư trên sẽ tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu
kinh tế giữa các vùng. Bên cạnh đó sẽ tạo ra những cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ mới, đảm
bảo có được những tiềm lực lớn để tăng trưởng trong giai đoạn sau. Dựa vào các mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội như; tăng trưởng, xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh đó đặc biệt là dựa
vào các lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu tự nhiên, các nguồn lực... việc thực hiện đầu tư làm
thay đổi vị trí của mình theo hướng ngày càng hợp lý hơn. Cụ thể là sẽ sử dụng hiệu quả
các nguồn lực, lợi thế của chính vùng kinh tế đó.
Nhìn chung lại một cơ cấu đầu tư theo địa phương hay vùng lãnh thổ được xem là hợp
lý nếu nó phù hợp với yêu cầu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời phát huy lợi
thế sẵn có của vùng trong khi vẫn đảm bảo hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
chung của các vùng khác, đảm bảo sự phát triển thống nhất về những cân đối lớn trong
phạm vi quốc gia và giữa các ngành.
1.3. Đặc điểm và các nhân tố tác động đến cơ cấu đầu tư:
1.3.1. Đặc điểm của cơ cấu đầu tư:
- Cơ cấu đầu tư luôn thay đổi trong từng giai đoạn phù hợp với sự phát triển của nền
kinh tế xã hội. Sự thay đổi ở đây là sự thay đổi về vị trí, vai trò các bộ phận cấu thành đầu
tư bao gồm sự thay đổi về tổng quy mô nguồn lực, sự thay đổi về cơ cấu huy động nguồn
vốn, thay đổi về quan hệ tỷ lệ đầu tư giữa các ngành, tiểu ngành, các vùng và các thành
phần kinh tế...
- Cơ cấu đầu tư chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố. có nhân tố thuộc nội tại nền kinh
tế, có nhân tố tác động từ bên ngoài. Mặt khác có nhân tố tích cực thúc đẩy phát triển song
cũng có nhân tố kìm hãm, hạn chế sự phát triển. Sự phụ thuộc nhiều vào các nhân tố ảnh
hưởng cũng là nguyên nhân làm cho cơ cấu đầu tư luôn thay đổi. Cơ cấu đầu tư không cố

năng lực quản lý trong mỗi giai đoạn nhất định:
Với tư cách là chủ thể quản lý, Nhà nước tác động và chi phối vào sự vận động của cơ
cấu đầu tư. Tuy nhiên Nhà nước không trực tiếp sắp đặt đầu tư theo các ngành nghề ( trừ
một số ít các dự án đầu tư trực tiếp của Nhà nước); không quy định các tỷ lệ của cơ cấu
đầu tư; không áp đặt đầu tư đối với các thành phần kinh tế bởi đó là quyền tự do sản xuất,
kinh doanh của các chủ thể kinh tế. Nhà nước chỉ tác động gián tiếp bằng các định hướng
phát triển để thực hiện được mục tiêu, đáp ứng nhu cầu xã hội. Đó chính là nội dung chủ
đạo của hoạt động kế hoạch đầu tư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Định hướng phát triển của Nhà nước luôn khuyến khích mọi thành phần kinh tế, các
tầng lớp dân cư tham gia đầu tư phát triển nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội với
hiệu quả cao nhất. Ngoài ra, Nhà nước còn đưa ra các cơ hội, các dự án đầu tư, các hình
thức hỗ trợ nhất định để các chủ thể tham gia đầu tư.
Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội là định hướng chung cho mọi thành phần
kinh tế, mọi doanh nghiệp trong cả nước phấn đấu thực hiện dưới sự điều tiết của Nhà
nước thông qua hệ thống luật pháp và các quy định, thể chế chính sách, tạo ra những tỷ lệ
hợp lý giưã các ngành nghề, các vùng kinh tế. Từ đó sẽ tiến tới thực hiện một cơ cấu đầu
tư hợp lý.
Mặt khác trong những thời kì nhất định, cơ chế quản lý Nhà nước cũng có những thay
đổi nhất định, tác động trực tiếp đến quá trình phát triển. Đi cùng với nó là năng lực quản
lý của hệ thống, khả năng nắm bắt các quy luật kinh tế sẽ tác động đến việc ban hành chính
sách, điều hành vĩ mô, tác động đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung, đến đẩu tư và
cơ cấu đầu tư nói riêng.
* Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ:
Lực lượng sản xuất chính là động lực để phát triển xã hội. Mặt khác thị trường và nhu
cầu của xã hội là vô tận và ngày càng cao. Muốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu xã hội thì trước
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hết phải phát triển lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển, nó tác động đến
trình độ tự động hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá...tạo ra sự chênh lệch về năng suất.

nước ta rất đa dạng, phong phú. Các nguồn lợi cũng đa dạng về chủng loại, chất lượng...Do
đó, việc xác lập một cơ cấu đầu tư hợp lý là tương đối công phu, phức tạp do sự tác động
của điều kiện địa lý, khí hậu và các nguồn lợi tự nhiên và yếu tố nhân văn. Với điều kiện
khí hậu tự nhiên khác biệt giữa các miền, đã tạo thuận lợi cho nước ta phát triển đa dạng,
phong phú; trong nội bộ từng vùng cũng có thể bố trí đầu tư nhiều lĩnh vực khác nhau, vừa
phát triển chuyên môn hoá, vừa phát triển tổng hợp. Tuy nhiên sự đa dạng này cũng có thể
dẫn đến dàn trải, không tạo được ưu thế về quy mô trong hoạt động đầu tư nói riêng, phát
triển nói chung của quốc gia. Vì vậy trong chính sách đầu tư phải có sự tập trung các
nguồn lực trong việc khai thác có hiệu quả các lợi thế.
1.3.2.2. Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài:
Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài gồm có: nhân tố xu thế chính trị, xã hội và kinh tế của
các khu vực cũng như của thế giới.
Cụ thể, trong nền tài chính tiền tệ, một ảnh hưởng của một nước lớn cũng có thể gây
ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu. Một cuộc khủng hoảng về tài chính sẽ kéo theo sự suy
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thoái của cả hệ thống tài chính các nước khác. Bên cạnh đó sự thay đổi về tỉ lệ giá cả của
các đồng tiền sẽ làm thay đổi về sức cạnh tranh của các mặt hàng trong nước ra nước
ngoài.
Mặt khác phải kể đến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng,
góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội. Đầu tư nước ngoài đã góp
phần tích cực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đầu tư nước ngoài có tác động đến kinh tế trong nước, thúc đẩy
các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị doanh
nghiệp cũng như phương thức kinh doanh; đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh
tế. Thông qua đầu tư nước ngoài, nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, lợi thế
địa kinh tế, tài nguyên được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn. Đầu tư nước ngoài đã
tác động trực tiếp đến việc cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán
thông qua chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp. Đồng thời,
khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào sự gia tăng giá trị nền

2001-2007
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển
xã hội và bảo vệ, cải thiện môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng này, nên trong
chiến lược 10 năm cũng như kế hoạch 5 năm, Đảng và Nhà nước đều đưa ra mục tiêu này
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và được coi là một trong mười mục tiêu tổng quát nhất. Trong thời gian qua, tỷ lệ huy động
vốn đầu tư so với GDP tăng đều qua các năm: năm 2001 là 34%; năm 2002 là 34.3%; năm
2003–35.8%; năm 2004 là 36.4%, năm 2005 là 38.4% và 2007 ước đạt 40.6% tăng 0.6% so
với kế hoạch. Đây là mức cao so với nhiều quốc gia khác. Điều này đã chứng minh rằng
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là chủ yếu do tăng mạnh vốn đầu tư.
Biều 1: Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
Tổng vốn đầu tư
phát triển cả nước theo
giá thực tế
Theo số liệu thống kê, riêng trong giai đoạn 2001-2005 tổng vốn đầu tư được huy động
và đưa vào nền kinh tế đạt khoảng 976 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2000), bằng khoảng
118.2% dự kiến kế hoạch 5 năm, gấp 1.76 lần so với 5 năm 1996- 2000. Tiếp 2 năm vừa
qua 2006 tổng vốn đầu tư phát triển cả nước là 398.9 nghìn tỷ đồng và đặc biệt năm 2007
chúng ta đã huy động được số vốn đầu tư lên tới 461.9 nghìn tỷ đồng, tăng 16.4% so với
thực hiện năm 2006. Với đà này, Bộ kế hoạch đầu tư dự kiến tổng vốn đầu tư xã hội trong
giai đoạn tới tiếp tục tăng lên, ước tính giai đoạn 2006- 2010 khoảng 2200 tỷ đồng (tương
đương 140 tỷ USD).
2.1 Thực trạng về cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn .
2.1.1 Quy mô và cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn.
Hiện nay, hầu hết các nghiên cứu đều phân tích đầu tư xã hội theo 3 nguồn vốn cơ bản
là: vốn đầu tư Nhà nước, vốn đầu tư ngoài quốc doanh và vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó
vốn đầu tư hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) một phần nằm trong nguồn vốn ngân sách
Nhà nước vì được phân bổ qua Ngân sách Nhà nước hàng năm và ngoài ra một phần nằm
trong vốn tín dụng đầu tư và phát triển nhà nước. Việc các địa phương chủ động thu hút

Vốn đầu tư
nước ngoài
30011 34795 38300 41342 51102 63300 74100
Nguồn: Niên giám thống kê 2006 và thông cáo báo chí về số liệu thống kê năm 2007
Bảng 3 :Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội phân theo nguồn vốn
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
(sơ bộ)
Tổng số 100 100 100 100 100 100 100
Vốn nhà nước 59.8 57.3 52.9 48.1 47.1 46.4 43.3
Vốn ngoài quốc doanh 22.6 25.3 31.1 37.7 38.0 37.7 40.7
Vốn đầu tư nước ngoài 17.6 17.4 16.0 14.2 14.9 15.9 16.0
Nguồn: Niên giám thống kê 2006 và thông cáo báo chí về số liệu thống kê năm 2007
Biểu 2: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội phân theo nguồn vốn
0%
20%
40%
60%
80%
100%
2001 2003 2005 2007
V?n đ?u tư nư?c ngoài
V?n ngoài qu?c doanh
V?n nhà nư?c
Có thể thấy rằng trong thời gian qua, Nhà nước đã áp dụng nhiều chính sách và cơ chế
quản lý mới, có nhiều cố gắng trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc
mọi thành phần kinh tế, cả trong nước và ngoài nước, nhất là nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Do đó, vốn đầu tư phát triển hàng
năm không ngừng tăng, các nguồn vốn huy động tham gia đầu tư ngày càng đa dạng.
Bảng 4 : Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn. Tỷ trọng này trung bình
trong 7 năm vừa qua ước khoảng 50% trong đó vốn Ngân sách Nhà nước chiếm khoảng
24.45%, vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước chiếm khoảng 13.19%, vốn tự có và vốn
khác chiếm khoảng 12.36% so với tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Đặc biệt trong đó
phải kể đến vốn ODA đã bổ sung một phần rất quan trọng cho ngân sách Nhà nước. Trong
giai đoạn 2001-2005 số vốn ODA các nhà tài trợ cam kết cho Nhà nước đạt khoảng 14.7
tỷ, năm 2006 là 3.74 tỷ, năm 2007 là hơn 4.4 tỷ, tuy vậy số vốn giải ngân mới chỉ đạt được
khoảng phân nửa trong số vốn mà các nhà tài trợ đã cam kết.
Bên cạnh vốn Nhà nước, vốn ngoài quốc doanh bao gồm vốn của khu vực dân cư và tư
nhân đã đạt được mức độ tăng trưởng nhanh chóng, và là nguồn đầu tư lớn thứ hai. Tính từ
2001-2007, tổng số vốn ngoài quốc doanh đã tăng lên gần 5 lần từ 38.5 nghìn tỷ lên đến
187.8 nghìn tỷ cùng với đó là cơ cấu vốn đầu tư ngoài quốc doanh trong tỷ trọng tổng vốn
đầu tư đã tăng lên từ 22.6% năm 2001 lên 40.7% năm 2007. Trung bình năm sau vốn đầu
tư của khu vực ngoài quốc doanh tăng lên so với năm trước đó là khoảng 28%, cá biệt năm
2002 tăng so với năm 2001 là 46.97% và năm 2003 tăng so với năm 2002 là 47.54%.
Có sự thay đổi rất nhanh chóng và bứt phá trong thời gian vừa qua là dòng vốn FDI- vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một nguồn vốn đầu tư có ý nghĩa hết sức to lớn đặc biệt trong
giai đoạn tiềm lực trong nước còn chưa thực sự mạnh mẽ. Hiện nay nguồn vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài chủ yếu được khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghệ cao, xây
dựng cơ sở hạ tầng, các vùng kinh tế còn nhiều tiềm năng nhưng chưa có điều kiện khai
thác. Phải nói rằng, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực bắt đầu từ tháng 7-1997 đã làm
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giảm sút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Nhưng những năm gần đây
dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được phục hồi và có xu hướng tăng dần: năm
2003 vốn đăng ký tăng 6% so với năm 2002; năm 2004 vốn đăng ký tăng 42% so với năm
2003; năm 2005 vốn đăng ký tăng 58% so với năm 2005; năm 2006 vốn đăng ký tăng
75.4% so với năm 2005; năm 2007- năm đạt mức kỷ lục về đầu tư nước ngoài, cao gần gấp
đôi so với dự kiến ban đầu: vốn đăng ký tăng 69% so với năm 2006. Trong giai đoạn 2001-
2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỉ USD vượt 73% so với mục tiêu đặt

kinh tế thành phần trong giai đoạn hiện nay. Tỷ trọng vốn nhà nước trong tổng số vốn đã
giảm từ 59.8 % năm 2001 xuống 46.4% năm 2006 và trong năm 2007 ước đạt chỉ còn
khoảng 43.3% cùng với đó tỷ lệ đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước vào GDP trong cơ
cấu GDP đã giảm từ 38.4% năm 2001 xuống 37.2% năm 2006. Về vốn ngoài quốc doanh,
với sự tăng lên về vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, khu vực ngoài quốc
doanh cũng đã có những đóng góp quan trọng vào cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh
tế của quốc gia. Tuy cơ cấu GDP theo giá hiện hành chúng ta không thấy rõ sự thay đổi
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
này, tuy vậy tốc độ tăng GDP theo giá so sánh của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng
đã tăng từ 6.36% năm 2001 lên 8.19% năm 2007. Đặc biệt là sự thu hút mạnh mẽ của vốn
đầu tư nước ngoài vào nước ta trong thời gian qua, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày
càng thể hiện rõ là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế Việt Nam. Tỷ trọng trong GDP
của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã tăng từ 13.76% năm 2001 lên 17.02% năm 2006.
Bảng 7: Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng theo thành phần kinh tế, 2001-2005
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Cơ cấu GDP (giá hiện hành) 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
Kinh tế nhà nước 38.40 38.38 39.08 39.23 38.42 37.32
Kinh tế ngoài quốc doanh 47.84 47.86 46.45 45.61 45.68 45.66
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 13.76 13.76 14.47 15.17 15.89 17.02
Tốc độ tăng GDP (giá so sánh) 6.89 7.08 7.34 7.79 8.43
Kinh tế nhà nước 7.44 7.11 7.65 7.75 7.36
Kinh tế ngoài quốc doanh 6.36 7.04 6.36 6.95 8.19
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 7.21 7.16 10.52 11.51 13.20
Nguồn: TCTK và tính toán của Viện NCQLKTTƯ.
Lý giải cho những nguyên nhân của sự dịch chuyển cơ cấu nguồn vốn đầu tư như trên
trong giai đoạn này có rất nhiều nguyên nhân khác nhau:
Trước hết, về việc tăng lên quy mô của các nguồn vốn đầu tư (số liệu tuyệt đối) trong
giai đoạn này cần phải thấy rằng trong giai đoạn này có những chuyển biến tích cực trong
huy động, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước một phần quan trọng là nhờ công tác chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status