Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: Cơ cấu đầu tư, cơ cấu đầu tư hợp lý. Phân tích khái quát
cơ cấu đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với bất kỳ một nền kinh tế nào, để tạo ra tăng trưởng nhanh và phát
triển bền vững đếu phải có sự đầu tư đúng hướng; trong đó, cơ cấu đầu tư
phải phù hợp và phục vụ cho chiến lược về cơ cấu kinh tế. Do đó, cần phải
có một cơ cấu đầu tư hợp lý, cơ cấu đó phải khai thác được lợi thế so sánh,
đáp ứng được những yêu cầu thị trường chung cho cả nước, phát huy nội lực
và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội.
Trong thời gian qua, tại các kỳ họp quốc hội, Đảng và Nhà nước ta cũng
đã và đang đề ra nhiệm vụ: Để đảm bảo thắng lợi nhiệm vụ phát triển của
đất nước cần có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách hợp lý đó là: Chuyển
dịch cơ cấu đầu tư gắn với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo
cho việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước; trong
khi nhấn mạnh vai trò quan trọng bậc nhất của tích luỹ nội bộ kinh tế, chúng
ta phải coi vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng, kết
hợp hai nguồn lực này trong một thể thống nhất để đầu tư phát triển; đó còn
là sự chuyển đổi cơ cấu đầu tư cần đảm bảo sự phát triển hợp lý giữa các
vùng, bên cạnh việc hình thành nên những vùng kinh tế trọng điểm cần có sự
quan tâm đến những vùng sâu, vùng xa, vùng còn khó khăn.
Trên thực tế, cơ cấu đầu tư của nước ta trong những năm gần đây đã có
sự dịch chuyển khả quan, đáp ứng được những yêu cầu và mục tiêu trên.
Tuy nhiên bên cạnh đó, cơ cấu đầu tư hiện nay cũng còn thể hiện nhiều mặt
hạn chế, bất cập. Do đó, việc nghiên cứu cơ cấu đầu tư, sự chuyển dịch cơ
cấu đầu tư, và từ những thực trạng về cơ cấu đầu tư của Việt Nam thời gian
qua từ đó có thể đưa ra những giải pháp để cơ cấu đầu tư dịch chuyển theo
hướng hợp lý là đúng đắn và cần thiết.
Nhóm chúng em xin được chân thành cảm ơn thầy giáo Từ Quang
Phương đã giúp chúng em hoàn thành đề án này. Trong quá trình viết và
thảo luận bài viết này, chúng em không tránh khỏi những thiếu suất, mong
chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc
hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn nay phải tính kỹ hiệu quả đầu
tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang
phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn phục vụ
công tác quản lý và điều tiết vĩ mô. Thông qua nguồn vốn tín dụng đầu tư,
nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành,
vùng lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình. Đứng ở khía cạnh là
công cụ điều tiết vĩ mô, nguồn vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trưởng kinh tế mà còn thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Việc
phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những
vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm
nghèo. Và trên hết, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác
dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa - hiện đại hóa.
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước : Nguồn vốn này chủ yếu
từ khấu tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước. Theo
Bộ Kế hoạch va Đầu tư, thông thường nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp
nhà nước tự đầu tư chiếm 14-15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu là
đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị hiện đại hóa dây
chuyền công nghệ của doanh nghiệp.
Vốn đầu tư tư nhân và dân cư : Nguồn vốn tư nhân bao gồm phần tiết
kiệm của dân cư, phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác
xã. Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các
doanh nghiệp dân doanh chiếm bình quân khoảng 15% GDP, trong đó phần
tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư gián tiếp vào khoảng 3,7% GDP, chiếm
khoảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư; phần tiết kiệm của dân cư tham gia
1.1.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư
Cơ cấu vốn đầu tư thể hiên quan hệ tỉ lệ của từng loại vốn với tổng vốn
đầu tư xã hội, vốn đầu tư của một doanh nghiệp hay của một dư án. Cơ cấu
vốn đầu tư cần được xem xét như: cơ cấu kỹ thuật của vốn (vốn xây lắp và
máy móc kĩ thuật trong tổng vốn đầu tư); cơ cấu vốn đầu tư cho hoạt động
XDCB, công tác nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ, vốn đầu tư
cho đào tạo nguồn nhân lực, tái tạo tài sản lưu động và những chi phí khác
(chi phí quảng cáo tiếp thị…); cơ cấu vốn đầu tư theo quá trình lập và thực
hiện dự án như chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư…
1.1.2.3 Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành
Đây là loại cơ cấu đầu tư quan trọng nhất vì nó trực tiếp tác động đến sự
chuyển dịch cơ cấu theo ngành. Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành quy
định tỉ lệ phân bổ vốn đầu tư xã hội vào các ngành kinh tế, thực hiện đầu tư
cho từng ngành kinh tế quốc dân cũng như trong từng tiểu ngành thể hiện
việc thực hiện chính sách ưu tiên phát triển, chính sách đầu tư đối với từng
ngành nhất định.
Có nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu cơ cấu đầu tư theo ngành nhưng ta có
thể chia theo các cách sau:
* Chia theo hai nhóm ngành quan trọng: Ngành sản xuất sản phẩm xã hội
và nhóm ngành kết cấu hạ tầng. Mục đích là nghiên cứu tính hợp lí của đầu
tư cho từng nhóm ngành. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phải đi trước một
bước để tạo cơ sở phát triển các ngành sản xuất sản phẩm xã hội, nhưng cần
có tỉ lệ hợp lý vì nếu quá tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, không chú
ý dến sản xuất kinh doanh thì sẽ không có tăng trưởng.
* Chia cơ cấu đầu tư theo 3 nhóm ngành: Ngành công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ. Mục đích là đánh giá, phân tích tình hình đầu tư, thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp và dịch
vụ, chú ý đầu tư phát triển nông nghiệp hợp lí ở nước ta hiện nay, nông dân
chiếm tỉ trọng phần lớn và nông thôn có vị trí rất quan trọng trong quá trình
phát triển.
lớn. Ngành công nghiệp phát triển sẽ cung cấp nhiều máy móc trang thiết bị
cho nông nghiệp phát triển, nhiều sản phẩm hàng hóa đa dạng cho dịch vụ
phát triển. Chúng ta xuất phát từ một nước nghèo, có nền công nghiệp lạc
hậu so với các nước khác, do vậy phải tranh thủ tiến trình mở cửa hội nhập
quốc tế để thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, học hỏi kinh nghiệm, công
nghệ từ họ để phát triển công nghiệp đất nước. Xây dựng công nghiệp nặng
làm nền tảng cơ sở, tận dụng sự chuyển giao công nghệ, thiết lập những
ngành mũi nhọn có lợi thế so sánh nhất. Ngành công nghiệp chiếm một tỉ
trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân, do vậy nhà nuớc phải đặc biệt quan
tâm, và có những chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cung
cấp vốn và phân bổ vốn một cách họp lí cho sự phát triển công nghiệp.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ngành dịch vụ: Dịch vụ là một lĩnh vực hoạt động tổng hợp của nền
kinh tế quốc dân, bao gồm tất cả các hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống
của dân cư. Hoạt động dịch vụ bao gồm tất cả các hoạt động thương mại,
giao thông vận tải, cung cấp điện nước, bưu chính viễn thông, khách sạn du
lịch và các loại hình phục vụ khác cho sản xuất và đời sống xã hội. Nền kinh
tế càng phát triển thì khu vực dịch vụ cũng càng phát triển. Dịch vụ là cầu
nối gắn liền sản xuất với sản xuất, sản xuất với tiêu dùng, gắn thị trường
trong nước với thị trường nước ngoài. Có thể nói dịch vụ vừa là kết quả vừa
là nguyên nhân của phát triển kinh tế. Sự phát triển của ngành dịch vụ làm
cho cuộc sống thêm văn minh hiện đại hơn. Để phát triển ngành dịch vụ cần
phát triển về cơ sơ hạ tầng, đây là nhiệm vụ hết sức cần thiết và quyết định
cho sự phát triển của ngành. Ngoài ra chúng ta cần phải đào tạo một nguồn
nhân lực tốt, giư gìn bản sắc văn hóa, phát triển và truyền bá nó. Ngày nay
theo xu hướng hội nhập quốc tế, sự phát triển của ngành dịch vụ ngày càng
quan trọng và nó đóng góp ngày càng lớn vào tổng thu nhập quốc dân.
Cả nước ta đang chuyển dịch theo xu hướng giảm tỉ trọng ngành nông
nghiệp và tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, đầy là một xu
mức độ này sang mức độ khác, phù hợp với môi trường và mục tiêu phát
triển.
Trước hết sự thay đổi cơ cấu đầu tư được thể hiện trên phương diện về vị
trí ưu tiên. Từ đó tuỳ theo từng loại cơ cấu đầu tư sự chuyển dịch sẽ tác động
theo hướng ưu tiên cho những mặt mạnh giúp phát triển một cách hợp lý
giữa các mặt, các ngành sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
Sự chuyển dịch không chỉ bao gồm thay đổi về vị trí ưu tiên mà còn có sự
thay đổi về chất trong nội bộ cơ cấu và các chính sách áp dụng.
Về thực chất khi có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư thì cơ cấu vốn, vốn đầu
tư, cơ cấu huy động và sử dụng các loại vốn, nguồn vốn sẽ được điều chỉnh.
Như vậy các nhân tố nội bộ trong cơ cấu đầu tư sẽ được đổi mới để phù hợp
với mục tiêu xác định của nền kinh tế, ngành địa phương và các cơ sở trong
từng thời kỳ phát triển.
1.2.2. Sự cần thiết của việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư:
Theo báo cáo chính trị trình Đại hội VIII của Đảng đã nhấn mạnh “ Nguy
cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực vẫn là thách thức
to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của ta quá thấp, lại phải đi lên trong môi
trường cạnh tranh quyết liệt”.
Để thoát khỏi một cách cơ bản tình trạng nghèo khổ và nguy cơ tụt hậu
kinh tế, bên cạnh việc giải quyết các vấn đề xã hội đang đặt ra cần phải tăng
trưởng nhanh, ổn định và liên tục đi liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Có như vậy mới cải thiện đời sống
nhân dân, tạo tiền đề để nhanh chóng đưa đất nước ta trở thành một nước
phát triển. Theo nội dung của phát triển kinh tế, tăng trưởng cao cùng với
chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý là nội dung cơ bản có tính chất quyết định.
Một nền kinh tế có sự tăng trưởng là có sự tăng về quy mô sản lượng đầu
ra được tính bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP). Tăng trưởng
kinh tế cũng được hiểu là sự nâng cao tiềm lực sản xuất của nền kinh tế quốc
dân và được quyết định bởi mức gia tăng quy mô cũng như hiệu quả sử dụng
các yếu tố đầu vào. Thực tế phát triển của các nước đi trước với những điều
lượng của các ngành trong nền kinh tế quốc dân theo hướng xuất hiện nhiều
ngành mới, giảm tỷ trọng những ngành không phù hợp, tăng tỷ trọng những
ngành lợi thế. Bên cạnh đó chuyển dịch cơ cấu đầu tư cũng làm thay đổi mối
quan hệ giữa các bộ phận của một ngành, của nền kinh tế theo xu hướng
ngày càng lợi thế hơn, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội cho từng bộ phận
cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Tóm lại, quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư của một quốc gia, ngành, địa
phương hay cơ sở thông qua kế hoạch đầu tư là nhằm hướng tới xây dựng
một cơ cấu đầu tư hợp lý với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội một cách
toàn diện hơn.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
1.2.3. Cơ cấu đầu tư hợp lý:
1.2.3.1 Khái niệm
Cơ cấu đầu tư hợp lý là cơ cấu đầu tư phù hợp với các quy luật khách
quan, với các điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử cụ thể trong từng giai đoạn,
phù hợp và phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của từng ngành,
vùng, cơ sở và toàn bộ nền kinh tế. Cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ có tác động tích
cực đến đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, khai thác
và sử dụng hợp lý các nguồn lực trong nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập, phù
hợp với xu thế kinh tế, chính trị của thế giới và khu vực.
1.2.3.2 Các tiêu chí để đánh giá cơ cấu đầu tư hợp lý
Một cơ cấu đầu tư hợp lý, trước hết phải phù hợp với quy luật khách
quan, nghĩa là nó phải phù hợp với các quy luật kinh tế xã hội, các quy luật
tự nhiên. Nếu đi nguợc lại các quy luật đó lập tức sẽ bị đào thải và không thể
tồn tại, phát triển được.
Cơ cấu đầu tư phát triển hợp lý là cơ cấu có khả năng tạo ra quá trình tái
sản xuất mở rộng. Hay nói cách khác, cơ cấu đầu tư phát triển hợp lý là cơ
cấu đầu tư vừa khai thác hiệu quả các năng lực hiện tại, vừa bảo đảm là nền
tảng bền vững cho sự phát triển mạnh trong tương lai.
hoạt động có hiệu quả.
1.2.4.2. Cơ cấu vốn đầu tư hợp lý:
Như giới thiệu ở phần trên, chúng ta biết cơ cấu vốn đầu tư thể hiện quan hệ
tỷ lệ giữa từng loại vốn trong tổng vốn đầu tư xã hội, vốn đầu tư của doanh
nghiệp hay của một dự án.
Trong thực tế, có một số cơ cấu vốn đầu tư quan trọng cần được chú ý xem
xét như:
- Cơ cấu kĩ thuật của vốn (vốn xây lắp và vốn máy móc thiết bị trong tổng
vốn đầu tư.
- Cơ cấu vốn đầu tư cho hoạt động XDCB.
- Cơ cấu vốn đầu tư cho công tác nghiên cứu triển khai khoa học và công
nghệ.
- Cơ cấu vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực.
- Cơ cấu vốn đầu tư cho tái tạo tài sản lưu động và những chi phí khác
như: chi phí quảng cáo, tiếp thị...
- Cơ cấu vốn đầu tư theo quá trình lập và thực hiện dự án như chi phí
chuẩn bị đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư...
Vậy một cơ cấu vốn đầu tư hợp lý là cơ cấu mà vốn đầu tư được ưu tiên
cho bộ phận quan trọng nhất, phù hợp với yêu cầu và mục tiêu đầu tư. Và bộ
phận được ưu tiên cung cấp vốn này thường chiếm một tỷ trọng khá cao.
1.2.4.3. Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành hợp lý:
Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành là cơ cấu thực hiện đầu tư cho từng
ngành kinh tế quốc dân cũng như trong từng tiểu ngành. Từ đó sẽ thể hiện
việc thực hiện chính sách ưu tiên, phát triển, chính sách đầu tư đối với từng
ngành trong một thời kỳ nhất định.
Trong thực tế, một quyết định đầu tư có thể làm thay đổi số lượng tuyệt
đối của các ngành, tiểu ngành cấu thành nền kinh tế quốc dân. Những ngành,
tiểu ngành mới xuất hiện sẽ ngày càng hiệu quả với sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học, công nghệ như các ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ
chất lượng cao. Bên cạnh đó, một số ngành không phù hợp với xu thế phát
việc phát huy lợi thế cạnh tranh của từng vùng.
Trong mỗi giai đoạn phát triển, nguồn lực của mỗi quốc gia là có hạn nên
các nhà quản lý chiến lược phải đề ra những đề xuất tạo ra sự tăng trưởng
cho nền kinh tế ở mức hợp lý nhất. Trong điều kiện hiện nay khi mà nguồn
lực trong nước còn hạn chế thì chiến lược phát triển được coi tốt nhất là đầu
tư phát triển phi cơ cấu. Theo đó sẽ ưu tiên đầu tư phát triển mạnh một số
vùng nhất định hay còn gọi là vùng kinh tế trọng điểm. Mục tiêu của chiến
lược trên là tạo nguồn lực lớn lôi kéo các vùng phát triển nhưng vẫn đảm
bảo các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa không bị tụt hậu nhiều.
Cụ thể ở Việt Nam, việc đầu tư cho nông nghiệp nông thôn là một trong
những hoạt động đầu tư quan trọng nhất, hiệu quả nhất trong việc xoá đói,
giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội. Trong giai đoạn hên nay, Nhà nước ta
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cần phải tập trung đầu tư phát triển các vùng kinh tế trọng điểm làm đầu tàu
cho phát triển kinh tế các nước. Đồng thời phải tăng cường đầu tư cho những
vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo đặc biệt là các vùng sâu,
vùng xa. Có thể nói phương hướng đầu tư trên sẽ tạo ra sự dịch chuyển cơ
cấu kinh tế giữa các vùng. Bên cạnh đó sẽ tạo ra những cơ cấu kinh tế theo
lãnh thổ mới, đảm bảo có được những tiềm lực lớn để tăng trưởng trong giai
đoạn sau. Dựa vào các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội như; tăng trưởng,
xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh đó đặc biệt là dựa vào các lợi thế về vị trí địa
lý, khí hậu tự nhiên, các nguồn lực... việc thực hiện đầu tư làm thay đổi vị trí
của mình theo hướng ngày càng hợp lý hơn. Cụ thể là sẽ sử dụng hiệu quả
các nguồn lực, lợi thế của chính vùng kinh tế đó.
Nhìn chung lại một cơ cấu đầu tư theo địa phương hay vùng lãnh thổ
được xem là hợp lý nếu nó phù hợp với yêu cầu, chiến lược phát triển kinh
tế xã hội. Đồng thời phát huy lợi thế sẵn có của vùng trong khi vẫn đảm bảo
hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chung của các vùng khác,
đảm bảo sự phát triển thống nhất về những cân đối lớn trong phạm vi quốc
Trong nội bộ nền kinh tế nước ta hiện nay, sản phẩm hàng hoá đã được
chu chuyển khá thuận lợi và nhanh chóng từ vùng này sang vùng khác, từ
nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, từ nơi có nhu cầu thấp đến nơi có nhu cầu
cao. Nếu hoạt động sản xuất kinh doanh mà không căn cứ vào nhu cầu của
thị trường thì khó có thể tồn tại được lâu dài. Hiện nay, đất nước ta đã hội
nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Nhưng chúng ta đã
phát huy được những lợi thế của mình, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng
cao, trở thành sản phẩm xuất khẩu chủ lực, được thị trường thế giới đánh giá
cao.
Căn cứ vào thị trường và nhu cầu xã hội không chỉ căn cứ vào số lượng
mà cả nhu cầu về chất lượng, chủng loại các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Từ
đó nó có tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển, đến vị trí, tỷ
trọng đầu tư của các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu đầu tư của toàn xã hội.
Việc xác lập một cơ cấu đầu tư cho mỗi quốc gia, mỗi vùng kinh tế không
thể không tính đến xu thế tiêu dùng của xã hội. Đồng thời xem xét quan hệ
cung cầu của từng loại hàng hoá dịch vụ, xác định đúng lợi thế của mình để
có chiến lược bố trí hoạt động đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý.
* Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
vùng và cơ chế, năng lực quản lý trong mỗi giai đoạn nhất định:
Với tư cách là chủ thể quản lý, Nhà nước tác động và chi phối vào sự vận
động của cơ cấu đầu tư. Tuy nhiên Nhà nước không trực tiếp sắp đặt đầu tư
theo các ngành nghề ( trừ một số ít các dự án đầu tư trực tiếp của Nhà nước);
không quy định các tỷ lệ của cơ cấu đầu tư; không áp đặt đầu tư đối với các
thành phần kinh tế bởi đó là quyền tự do sản xuất, kinh doanh của các chủ
thể kinh tế. Nhà nước chỉ tác động gián tiếp bằng các định hướng phát triển
để thực hiện được mục tiêu, đáp ứng nhu cầu xã hội. Đó chính là nội dung
chủ đạo của hoạt động kế hoạch đầu tư trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Định hướng phát triển của Nhà nước luôn khuyến khích mọi thành phần
kinh tế, các tầng lớp dân cư tham gia đầu tư phát triển nhằm thực hiện các
Cơ cấu đầu tư có sự dịch chuyển nhanh hay chậm, hợp lý hay không hợp
lý do sự tác động chủ quan của con người. Có thể nói nguồn nhân lực là
nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành cơ cấu đầu tư. Một ví dụ
điển hình chứng minh cho tầm quan trọng của nguồn nhân lực chính là
trường hợp của đất nước Nhật Bản. Mặc dù là một đất nước nghèo nàn về
nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng chính nhờ con người nơi đây với trí tuệ
và nghị lực mạnh mẽ, đất nước này đã nhanh chóng vượt qua khó khăn. Và
giờ đây Nhật Bản là một trong những nước phát triển nhất thế giới. Chính vì
vậy mà chúng ta cần học hỏi rất nhiều bài học, kinh nghiệm từ đất nước này.
Việt Nam vẫn luôn tự hào về một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú,
“rừng vàng biển bạc”. Thế nhưng chúng ta vẫn xếp trong những nước có nền
kinh tế phát triển chưa cao. Vậy nguyên nhân là do đâu? Nhìn chung nước ta
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
có lực lượng lao động trẻ, dồi dào và nhanh nhậy. Đây là một ưu thế nhưng
nhìn chung trình độ còn thấp, kĩ thuật lao động hạn chế nên việc chuyển dịch
cơ cấu đầu tư sang các lĩnh vực sử dụng nhiều chất xám sẽ gặp nhiều khó
khăn. Điều đó đòi hỏi cần có sự đầu tư nhất định cho nguồn nhân lực. Cụ thể
cần có chính sách đào tạo nguồn nhân lực trở thành đội ngũ có tay nghề cao,
hợp lý về cơ cấu phục vụ cho nền kinh tế phát triển.
* Vị trí địa lý kinh tế, điều kiện về các nguồn lợi tự nhiên:
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc bố
trí đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu tư đặc biệt là cơ cấu đầu tư vùng kinh
tế. Nguồn lợi tự nhiên là một yếu tố gắn liền với vị trí địa lý, địa kinh tế của
mỗi quốc gia, mỗi vùng kinh tế bao gồm: khoáng sản, nguồn nước, nguồn
năng lượng, đất đai, rừng biển, trình độ dân trí...Các nguồn lợi cùng với vị
trí địa kinh tế, khí hậu tự nhiên kết tạo nên lợi thế so sánh cho mỗi vùng
trong khi các vùng khác không có hoặc không thuận lợi bằng. Khí hậu tự
nhiên của nước ta rất đa dạng, phong phú. Các nguồn lợi cũng đa dạng về
chủng loại, chất lượng...Do đó, việc xác lập một cơ cấu đầu tư hợp lý là
vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp. Đồng thời, khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào sự gia tăng giá trị
nền kinh tế, là cầu nối quan trọng giữa nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế
thế giới, thúc đẩy phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ và tạo điều kiện để
Việt Nam chủ động hội nhập ngày càng sâu hơn vào đời sống kinh tế thế
giới.
Bên cạnh ảnh hưởng về kinh tế, sự không ổn định về chính trị ở một
nước, một khu vực cũng gây ra tâm lý e ngại cho việc đầu tư vào đất nước
hay khu vực đó. Một nền chính trị bất ổn cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển của nền kinh tế quốc gia, khu vực đó, gây tổn thất không nhỏ tới
toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà xu hướng hội nhập kinh tế toàn
cầu đang ngày càng phổ biến, sự phát triển của một nền kinh tế sẽ chịu tác
động rất lớn từ các nền kinh tế khác trong khu vực và thể giới. Mỗi quốc gia
phải xây dựng cho mình đường lối, chiến lược phát triển phù hợp với xu thế
của thời đại, nhằm bắt kịp sự phát triển của các nước trên thế giới, nâng cao
sức cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao vị thế kinh tế chính trị trên trường
quốc tế. Từ việc tìm hiểu thông tin về tình hình kinh tế, chính trị của các
nước trong khu vực và trên thế giới các nhà đầu tư sẽ điều chỉnh cơ cấu đầu
tư cho hợp lý nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Đồng thời nhà nước cũng sẽ
căn cứ vào xu hướng chính trị trên thể giới và khu vực để đề ra mục tiêu
phát triển cho nước mình tạo nên sự phát triển bền vững.
Một điểm nữa cần lưu ý là trong xu hướng quốc tế hoá lực lượng sản
xuất và thời đại bùng nổ thông tin, các thành tựu của khoa học kĩ thuật cho
phép các nhà đầu tư bắt nhanh nhậy thông tin, tìm hiểu thị trường và xác
định chiến lược cơ cấu đầu tư hợp lý để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm
chủ động hội nhập.
Như vậy cơ cấu đầu tư chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau,
theo cường độ và mức độ không giống nhau. Vì vậy trong quá trình thực
hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư cần nắm vững và nhận thức đúng đắn cơ chế
thực hiện năm 2006. Với đà này, Bộ kế hoạch đầu tư dự kiến tổng vốn đầu
tư xã hội trong giai đoạn tới tiếp tục tăng lên, ước tính giai đoạn 2006- 2010
khoảng 2200 nghìn tỷ đồng (tương đương 140 tỷ USD).
17
461900
398900
343135
290927
239246
200145
170496
0
100000
200000
300000
400000
500000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Năm
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2.1 Thực trạng về cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn .
2.1.1 Quy mô và cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn.
Hiện nay, hầu hết các nghiên cứu đều phân tích đầu tư xã hội theo 3
nguồn vốn cơ bản là: vốn đầu tư Nhà nước, vốn đầu tư ngoài quốc doanh và
vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) khi
xem xét trên góc độ nguồn vốn đầu tư, ODA là một trong những nguồn vốn
nước ngoài. Tuy nhiên, trong quản lý và sử dụng nguồn vốn này, ODA một
phần nằm trong nguồn vốn ngân sách Nhà nước vì được phân bổ qua Ngân
sách Nhà nước hàng năm và ngoài ra một phần nằm trong vốn tín dụng đầu
tư và phát triển nhà nước và một phần có thể vận hành theo các dự án độc
Biểu 2: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội phân theo nguồn vốn
59.8
57.3
52.9
48.1
47.1 46.4
43.3
22.6
25.3
31.1
38
37.7
40.7
17.6 17.4
16
14.2
14.9
15.9 16
37.7
0%
20%
40%
60%
80%
100%
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Von dau tu nuoc ngoai
Von ngoai quoc doanh
Von nha nuoc
Trong thời gian qua, Nhà nước đã áp dụng nhiều chính sách và cơ chế
năm 2002 là 47.54%.
Bảng 4 : Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
(sơ bộ)
Vốn nhà nước 101973 114738 126558 139831 161635 185100 200000
Theo nguồn vốn
Vốn NSNN 45594 50210 56992 69207 87932 100200 97000
Vốn vay 28723 34937 38988 35634 35975 41200 40300
Vốn tự có và vốn
khác
27656 29591 30578 34990 37728 43700 62700
Theo cấp quản lý
Trung uơng 56717 57031 63870 70613 82531 93100 135600
Địa phương 45256 57707 62688 69218 79104 92000 64400
Nguồn: Niên giám thống kê 2006 và thông cáo báo chí về số liệu thống kê
năm 2007
Bảng 5: Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Vốn nhà nước 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
Theo nguồn vốn
Vốn NSNN 44.7 43.8 45.0 49.5 54.4 54.1 48.5
Vốn vay 28.2 20.4 20.8 25.5 22.3 22.3 20.2
Vốn tự có và vốn
khác
27.1 25.8 24.2 25.0 23.3 23.6 31.3
Theo cấp quản lý
Trung uơng 55.6 49.7 50.5 50.5 51.1 50.3 67.8
Địa phương 44.4 50.3 49.5 49.5 48.9 49.7 32.2
Nguồn: Niên giám thống kê 2006
Có sự thay đổi rất nhanh chóng và bứt phá trong thời gian vừa qua là
(Triệu $ Mỹ)
Tổng số V ốn ph áp đ ịnh
Tổng
số
Nước
ngoài
góp
Việt Nam
góp
2001 555 3142.8 1708.6 1643.0 65.6 2450.5
2002 808 2999.8 1272.0 1191.4 80.6 2591.0
2003 791 3191.2 1138.9 1055.6 83.3 2650.0
2004 811 4547.6 1217.2 1112.6 104.6 2852.5
2005 970 6839.8 1973.4 1875.5 97.9 3308.8
2006 987 12003.
8
4674.8 4328.3 346.5 3956.3
2007 1445 20300.
0
>4000
Nguồn: Tính theo Niên giám thống kê 2006 và số liệu ước tính năm 2007.
2.1.2 Sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn trong giai đoạn
2001-2007.
Như vậy, có thể thấy cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn trong thời gian qua đã
có bước dịch chuyển quan trọng với xu hướng: giảm dần tỷ trọng vốn đầu tư
phát triển Nhà nước, tăng dần vốn đầu tư từ khu vực ngoài quốc doanh và
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vốn đầu tư nước ngoài. Sự thay đổi cơ cấu đầu tư trên được các chuyên gia
đánh giá là phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phần
những chuyển biến tích cực trong huy động, thu hút vốn đầu tư trong và
ngoài nước một phần quan trọng là nhờ công tác chỉ đạo toàn diện của Chính
phủ trong việc từng bước cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ các khó khăn,
vướng mắc cho các nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của
doanh nghiệp. Đặc biệt vào cuối năm 2005, Quốc hội đã thông qua nhiều
đạo luật quan trọng nhằm cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, kinh doanh,
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trong đó có Luật Đầu tư chung và Luật Doanh nghiệp thống nhất. Triển
vọng tương đối lạc quan về sự phát triển kinh tế của Việt Nam cùng với việc
thực hiện các cam kết song phương và đa phương trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế cũng tạo nên sức hút mạnh mẽ cho cả đầu tư trong nước và
ĐTNN.
Sau nữa là sự dịch chuyển về cơ cấu đầu tư (số liệu tương đối) trong giai
đoạn này. Sự dịch chuyển như trên được xem là hợp lý và là dấu hiệu đáng
mừng.
Tuy vẫn là nguồn vốn quan trọng nhất của nền kinh tế, tỷ trọng của vốn
đầu tư nhà nước vẫn chiếm khoảng gần 50% tổng vốn đầu tư nhưng tỷ trọng
này đã có xu hướng giảm dần trong thời gian qua. Đây là tín hiệu tích cực
đối với nền kinh tế thị trường đang hình thành, phần nào phản ánh môi
trường đầu tư đã và đang được cải thiện. Vốn đầu tư Nhà nước chỉ chủ yếu
tập trung cho các dự án công cộng không thu hồi được vốn, hỗ trợ đầu tư
cho các vùng còn khó khăn, đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội như
giao thông, thuỷ lợi, hạ tầng nông nghiệp, các cơ sở sản xuất giống cây và
giống con, hạ tầng lâm nghiệp, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, y tế
xã hội, văn hoá, thể dục thể thao...có tác động là vốn mồi để thu hút các
nguồn vốn khác. Ngoài ra nó sẽ có vai trò quan trọng trong việc hình thành
các công trình trọng điểm của quốc gia, chuyển dịch cơ cấu kinh tế các
vùng, các ngành.
Vốn DNNN sau một thời kỳ giảm đã tăng trở lại vào năm 2005 do tiến
miễn thuế nhập khẩu một số đầu vào sản xuất cho các doanh nghiệp mới
thành lập; tinh giản thủ tục hải quan theo chuẩn mực quốc tế; cải tiến việc
cấp, miễn thị thực; sửa đổi thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN; xoá bỏ hạn chế về tỷ lệ vốn FDI trong một số ngành…
Phải nói đặc biệt trong năm 2007, tính chung cả cấp mới và tăng vốn, số
vốn FDI đạt 20.3 tỷ USD, tăng gần 70% so với năm 2006 và là số vốn FDI
thu hút được nhiều nhất trong 20 năm qua kể từ khi có luật Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam từ năm 1987 đến nay.
Năm 2007 là năm đánh dấu FDI ở Việt Nam có bước đột phá về lượng và có
sự chuyển biến mạnh mẽ về chất. Không chỉ phát huy tiếp tác dụng của các
luật khuyến khích đầu tư ban hành từ các năm trước đó mà năm 2007 còn
đánh dấu một năm sau khi Việt Nam ra nhập WTO. Việc Việt Nam trở thành
thành viên chính thức WTO cũng đã và đang mở ra những cơ hội mới trong
thu hút đầu tư nước ngoài: tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam mở
rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ cũng như thu hút nhiều hơn
các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam để xuất khẩu ra thế giới.
Bên cạnh đó việc Việt Nam cam kết mở cửa 11/12 ngành dịch vụ tạo điều
kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ tại Việt
Nam và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư lâu dài
ở Việt Nam. Sau nữa, việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi Việt Nam tiếp tục
xây dựng môi trường pháp lý hoàn chỉnh và minh bạch hơn sẽ thúc đẩy mở
cửa các ngành kinh tế và tăng tính hấp dẫn của Việt Nam đối với đầu tư
nước ngoài.
Tất cả đã lý giải cho những con số tăng lên nhanh chóng đó và sự dịch
chuyển về cơ cấu nguồn vốn đầu tư của Việt Nam trong thời gian qua.
2.2 Thực trạng về cơ cấu của vốn đầu tư
2.2.1 Quy mô và cơ cấu vốn đầu tư.
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Có nhiều cách phân loại cơ cấu vốn đầu tư khác nhau. Cơ cấu vốn đầu tư
Đào tạo nguồn nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển
của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Nguồn nhân lực là
nhân tố không thể thiếu là lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội. Vì vậy
công tác đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực rất cần được quan tâm chú
trọng. Trong thời gian vừa qua, đầu tư của ngân sách Nhà nước liên tục tăng
lên. Nếu năm 2001 chỉ đạt khoảng hơn 15000 tỷ đồng, năm 2003 đạt khoảng
24000 tỷ đồng chiếm khoảng 16.4% tổng chi ngân sách thì năm 2005 là
25