Báo cáo nghiên cứu khoa học: " ĐỀ XUẤT CÁC THAO TÁC NHẬN DIỆN VÀ THUYẾT GIẢI HÀM NGÔN HỘI THOẠI TRONG TÀI LIỆU TOEFLIBT" doc - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

114
ĐỀ XUẤT CÁC THAO TÁC NHẬN DIỆN VÀ THUYẾT GIẢI HÀM
NGÔN HỘI THOẠI TRONG TÀI LIỆU TOEFLIBT
A PROPOSED APPROACH FOR IDENTIFFYING AND INTERPRETING
THE CONVERSATIONAL IMPLICATURES IN TOEFLIBT

Ngũ Thiện Hùng
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Người học thường gặp khó khăn trong việc xác lập các thao tác để suy ý và thuyết giải
và lựa chọn một hàm ngôn quan yếu. Bài này đề xuất một mô hình các thao tác để nhận diện
và thuyết giải các hàm ngôn trong các hội thoại và bài giảng tiếng Anh trong tài liệu TOEFLiBT.
Theo mô hình này, một phát ngôn có thể có nhiều hàm ý khả hữu và người nói thường gửi kèm
phát ngôn một thông điệp dưới dạng một hàm ý quan yếu nhất. Người nghe phải thực hiệ
n một
quá trình thuyết giải và phái sinh một nhận định được cho là kết luận mà người nói muốn người
nghe phải đi theo đường dẫn nhận thức để lĩnh hội được thông điệp này. Trong quá trình này,
các nhận định có thể tương tác, xung đột để phái sinh một hàm ý quan yếu.
ABSTRACT
Vietnamese speakers of English may have difficulties in defining the techniques to
interpret and derive an implication among many assumptions. This article aims to put forward an
approach of identifying and interpreting the assumptions to derive the most relevant one.
According to this cognitive framework, an utterance may have more than one assumption as
potential implications that enable the speaker to embed in his/her utterance the most relevant
implication. The hearer is supposed to participate in an interpreting process to derive an
assumption that is said to be a conclusion the speaker wishes him/her to achieve by following
the cognitive path. In this process, the assumptions derived may interact with each other and
some can be deleted to yield only the most relevant implication.

hội thoại.
Trong thực tiễn giảng dạy tiếng Anh như là một ngoại ngữ, hình thành khả năng
nhận diện và thuyết giải hàm ngôn được xem là một tiêu chí để đánh giá sự thành công
trong giao tiếp khẩu ngữ. Trong các chương trình đánh giá năng lực sử dụng tiếng Anh
của người học, TOEFLiBT được xem là một công cụ hữu hiệu, xét ở phương diện đo
lường kỹ năng thực hành khẩu ngữ. Đây cũng chính là lý do chúng tôi chọn các mẩu hội
thoại và bài giảng tiếng Anh trong tài liệu này làm tư liệu khảo sát các phương tiện nhận
diện và thuyết giải hàm ngôn.
Bài báo này nhằm xác định các thao tác và các yếu tố ngôn ngữ và dụng học để
giúp người học tiếng Anh nhận diện và thuyết giải hàm ngôn trong các hội thoại và bài
giảng của tài liệu TOEFLiBT.
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Cơ sở lý luận
Định nghĩa hàm ngôn
Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh và tiền
giả định của ý nghĩa tường minh, Nếu không có ý nghĩa tường minh và tiền giả định của
nó, không thể suy ra được hàm ngôn thích hợp. (Đỗ Hữu Châu, 2001, tr.367)
[…] Có thể hiểu hàm ý chính là những gì người nghe phải tự mình suy ra qua
phát ngôn, để hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa của phát ngôn đó. Như ta biết, nhận thức của
con người bao giờ cũng xuất phát từ những kinh nghiệm đã có, rồi bằng cách suy luận,
liên tưởng mà rút ra những hiểu biết mới. Hoạt động này của tư duy gọi là suy luận.
(Nguyễn Thiện Giáp, 2000, tr.136).
Các loại hàm ý:
Hàm ý hội thoại tổng quát (generalized implicatures):
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

116
Là hàm ý hội thoại có thể suy luận mà không đòi hỏi một tri thức nền nào.
Hàm ý hội thoại đặc thù (particularized implicatures):
Khác với hàm ý hội thoại tổng quát là những hàm ý không cần có những tri thức

bách khoa, tiền giả định. Sự tương tác này có thể hỗ trợ hay mâu thuẫn và xóa đi các
nhận định đã có để làm phái sinh một nhận định mới với tư cách như một kết luận mang
tính quan yếu.
Trong bài này, hàm ngôn hay hàm ý được hiểu với nội hàm rộng hơn bao gồm
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

117
các hàm ý chủ định lẫn không chủ định của người nói. Ở đây chúng tôi xét các hàm ý
chủ định là hàm ý trực tiếp của người nói trong hội thoại và hàm ý không chủ định được
xem là các hàm ý hay suy ý về cả một ngôn bản hội thoại hay về một sự tình hay cá
nhân tham gia hội thoại. Các hàm ngôn được xét chủ yếu là hàm ngôn qui ước với các
dấu hiệu ngôn ngữ có thể nhận diện.
2.2 Kết quả
Với quan niệm về hàm ngôn và cách thức phái sinh hàm ngôn quan yếu như
trên, chúng tôi đã bước đầu phân tích một số trường hợp hàm ngôn theo khung miêu tả
dựa trên lý thuyết quan yếu với các kết quả sơ bộ như sau:
Theo lý thuyết quan yếu (Sperber& Wilson, 1995), một phát ngôn có hai hiệu
ứng trực tiếp: phát ngôn này chỉ ra rằng người nói có một điều gì đó để chuyển đạt, và
nó qui định một trật tự của sự truy cập các giả thuyết sử dụng cho việc thuyết giải của
người nghe. Quá trình lĩnh hội khởi đi từ việc giải mã một phát ngôn, xác lập tập hợp
các tiền đề cho ngữ cảnh và bổ sung thông tin mới vào nền hội thoại cho đến khi đạt đến
một hàm ý kết quả với độ quan yếu. Hãy xem xét mẫu hội thoại dưới đây cùng các giả
định hàm ngôn được gợi ý:
[…]
M: Excuse me, sorry, how do I know which textbooks I need?
W: It’s listed in the course schedule for some classes, but it’s best to go to the
first class and get the syllabus to be sure. Textbooks are pretty expensive. You
don’t want to buy one you don’t need.
M: OK. Are there any used textbooks?
[…]

Các giải thuyết của H Cơ sở các giải thuyết của H
(a) S nói với H: "… You don’t want to buy
one you don’t need "
H giải mã phát ngôn của S
(b) Phát ngôn của S là quan yếu đối với H Giả định hình thành từ việc thừa nhận phát ngôn
của S như một hành động chuyển đạt, và tính quan
yếu mà phát ngôn này tự động truyền đạt
(c) Phát ngôn của S sẽ đạt độ quan yếu với
thuyết giải về lý do, thái độ của việc đưa ra phát
ngôn này
Giả định nảy ra từ (b), cùng với một thuyết giải
quan yếu nhất đối với H
(d) S phủ định một hành động nêu ở vị từ trong
P
Giải mã ngữ nghĩa của P
(e) S đang nói về giáo trình tại thời điểm phát
ngôn của S trong cuộc thoại với H (với qui
chiếu của từ one
)
Giải thuyết được làm tường minh lần đầu tiên đối
với phát ngôn của S như đã giải mã ở (a) có thể kết
hợp với (d) để dẫn đến việc thỏa mãn (c).
(f) Sử dụng nhầm giáo trình là điều không nên
làm
Nhận định cơ sở đầu tiên của H

(g) Sinh viên thường quan tâm đến tiết kiệm chi
phí giáo trình; vì vậy nhận định này tương tác
với nhận định (f)
Nhận định cơ sở tiếp theo của H (thể hiện ở phát

[4] Yancey, P. & M. Macgillivray, C. Malarcher (2006), Mastering Skills for the
TOEFL® iBT: Advanced, 2006 Compass Publishing.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status