TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
83
CÁC CẤU TRÚC ĐẢO NGỮ TOÀN PHẦN TIẾNG ANH VỚI
CHỨC NĂNG GIỚI THIỆU THỰC THỂ TRONG DIỄN NGÔN
ENGLISH FULL INVERSION STRUCTURES WITH THEIR
PRESENTATIVE FUNCTION
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Bài viết trình bày các phát hiện về các mô hình cụ thể của cấu trúc đảo ngữ toàn phần
tiếng Anh (ĐNTP), đồng thời phân tích các đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của các thành phần
cấu trúc trong mối quan hệ mật thiết với chức năng giới thiệu thực thể trong diễn ngôn của toàn
bộ câu đảo ngữ. Tiếp thu những nguyên lý cơ bản của ngôn ngữ học truyền thống, bài vi
ết tiếp
cận vấn đề trong sự tham chiếu những quan niệm và phạm trù trong ngôn ngữ học hiện đại.
Hướng tiếp cận này cho phép làm sáng tỏ bản chất của đảo ngữ về cả hai mặt cấu trúc và
chức năng. Bài viết cũng đã chứng minh rằng chức năng giới thiệu thực thể trong diễn ngôn là
một chức năng tiêu biểu của ĐNTP tiếng Anh; nó cho phép sử
dụng các cấu trúc đảo ngữ đa
dạng trong việc kiến tạo các sản phẩm diễn ngôn nhằm thực hiện các mục đích khác nhau của
việc sử dụng ngôn ngữ.
ABSTRACT
This article presents its findings on the specific patterns of English full inversion
structures and analyzes the semantic and syntactic characteristics of the structure components
in close relation with the presentative function of the whole inversion sentences. Based on the
fundamental principles of traditional linguistics, the article deals with t he object of study in
reference to the concepts and categories of modern linguistics. This approach makes it possible
to clarify the nature of inversion in terms of both structure and meaning. The article has also
dụng rộng rãi như sau:
Cách thứ nhất phân tích câu ra thành 5 thành phần bắt buộc: S (Subject),
V (Verb), O (Object), C (Complement) và A (Adverbial). Cách phân tích này cho kết
quả là 7 mô hình cơ bản của câu được hình thành căn cứ vào khả năng kết hợp của các
thành phần câu theo trật tự thông thường của chúng, đó là: SV, SVO, SVC, SVA,
SVOO, SVOC, SVOA.
Cách thứ hai chia câu ra thành Chủ ngữ (Subject) và Vị ngữ (Predicate). Vị ngữ
lại được chia nhỏ ra thành “Operator” (trợ động từ thứ nhất) và “Predication” (Vị ngữ
không ngôi). Cách phân tích thứ hai này đưa đến hai mô hình cơ bản là “Subject +
Predicate” và “Subject + Operator + Predication”.
Hiện tượng đảo ngữ xuất hiện trong những biến thể của các mô hình trên. Qua
việc nghiên cứu 500 đoạn văn tiếng Anh có sử dụng các cấu trúc đảo ngữ toàn phần từ
các tiểu thuyết, truyện ngắn của các tác giả là người bản ngữ, chúng tôi nhận thấy rằng
ĐNTP được thể hiện qua 3 mô hình khái quảt là AVS, CVS, Predication + Operator +
Subject”. Tất cả các mô hình này đều có đặc điểm về trật tự thành tố là chủ ngữ xuất
hiện cuối cấu và đứng sau toàn bộ động ngữ.
3. Chức năng giới thiệu thực thể trong diễn ngôn
Theo Firbas [1986, tr. 48] các thành tố trong câu đảo ngữ đảm nhận các chức
năng ngữ nghĩa động (dynamic semantic functions) như sau: “Động từ [ ] thực hiện
chức năng động là diễn tả sự xuất hiện/sự tồn tại [ ], và các trạng ngữ thực hiện chức
năng động là tạo dựng một bối cảnh (setting) [ ]. Còn chủ ngữ thì thực hiện chức năng
động là biểu thị một hiện tượng xuất hiện hay tồn tại trong bối cảnh đó.”
Green [1989, tr. 131] cho rằng thực thể được giới thiệu vào trong diễn ngôn có
thể là một nhân vật quan trọng, một sự vật hoặc một yếu tố thuộc về bối cảnh của một
câu chuyện,
Chúng tôi nhận thấy rằng mặc dầu yếu tố đứng đầu 3 mô hình ĐNTP nêu trên có
thể khác nhau về cấu tạo hình thức, nhưng tất cả chúng đều thể hiện một sự định vị
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
85
vị trong không gian. Qua xem xét dữ liệu, chúng tôi nhận thấy rằng về mặt ngữ nghĩa,
các trạng ngữ này có thể được quy về 3 loại không gian, cụ thể là như sau:
Không gian tâm: inside, in the bedroom, in the yard, in my pocket, in the
basket, on the sofa, on the table/floor, on the shelf, on the doorstep, Ví dụ:
7. On the shelves of the Pasteur Museum in Paris are some closed bottles
prepared by Pasteur. The meat juice in them still hasn’t gone bad after more
than a hundred years. [30, tr. 81]
Không gian biên: on the left, on the right, on one side, on the other side, on
both sides, on all sides, outside, beside him, near her,
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
86
8. Up on the top of the mountain we saw the lights of the fort. Below to the left
was the river. [24. tr.54]
Không gian định hướng: to the north, to the south, down below, down the
river, up the street, up the valley, across the street/road/square/plain/river, ahead
(of us), behind, behind them/her, below us, before him, in front of the house,
beyond, beyond the river, Ví dụ:
9. The road came out from the shadow of the woods into the hot sun. Ahead was a
river-valley. Beyond the river was a steep hill. [24, tr.54]
Trong mô hình ĐNTP này của tiếng Anh, xuất hiện ở vị trí đầu câu có thể là một
trạng từ chỉ vị trí (position adverb), nhưng thường gặp là một giới ngữ chỉ vị trí
(position prepositional phrase), theo sau bởi động từ be có ngôi (finite) ; đứng ở vị trí
cuối câu là danh ngữ giữ vai trò CNNP. Về mặt ngữ nghĩa, trong MH này, be thể hiện
mối quan hệ đồng nhất về vị trí trong không gian, như trong câu “Ahead was a river-
valley”, hoặc xác lập sự tồn tại của một chủ thể trong một bối cảnh, như trong câu
“Beyond the river was a steep hill”. Cả hai câu này đều sử dụng cấu trúc đảo ngữ để
giới thiệu các thực thể trong diễn ngôn.
Để miêu tả tỉ mỉ, chi tiết một thực thể được giới thiệu vào trong diễn ngôn, chủ
ngữ của câu đảo ngữ có thể là một danh ngữ có có cấu tạo phức tạp và có độ dài vật chất
17. Imagine, then, every cell acting as a very small, highly efficient factory. Into it
flows the raw material. [30, tr. 97]
18. There were the wolves. Back and forth across the desolation drifted their
howls, weaving the very air into a fabric of manace (…). [31 , tr. 30-31]
4.1.5. “Source Adjunct + Motion Verb + Noun Phrase Subject”
Đứng đầu MH này là một trạng ngữ chỉ nguồn (source adjunct) có cấu tạo hình
thức là một giới ngữ bắt đầu bằng một giới từ chỉ nguồn như from hoặc out of . Trung
tâm cú pháp của MH này là một động từ nội động mang ý nghĩa chuyển động: nó miêu
tả một hành động mang tính chất đặc trưng của thực thể biểu thị bởi danh ngữ đứng
cuối câu.
19. he untied the leather string that fastened the squat moose-hide sack. From its
open mouth poured a yellow stream of coarse gold dust and nuggets.
[27, tr. 26-27].
20. A vase of wildflowers sat in the middle of the table. From the kitchen wafted
aromatic smells of fresh-cooked meat, spices, garlic, and onion. [3, tr. 251]
21. An old man was walking through the town, now and again drawing his tattered
cloak tighter to shield his body from the cold and biting wind. From some
houses standing apart came the sound of grinding mills and the sweet voices
of women singing at their work. [33, tr. 80-81]
4.1.6. “Time Adjunct + Verb + Noun Phrase Subject”
Đối với MH này, đứng ở vị trí đầu câu là một trạng ngữ chỉ thời điểm cụ thể
hoặc trình tự xuất hiện trong thời gian của các sự vật hiện tượng. Ví dụ:
22. Early in 1661 took place a general election. [14, tr. 59]
23. He stopped at a cigar store window to see her go by First came a boy with a
basket on his arm, then an old woman, then a dog ( ). [32, tr. 162]
24. Later that night she made 59 harassing calls between the hours of 11 p.m. and 1
a.m. Three nights later came another 28 calls between 1:52 and 2:30 a.m. [3,
tr. 249]
4.1.7. “Abstract Location Adjunct + Verb + Noun Phrase Subject”
Trong mô hình này, trạng ngữ đứng ở vị trí đầu câu là thành tố chỉ sự định vị
Theo H. Dorgeloh [1997, tr. 80], kiểu câu đảo ngữ này không những tạo ra một
sự thay đổi chủ đề (a change of topic) mà còn thể hiện một sự tương phản chủ đề (topic
contrast). Chủ đề ở đây được chúng tôi hiểu là “chủ đề diễn ngôn” (discourse topic)
theo quan niệm của Brown & Yule [1983, tr. 71]. Các ví dụ vừa nêu đều cho thấy kiểu
câu đảo ngữ này chọn ra (single out) một thực thể làm chủ đề với một tầm quan yếu ở
một mức độ cao hơn (a topic entity of higher-level relevance) so với thực thể đã được
đề cập trước đó. Cả hai thực thể này đều cùng chia sẻ một thuộc tính với mức độ bằng
nhau hoặc chênh lệch nhau. Chính vì vậy mà thành phần bổ túc ngữ (complement) trong
mô hình CVS thường là một tính ngữ có chứa các từ ngữ so sánh như equally, also, as,
more, especially, v.v
4. 3. Mô hình PREDICATION + BE + NOUN PHRASE SUBJECT
Đây là trường hợp của câu đảo ngữ tiếng Anh có yêú tố
đầu câu là hiện tại phân
từ (present participle) hoặc quá khứ phân từ (past participle). Ví dụ:
30. Coming up to the stage now is this year’s winner of the Oscar
[74, tr. 228]
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
89
31. Enclosed is a card for our permanent signature file which we request you to
sign and return to us. [56, tr. 906]
Có thể thấy rằng kiểu câu này hướng sự chú ý của người nghe/đọc vào một thực
thể trong tình huống hoặc trong diễn ngôn và yếu tố đầu câu có chức năng tạo bối cảnh
cho việc giới thiệu thực thể đó. Người nói/viết không chỉ đề cập đến hành động hay
trạng thái của thực thể giữ vai trò chủ ngữ mà còn muốn người nghe/đọc tập trung sự
chú ý vào chính bản thân thực thể đó.
5. Kết luận
Trong bài viết này, chúng tôi đã cụ thể hoá 3 mô hình khái quát của ĐNTP tiếng
Anh gắn liền với việc phân tích chức năng giới thiệu thực thể trong diễn ngôn của các
mô hình đó. Chức năng này chính là sự thể hiện một trong những khía cạnh của phần
Benjamins, Amsterdam.
[8] Downing, A., Locke P. (1995), A University Course in English Grammar, Prentice
Hall International, New York.
[9] Drubig, H.B. (1988), “On the Discourse Function of Subject Verb Inversion”,
Essays on the English Language and Applied Linguistics on the Occasion of
Gerhard Nickel’s 60
th
Birthday, pp. 83-95.
[10 Firbas, J. (1986), “On the Dynamics of Funtional Sentence Perspective”, Studying
Writing: Linguistic Approaches, pp. 40-71.
[11] Givon, T. (1993), English Grammar, Volume 2, John Benjamins, Amsterdam.
[12] Green, G.M. (1980), “Some wherefores of English Inversions”, Language (Journal
of The Linguistic Society of America), Vol. 56, pp. 582-601.
[13] Green, G. M. (1989), Pragmatics and Natural Language Understanding, Lawrence
Erlbaum Associates, New Jersey.
[14] Hartvigson, H.H., Jacobsen L.K. (1974), Inversion in Present-day English, Odense
University Press.
[15] Huddleston, R. (ed.) (2002), The Cambridge Grammar of the English Language,
CUP, London.
[16] Langacker, Ronald W. (1993), “Reference Construction”, Cognitive Linguistics (1),
pp. 1-38.
[17] Levinson, S.C. (1983), Pragmatics, CUP, Cambridge.
[18] Lyons, J. (1977), Semantics, Vol. 1 & 2, CUP, Cambridge.
[19] Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (1996), English Inversion versus Vietnamese Equivalents,
M.A. Thesis, College of Foreign Languages, Hanoi.
[20] Quirk, R. et al. (1972), A Grammar of Comtemporary English, Longman, Essex.
[21] Quirk, R. et al. (1985), A Comprehensive Grammar of the English Language,
Longman, London.
[22] Đức Tài, Tuấn Khanh (1995), Văn phạm Anh ngữ Oxford, (dịch từ Oxford Guide
to English Grammar của John Eastwood 1994), Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.