Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Ở nước ta vấn đề lao động - việc làm luôn là mối quan tâm hàng đầu của
Đảng và Nhà nước. Đặc biệt trong thời gian gần đây khi mà lạm phát của nền
kinh tế nước khá cao, đó là thách thức rất lớn trong các doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp, tiền lương là một phần của chi phí sản xuất. Do
đó, doanh nghiệp cần tính đúng, tính đủ và hạch toán, ghi sổ chính xác, hợp lý
để từ đó tính giá thành sản phẩm.
Đối với người lao động, tiền lương là nguồn thu nhập chính, là nguồn tái
sản xuất sức lao động, kích thích mối quan tâm của người lao động đến kết
quả công việc của họ.
Nhận thấy vai trò to lớn của kế toán tiền lương trong doanh nghiệp, em
chọn đề tài “Bàn về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
trong các doanh nghiệp hiện nay” làm đề án cho môn học của mình. Đề án
được chia thành ba phần với những nội dung chính sau:
Phần 1: Những lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích
theo lương.
Phần 2: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
trong các doanh nghiệp hiện nay.
Phần 3: Hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
trong các doanh nghiệp hiện nay.
Do thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế, bài viết của em không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô
và các bạn để đề án của em được hoàn thiện hơn!
Qua đây em xin chân thành cảm ơn Thầy Trần Đức Vinh đã tận tình
hướng dẫn em hoàn thành đề án này.
1
Đề án môn học
PHẦN 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
Đối với người lao động, tiền lương nhận được thoả đáng, sẽ là động lực
kích thích năng lực sáng tạo để làm tăng năng suất lao động. Mặt khác, khi
năng suất lao động tăng thì lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng. Do đó, nguồn
phúc lợi của doanh nghiệp mà người lao động nhận được cũng tăng lên, nó là
phần bổ sung thêm cho tiền lương, làm tăng thu nhập và tăng lợi ích cho
người cung ứng lao động. Hơn nữa khi lợi ích của người lao động được đảm
bảo bằng các mức lương thoả đáng, nó sẽ tạo ra sự gắn kết cộng đồng những
người lao động với mục tiêu và lợi ích doanh nghiệp, xoá bỏ sự ngăn cách
giữa người chủ doanh nghiệp với người cung ứng sức lao động, làm cho
người lao động có trách nhiệm hơn, tự giác hơn với các hoạt động của doanh
nghiệp. Các nhà kinh tế gọi đó là “phản ứng dây chuyền tích cực “ của tiền
lương.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp trả lương không hợp lý, hoặc vì mục tiêu
lợi nhuận thuần tuý, không chú ý đúng mức đến lợi ích của người lao động,
thì nguồn nhân công có thể bị kiệt quệ về thể lực, giảm sút về chất lượng, làm
hạn chế các động cơ cung ứng sức lao động.
3
Đề án môn học
Quản lý lao động và tiền lương là một nội dung quan trọng trong công
tác quản lý sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, nó là nhân tố giúp cho
doanh nghiệp hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất - kinh
doanh của mình. Tổ chức hạch toán lao động tiền lương giúp cho công tác
quản lý lao động của doanh nghiệp vào nề nếp, thúc đẩy người lao động chấp
hành tốt kỷ luật lao động, tăng năng xuất lao động và hiệu suất công tác.
Đồng thời cũng tạo cơ sở cho việc tính lương theo đúng nguyên tắc phân phối
theo lao động. Tổ chức tốt công tác hạch toán lao động tiền lương giúp cho
doanh nghiệp quản lý tốt quỹ tiền lương, bảo đảm việc trả lương và trợ cấp
BHXH đúng nguyên tắc, đúng chế độ, kích thích người lao động hoàn thành
nhiệm vụ được giao, đồng thời cũng tạo được cơ sở cho việc phân bổ chi phí
nhân công vào giá thành sản phẩm được chính xác
theo số lượng lao động thực tế tham gia vào quá trình sản xuất –kinh doanh,
hệ số và mức lương cấp bậc theo hợp đồng, mức phụ cấp lương theo quy định
của Nhà nước.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh có lãi, đạt được tỷ suất lợi nhuận trên
vốn Nhà nước cao, đóng góp cho Ngân sách Nhà nước lớn thì được phép chi
quỹ lương theo hiệu quả đạt được của doanh nghiệp nhưng phải đảm bảo các
điều kiện sau:
+ Bảo toàn được vốn và không xin giảm khấu hao hoặc giảm các khoản
phải nộp Ngân sách Nhà nước.
+ Tốc độ tăng quỹ tiền lương phải thấp hơn tốc độ tăng tỷ suất lợi nhuận
trên vốn Nhà nước cấp.
5
Đề án môn học
1. 1. 4. Các hình thức trả lương.
Việc vận dụng hình thức tiền lương thích hợp nhằm quán triệt nguyên
tắc phân phối theo lao động, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích chung của xã hội
với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động, lựa chọn hình thức tiền lương
đúng đắn còn có tác dụng đòn bẩy kinh tế, khuyến khích người lao động chấp
hành tốt kỷ luật lao động, nâng cao năng suất lao động, giúp cho doanh
nghiệp tiết kiệm được chi phí nhân công để hạ giá thành sản phẩm. Trong
doanh nghiệp nước ta hiện nay, các hình thức trả lương chủ yếu được áp dụng
là:
- Hình thức trả lương theo thời gian.
- Hình thức trả lương theo sản phẩm.
∗
. Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức tiền lương theo thời gian thực hiện việc tính trả lương cho
người lao động theo thời gian làm việc, theo ngành nghề và trình độ thành
thạo nghiệp vụ, kỹ thuật, huyên môn của người lao động.
Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau mà mỗi ngành nghề cụ thể có một
người lao động theo số lượng và chất lượng sản phẩm hoặc công việc đã hoàn
thành. Đây là hình thức tiền lương phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao
động, gắn chặt năng suất lao động với thù lao lao động, có tác dụng khuyến
khích người lao động nâng cao năng suất lao động góp phần tăng thêm sản
phẩm cho xã hội. Trong việc trả lương theo sản phẩm thì điều kiện quan trọng
nhất là phải xây dựng được các định mức kinh tế - kỹ thuật để làm cơ sở cho
việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từng loại sản phẩm, từng công việc
một cách hợp lý.
7
Đề án môn học
Hình thức trả lương theo sản phẩm còn tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể ở
từng doanh nghiệp mà vận dụng theo từng hình thức cụ thể sau đây:
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế. Với hình
thức này, tiền lương phải trả cho người lao động được tính trực tiếp theo số
lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá tiền lương
sản phẩm quy định, không chịu bất cứ một sự hạn chế nào. Đây là hình thức
được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để tính lương phải trả cho lao động
trực tiếp.
- Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp: thường được áp dụng để
trả lương cho người lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất như lao động
làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết
bị…Tuỳ lao động của họ không trực tiếp tạo ra sản phẩm, nhưng lại gián tiếp
ảnh hưởng đến năng suất của lao động trực tiếp, nên có thể căn cứ vào kết quả
của lao động trực tiếp mà lao động gián tiếp phục vụ để tính lương sản phẩm
cho lao động gián tiếp.
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm có thưởng, có phạt: Theo hình thức
này, ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp, người lao động còn được
hưởng trong sản xuất như thưởng về chất lượng sản phẩm tốt, thưởng về tăng
năng suất lao động, tiết kiệm vật tư. Trong trường hợp người lao động làm ra
sản phẩm hỏng, lãng phí vật tư trên định mức quy định hoặc không đảm bảo
bản thân, tạo ra sự an toàn trong xã hội.
Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham
gia đóng góp quỹ trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, mất sức…
9
Đề án môn học
Như vậy, bảo hiểm xã hội thực chất là một phương pháp phân phối lại
thu nhập bằng các chính sách cụ thể của Nhà nước nhằm góp phần cân bằng
thu nhập bị mất hoặc bị giảm từ hoạt động nghề nghiệp bằng khoản trợ cấp
bảo hiểm xã hội, quỹ này do cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý.
Theo chế độ tài chính hiện hành, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành
bằng cách tính theo tỷ lệ 20% trên tổng quỹ lương của doanh nghiệp. Người
sử dụng lao động phải nộp 15% trên tổng quỹ lương và tính vào chi phí sản
xuất kinh doanh, còn 5% trên tổng quỹ lương do người lao động trực tiếp
đóng góp (trừ vào thu nhập của họ). Những khoản trợ cấp thực tế cho người
lao động tại doanh nghiệp trong các trường hợp họ bị ốm đau, tai nạn lao
động…được tính toán trên cơ sở mức lương ngày của họ, thời gian nghỉ (có
chứng từ hợp lệ ) và tỷ lệ trợ cấp BHXH. Khi người lao động được nghỉ
hưởng BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH cho từng người và
lập bảng thanh toán để làm cơ sở thanh toán với cơ quan quản lý quỹ
Mức trích BHXH = Tổng số tiền lương phải trả x Tỷ lệ trích BHXH
Mức đóng góp BHXH của NLĐ =
Tổng số tiền
lương phải trả
x Tỷ lệ nộp BHXH
1. 2. 2. Quỹ bảo hiểm y tế.
Quỹ BHYT được sử dụng để thanh toán các khoản khám chữa bệnh, tiền
viện phí, thuốc thang cho người lao động khi ốm đau.
Người lao động khi được mua thẻ bảo hiểm y tế họ sẽ yên tâm hơn trong
lao động sản xuất, tuỳ trong trường hợp, xảy ra ốm đau sẽ được khám, chữa
chịu toàn bộ (tính vào chi phí sản xuất –kinh doanh )
Mức trích
KPCĐ
=
Tổng số tiền lương
phải trả hàng tháng
x Tỷ lệ trích KPCĐ
11
Đề án môn học
Thông thường, khi trích được kinh phí công đoàn thì một nửa doanh
nghiệp phải nộp cho công đoàn cấp trên, một nửa được sử dụng để chi tiêu
cho hoạt động công đoàn tại đơn vị.
1. 2. 4 Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm.
Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao
động phải nghỉ việc theo chế độ. Mức trích quỹ dự phòng trợ cấp mất việc
làm theo quy định hiện hành như sau:
+ Mức trích quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm từ 1%-3% trên quỹ
tiền lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp.
+ Mức trích cụ thể do doanh nghiệp tự quyết định tuỳ vào khả năng tài
chính của doanh nghiệp hàng năm.
+Khoản trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm được trích và hạch
toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ của doanh nghiệp.
+Trường hợp quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm không đủ để chi trợ cấp
cho người la động thôi việc, mất việc làm trong năm tài chính thì toàn bộ
phần chênh lệch thiếu được hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp trong
kỳ.
Thời điểm trích lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm là thời điểm
khoá sổ kế toán để lập Báo cáo tài chính năm.
12
Đề án môn học
Bên Nợ:
− Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương và
các khoản khác đã trả, đã ứng trước cho người lao động.
− Các khoản trừ vào tiền lương, tiền công của người lao động.
− Kết chuyển tiền lương người lao động chưa lĩnh.
Bên Có:
Các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản khác thực tế phải trả cho
người lao động.
Số dư bên Có: Các khoản tiền lương, tiền thưởng còn phải trả cho người
lao động.
Trường hợp cá biệt, TK 334 có thể có số dư bên Nợ phản ánh số tiền đã
trả quá số tiền phải trả cho người lao động
TK 334 có thể chi tiết theo nội dung từng khoản thu nhập phải trả cho
người lao động, nhưng tối thiểu cũng phải chi tiết thành 2 tài khoản cấp 2:
TK 3341 “Phải trả công nhân viên”: Phản ánh các khoản phải trả và tình
hình thanh toán các khoản phải trả cho công nhân viên của doanh nghiệp về
tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương và các khoản phải trả
khác thuộc về thu nhập của công nhân viên.
TK 3348 “Phải trả người lao động khác”: Phản ánh các khoản phải trả và
tình hình thanh toán các khoản phải trả cho người lao động khác ngoài công
nhân viên của doanh nghiệp về tiền công, tiền thưởng (nếu có) có tính chất
tiền công và các khoản khác thuộc về thu nhập của người lao động.
14
Đề án môn học
2. 2. 1. 2 Phương pháp hạch toán
Khi phân bổ tiền lương và các khoản có tính chất lương vào chi phí sản
xuất –kinh doanh, kế toán ghi:
Nợ TK 622 - Phải trả cho lao động trực tiếp
Nợ TK 627 - Phải trả nhân viên phân xưởng
Nợ TK 641 - Phải trả nhân viên bán hàng
trước