MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ NGUỒN
GỐC NHÀ NƯỚC
Trong quá trình nghiên cứu về nhà nước, nhiều học giả đã quan tâm tới việc tìm
kiếm câu trả lời cho các câu hỏi: Nhà nước xuất hiện ở đâu? Từ khi nào? Nhà
nước là do ai lập ra? Vì sao nhà nước xuất hiện? Song việc lý giải những vấn đề
trên rất khác nhau giữa các nhà nghiên cứu nên có khá nhiều quan điểm khác nhau
về nguồn gốc nhà nước. Bài viết này sẽ đề cập một cách khái quát đến một số
quan điểm về nguồn gốc nhà nước.
Thứ nhất, quan điểm thần quyền cho rằng nhà nước có nguồn gốc thần thánh. Các
nhà tư tưởng theo quan điểm này lý giải rằng nhà vua - người đứng đầu nhà nước
là do thần thánh sinh ra, là sự hoá thân của thần thánh trên trần thế và quyền cai trị
dân chúng của họ cũng là do thần thánh ban cho, họ được coi là “Thiên tử”,
“Thiên hoàng”, người thay Trời trị dân. Vì vậy, các nhà vua phải được tôn thờ và
được tuyệt đối phục tùng như thần thánh. Ví dụ: “Trong các tài liệu cổ Ai cập,
Chúa Trời đã từng nói với Hoàng đế Ramgiêsu II rằng: “Ta là cha của con… Ta
trao cho con sứ mệnh của trời đất để con cai quản…””.
Trong Bộ luật Manou của ấn Độ cổ đại đã viết về nhà vua như sau: “Vua được tạo
ra từ những phần của các vị thánh siêu đẳng này… Người là vị thánh tối cao mang
hình người”. Hoặc Đức Vua Hammurabi của Babylone cổ đại, trong phần mở đầu
của bộ luật mang tên ông đã viết: “Ta Hammurabi, một mục sư được thần Enlin
lựa chọn… kẻ nối dõi của các Đế vương do thần Xin tạo ra. Mácđúc gọi ta lên cai
trị nhân dân và mang đến cho đất nước cuộc đời hạnh phúc… Khi Mácđúc cử ta
thống trị muôn dân một cách công bằng và chính nghĩa truyền khắp đất nước và
tạo ra hạnh phúc cho nhân dân”. Rõ ràng, đây là một quan điểm hoàn toàn duy tâm
về nguồn gốc của nhà nước.
Thứ hai là quan điểm cho rằng nhà nước hình thành trên cơ sở sự phát triển tự
nhiên của các gia đình, là sản phẩm của tự nhiên. Chẳng hạn, Aristote - đại diện
điển hình của quan điểm này - luận giải rằng con người sẽ không thể tồn tại được
nếu không kết hợp lại với nhau giống như sự kết hợp giữa giống đực và giống cái
để duy trì nòi giống trong các sinh vật khác, điều đó không thông qua một sự lựa
lệnh và một số khác phải phục tùng, để mỗi người đạt tới sự an toàn lẫn nhau giữa
họ; một người được phú cho khả năng trí tuệ để suy nghĩ và đắn đo suy tính trước
thì phù hợp với tự nhiên phải là người cao hơn và là người cai trị, trong khi anh ta
là người ưu tú thì làm cho những người khác chỉ đơn thuần là người nô lệ, tiếp
sau đó trạng thái khác nhau giữa ông chủ và nô lệ là thuận lợi như nhau cho cả
hai bên”. Song gia đình khác với nhà nước ở chỗ “Chính quyền trong gia đình là
quân chủ, vì đó là cái chiếm ưu thế trong mỗi gia đình; nhưng trạng thái chính trị
là chính quyền của những người tự do và bình đẳng”.
Như vậy, theo Aristote, nhà nước ra đời trên cơ sở sự liên kết tự nhiên và tự
nguyện giữa mọi người vì lợi ích của mỗi người và vì lợi ích chung, Sở dĩ con
ngời có thể liên kết với nhau thành các cộng đồng, các xã hội như gia đình, làng
xóm và thành bang là vì họ có khả năng nói nên họ có khả năng giao tiếp cao hơn
các động vật khác và là động vật có tính xã hội.
Ngoài ra còn vì con người có khả năng nhận thức điều tốt và điều xấu, công bằng
và bất công và có quan điểm chung về những điều đó. Sự xuất hiện của nhà nước
là trực tiếp từ nhu cầu quản lý cộng đồng, quản lý xã hội, vì nếu không có sự quản
lý thì con người không thể sống và sống tốt được, không có sự an toàn cho mọi
người, do đó, sự xuất hiện của nhu cầu quản lý cũng là tự nhiên, là lẽ đương nhiên.
Trong quan hệ quản lý thì bao giờ cũng phải có người quản lý và người bị quản lý,
người ra lệnh và người phục tùng mệnh lệnh. Trong gia đình thì chủ gia đình là
người quản lý, còn trong thành bang thì những người được phú cho khả năng trí
tuệ ưu tú hơn người phải được đặt cao hơn, là người cai trị và những người khác sẽ
là người bị cai trị, là nô lệ và chính quyền chỉ là của những người tự do và bình
đẳng.
Quan điểm này của Aristote về sau được kế thừa bởi nhiều học giả như Ciceron,
Jean Bodin… Điểm hợp lý của quan điểm này là cho rằng nhà nước xuất hiện từ
nhu cầu quản lý xã hội, bảo vệ an toàn cho mọi người và bảo vệ lợi ích chung.
Song nếu dựa vào quan điểm của Học thuyết Mác – Lênin thì đây không phải là
quan điểm hợp lý về nguồn gốc của nhà nước. Điểm hạn chế lớn nhất của quan
điểm này là nó đã được sử dụng để biện minh cho sự bất bình đẳng, sự nô dịch và
để hưởng các quyền khác.
Khi tham gia ký kết hợp đồng thành lập nhà nước, con người phải từ bỏ tất cả mọi
quyền tự nhiên của mình và chuyển giao chúng cho nhà nước. Nhưng để nhà nước
tồn tại, một thoả ước giản đơn giữa những con người là không đủ mà phải cần một
sự liên hợp. Những con người không còn sống như những cá nhân độc lập và phân
cách, mà phải hình thành một ý chí. Do đó, họ cũng không giữ lại các quyền làm
tổn hại đến sự liên kết. Tất cả các quyền lực được chuyển cho nhà nước bằng cách
từ bỏ, một mặt là sự kháng cự và mặt khác là sự thủ tiêu việc ủy nhiệm đã trao đi.
Bởi vậy, quyền lực của nhà nước, của vua chúa là tuyệt đối và các thần dân không
có bất cứ quyền hành gì đối với nhà nước.
Sống trong trạng thái nhà nước con người bị giữ trong những liên hệ của một khế
ước đôi.
Qua khế ước đó một mặt các cá nhân liên hợp với nhau, mặt khác là liên hợp giữa
các cá nhân với người mà họ trao cho quyền lực tối cao (chẳng hạn nhà vua) và
phải cam kết phục tùng quyền uy của người đó một cách tuyệt đối và không điều
kiện. Hậu quả của cái điều ước đôi đó làm cho số đông thành một sinh vật duy
nhất, ông gọi đó là Lêviathan (tức là quái vật vạn năng trong kinh thánh). Nhà
nước thay mặt các cá nhân để thực hiện một quyền tối thượng tuyệt đối.
Theo ông, nền quân chủ thích hợp với quyền tối thượng tuyệt đối đó. Việc duy trì
hoà bình đòi hỏi vua phải có một quyền uy đầy đủ như: có quyền lực vô hạn trong
việc ban hành các đạo luật, thu thuế, bổ nhiệm quan chức, tiến hành chiến tranh
hay hoà bình, xử án v.v Vua không phải phụ thuộc vào một luật pháp nào ngoài
bản thân mình.
Như vậy, theo Thomas Hobbe, quyền lực của nhà nước là một thứ quyền lực nhân
tạo và không giới hạn. Ngay cả suy nghĩ của thần dân cũng phải phụ thuộc vào
người cầm quyền, từ đó, nhà nước có quyền cấm đoán các học thuyết nguy hại đối
với nhà nước và buộc cho các thần dân một hình thức tư duy nào đó. Mọi sự hạn
chế và phân chia quyền lực của người cầm quyền đều nguy hại, bởi lẽ những cái
đó sẽ dẫn tới sự diệt vong của nhà nước và phục hồi "cuộc chiến tranh của tất cả
mọi người chống lại nhau".
kết án đúng và sau đó đưa bản án vào thực hiện. Những người bị làm tổn hại bởi
một việc bất công nào đó sẽ hiếm khi quên và khi có khả năng, họ sẽ dùng vũ lực
để thực hiện một sự trừng phạt lại nguy hiểm gấp nhiều lần sự gây thiệt hại đó, và
thường là tiêu diệt những người đã gây ra sự bất công ấy.
Như vậy, loài người mặc dù được ban cho tất cả những đặc quyền trong trạng thái
tự nhiên, nhưng vì sống trong những điều kiện xấu như trên nên đã tập hợp lại
thành xã hội. Để bổ khuyết những sự thiếu hụt và những sự không hoàn hảo của
con người khi sống đơn độc nên tự nhiên đã xui khiến họ tìm kiếm sự cộng đồng
và tình bằng hữu với những người khác.
Để thoát khỏi trạng thái tự nhiên, "Cái hoàn cảnh mà tuy được tự do nhưng lại đầy
sự sợ hãi và sự nguy hiểm liên miên", con người đã liên kết với nhau tạo thành xã
hội, thành nhà nước, chuyển giao một phần quyền lực của mình cho nhà nước và
đặt mình dưới quyền thống trị của nó nhằm bảo tồn cuộc sống, tự do và tài sản của
mỗi người.
Locke giải thích thêm: "Những sự bất tiện trong việc thực hiện quyền lực mà mỗi
người có để trừng phạt sự vi phạm của người khác rất không chắc chắn và không
theo quy tắc đã làm cho họ đi tìm sự nương náu dưới những đạo luật đã được thiết
lập của chính quyền để mưu cầu sự bảo toàn cho cuộc sống, tự do và tài sản của
họ. Điều đó đã làm cho họ rất vui lòng chuyển giao quyền lực trừng phạt của mỗi
cá nhân mà vẫn được thực hiện một cách đơn độc cho những người trong số họ
được bổ nhiệm để thực hiện quyền đó theo những nguyên tắc vì xã hội như thế,
hoặc những người được họ uỷ quyền, sẽ phải đồng ý thực hiện quyền lực vì mục
đích đó. Và ở đây chúng ta đã thấy rõ nguồn gốc của cả quyền lực lập pháp lẫn
quyền lực hành pháp cũng như của chính bản thân các chính quyền và các xã
hội".
Qua quan điểm của thuyết hợp đồng hay khế ước xã hội về nguồn gốc nhà nước,
có thể thấy, điểm hợp lý của quan điểm này là ở chỗ nó thừa nhận rằng nhà nước
không xuất hiện ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện mà nó chỉ ra đời khi xã
hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, nhà nước ra đời do nhu cầu quản lý
xã hội, bảo đảm sự an toàn cho mọi người và sự an ninh cho xã hội; nhà nước có
mình, con người phải dựa vào nhau cùng chung sống, cùng chống lại thú dữ, cùng
lao động và cùng hưởng thụ những sản phẩm do lao động làm ra.
Lúc đầu con người sống thành từng bầy người nguyên thủy. Trong bầy người ấy,
do bản năng duy trì nòi giống, quan hệ tính giao xảy ra giữa mọi người đàn ông và
đàn bà với nhau, không phân biệt giữa cha mẹ và các con, giữa ông bà và các cháu
hay giữa anh chị em ruột với nhau. Song con người là thực thể có ý thức và có trí
tuệ nên dần dần, do sự phát triển của nhận thức, họ nhận thấy không thể chấp nhận
quan hệ tính giao giữa những người cùng huyết thống với nhau. Những quy định
cấm quan hệ tính giao giữa những người có cùng huyết thống và họ hàng với nhau
đã xuất hiện và cùng với chúng, nhiều hình thức gia đình đã lần lượt xuất hiện
trong lịch sử. Đó là các hình thức: gia đình huyết tộc, gia đình punaluan, gia đình
đối ngẫu và gia đình một vợ một chồng. Khi hình thức gia đình punaluan tồn tại,
thị tộc đã xuất hiện với tư cách là tế bào và là đơn vị cơ sở của sự tổ chức xã hội.
Thị tộc là một tập đoàn thân tộc trong một bộ lạc, tức là một nhóm người cùng
huyết tộc về phía nữ và không có quyền lấy nhau, họ có một bà mẹ tổ chung. Thị
tộc được tổ chức theo huyết thống và lúc đầu là thị tộc mẫu quyền, tức là quan hệ
huyết tộc và thừa kế được tính theo mẹ, về sau là thị tộc phụ quyền. Khi “dân số
tăng lên, thì mỗi thị tộc đầu tiên đó lại chia nhỏ ra thành mấy thị tộc con, và đối
với những thị tộc con này thì thị tộc mẹ là bào tộc; bản thân bộ lạc cũng chia làm
nhiều bộ lạc” và bộ lạc đầu tiên lại trở thành liên minh các bộ lạc cùng thân tộc.
Như vậy, các đơn vị tổ chức trong xã hội này bao gồm thị tộc, bào tộc, bộ lạc và
liên minh các bộ lạc, chúng được hình thành và được duy trì bởi các quan hệ huyết
tộc. “Tổ chức giản đơn đó hoàn toàn phù hợp với những điều kiện xã hội đã đẻ ra
nó… nó có khả năng giải quyết được tất cả những cuộc xung đột có thể xảy ra”.
Cơ sở kinh tế của xã hội này được đặc trưng bằng chế độ sở hữu chung về tư liệu
sản xuất và sản phẩm lao động, “Cái gì cùng nhau làm ra và dùng chung, thì cái
đó là tài sản chung”(3). Mọi thành viên của thị tộc đều tự do, có địa vị xã hội như
nhau, không có kẻ giàu người nghèo, kẻ thống trị và người bị thống trị. Bình đẳng
là nguyên tắc xử sự cao nhất trong lao động cũng như trong phân phối sản phẩm.
Nền kinh tế của nó là nền kinh tế tự nhiên, tự cấp và tự túc, săn bắn và hái lượm.
hiệu lực thực tế rất cao, có tính cưỡng chế mạnh. Song đó chỉ là quyền lực xã hội,
nó có các đặc điểm là: Không tách rời khỏi cộng đồng mà thuộc về cả cộng đồng,
hòa nhập với dân cư, do toàn thể cộng đồng tổ chức ra; phục vụ lợi ích của cả
cộng đồng; không có bộ máy riêng để thực hiện. Cách thức tổ chức và thực hiện
quyền lực ở bào tộc, bộ lạc và liên minh các bộ lạc cũng tương tự như ở thị tộc,
song đã thể hiện sự tập trung quyền lực cao hơn vì tham gia vào hội đồng của các
tổ chức này chỉ gồm tù trưởng và thủ lĩnh quân sự của các thị tộc.
Tóm lại, xã hội cộng sản nguyên thủy là xã hội "không có nhà nước, lúc đó các
quan hệ xã hội và ngay cả xã hội nữa, kỷ luật, tổ chức lao động đều duy trì được
là nhờ có sức mạnh của phong tục, tập quán, nhờ có uy tín và sự kính trọng đối
với những bô lão của thị tộc, hoặc đối với phụ nữ - địa vị của phụ nữ hồi đó không
chỉ ngang với nam giới mà còn cao hơn nữa, và lúc đó không có một hạng người
riêng biệt, hạng người chuyên môn để bóc lột".
Trong chế độ thị tộc, lực lượng sản xuất tuy phát triển rất chậm chạp song vẫn
phát triển không ngừng. Nhờ sự cải tiến công cụ lao động mà số thú rừng săn bắn
được ngày càng nhiều hơn. Một số bộ lạc tiên tiến nhất lúc đầu lấy việc thuần
dưỡng gia súc và về sau thì lấy việc chăn nuôi và coi giữ gia súc làm ngành lao
động chủ yếu của mình.
Những bộ lạc du mục tách rời khỏi những bộ lạc khác: đó là sự phân công lao
động xã hội lớn đầu tiên. Nó đã dẫn đến những hệ quả sau:
+ Sự trao đổi sản phẩm giữa các bộ lạc ngày càng phát triển hơn, súc vật trở thành
hàng hoá dùng để đánh giá tất cả các hàng hoá khác và có chức năng tiền tệ.
+ Việc mở mang đồng cỏ và trồng trọt ngũ cốc đã xuất hiện để cung cấp thức ăn
cho gia súc và sau đó là cho người.
+ Trong lĩnh vực công nghiệp xuất hiện hai thành tựu mới quan trọng là việc sản
xuất ra khung cửi, nấu quặng và chế tạo đồ kim loại.
+ Sản xuất tăng lên trong tất cả các ngành: chăn nuôi súc vật, trồng trọt, thủ công
nghiệp gia đình làm cho nhu cầu sức lao động tăng lên và tù binh trong chiến tranh
bị biến thành nô lệ. “Từ sự phân công lao động xã hội lớn lần đầu tiên đã nảy sinh
ra sự phân chia lớn đầu tiên trong xã hội thành hai giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ
Bởi vì, chiến tranh và tổ chức chiến tranh đã trở thành chức năng thường xuyên
trong sinh hoạt của nhân dân, chiến tranh và cướp bóc đã trở thành một nghề
thường xuyên. Điều đó đã làm tăng thêm quyền lực của thủ lĩnh quân sự và tập
quán lựa chọn những người kế thừa các thủ lĩnh quân sự trong cùng một gia đình
hình thành, quyền lực của thủ lĩnh quân sự dần dần trở thành một quyền lực thế
tập, đó là cơ sở của vương quyền thế tập và quý tộc thế tập.
Như vậy, “… toàn bộ chế độ thị tộc chuyển hoá thành cái đối lập với nó: từ một tổ
chức của các bộ lạc nhằm giải quyết một cách tự do những công việc của mình, nó
đã trở thành một tổ chức để cướp bóc và áp bức láng giềng… các cơ quan của nó,
lúc đầu là công cụ của ý chí nhân dân, thì nay đã trở thành những cơ quan độc lập
của sự thống trị và áp bức, nhằm chống lại chính ngay nhân dân”. Sự chuyển hoá
này là do lòng khao khát của cải đã làm cho các thành viên thị tộc chia thành kẻ
giàu người nghèo và sự chênh lệch về tài sản trong nội bộ thị tộc đã biến “sự thống
nhất về quyền lợi thành sự đối kháng giữa các thành viên của thị tộc”.
Sau những lần phân công lao động xã hội lớn, xã hội đã có những biến động cơ
bản sau:
+ Nền kinh tế xã hội được chuyển từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế sản
xuất và trao đổi. Chế độ sở hữu chung của thị tộc được thay thế bằng chế độ sở
hữu tư nhân của từng gia đình.
+ Tình trạng những người trong cùng thị tộc, bộ lạc thống nhất với nhau về quyền
lợi và chung sống trên cùng một lãnh thổ mà chỉ có mình họ cư trú không còn nữa
mà trên vùng lãnh thổ ấy đã có người của các thị tộc, bộ lạc khác nhau cùng chung
sống; những người đó được phân chia thành người tự do và nô lệ, thành những
người giàu có đi bóc lột và những người nghèo khó bị bóc lột, những người có nhu
cầu, lợi ích xung đột với nhau.
Đến giai đoạn phát triển tiếp theo, trong xã hội đã diễn sự phân công lao động lần
thứ ba, : “ … sự phân công này đẻ ra một giai cấp không tham gia vào sản xuất
nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là giai cấp thương nhân”, giai
cấp này “tuy không tham gia sản xuất một tí nào, nhưng lại chiếm toàn quyền lãnh
đạo sản xuất và bắt những người sản xuất phụ thuộc mình về mặt kinh tế; nó trở