Một số hệ thống bầu cử phổ biến trên thế giới
Cũng giống như thể chế chính trị, hệ thống bầu cử của các nước trên thế giới rất
phong phú và đa dạng[1]. Căn cứ vào cách thức (phương thức) “chuyển hóa” từ
những lá phiếu của cử tri thành “các ghế” trong các cơ quan dân cử[2], có thể tạm
chia hệ thống bầu cử của các nước thành ba hệ thống lớn: hệ thống theo đa số
(plurality/majority systems); hệ thống tỷ lệ (proportional systems) và hệ thống hỗn
hợp (mixed systems).
*
1. Một số hệ thống bầu cử phổ biến
Cũng giống như thể chế chính trị, hệ thống bầu cử của các nước trên thế giới rất
phong phú và đa dạng[1]. Căn cứ vào cách thức (phương thức) “chuyển hóa” từ
những lá phiếu của cử tri thành “các ghế” trong các cơ quan dân cử[2], có thể tạm
chia hệ thống bầu cử của các nước thành ba hệ thống lớn: hệ thống theo đa số
(plurality/majority systems); hệ thống tỷ lệ (proportional systems) và hệ thống hỗn
hợp (mixed systems).
1.1. Hệ thống theo đa số
Nguyên lý của hệ thống này rất đơn giản, ứng cử viên (hoặc đảng phái chính trị)
nào thu được nhiều phiếu hơn sẽ trúng cử (ở mỗi “biến cách”, có thể có thêm
những quy định bổ sung). Hệ thống này có năm “biến cách” sau:*
1.1.1. Phương pháp ai về trước là người thắng cuộc (First Past The Post -FPTP)
Đây là phương pháp có nguyên lý đơn giản nhất trong các phương pháp theo hệ
thống đa số. Theo đó, ai nhận được nhiều phiếu nhất là trúng cử, kể cả số phiếu họ
nhận được chưa quá nửa số phiếu hợp lệ. Về lý thuyết, có thể xảy ra tình trạng có
ứng cử viên nhận được rất ít phiếu nhưng vẫn trúng cử. Để hạn chế tình trạng này,
pháp luật bầu cử một số nước đưa ra những quy định bổ sung khác nhau, chẳng
hạn quy định tỉ lệ tối thiểu phải đạt được. Phương pháp này thường áp dụng đối
với đơn vị bầu cử một thành viên (single - member districts) và thường áp dụng để
lựa chọn ứng cử viên hơn là các đảng phái chính trị.
Phương pháp bầu cử này, nếu mang tính nguyên thủy, được áp dụng ở Anh quốc
và một số nước trước đây là thuộc địa hoặc bị ảnh hưởng của Anh như Canada, ấn
nhiệm thứ ba (hệ thống này còn gọi là bầu cử theo ý thích). Khi tổng kết, nếu số
phiếu dành cho các ứng cử viên có ưu tiên một không đưa đến kết quả là có một
ứng cử viên nào đạt đươc đa số phiếu bầu thì ứng cử viên thứ nhất sẽ bị loại và số
phiếu dành cho ứng cử viên này sẽ đem chia cho các ứng cử viên xếp thứ hai trên
phiếu bầu. Cách thức này được áp dụng cho đến khi tìm ra được ứng cử viên đạt
được đa số phiếu. Hệ thống này đang được áp dụng tại Australia, Papua New
Guinea và được áp dụng biến thể tại một số nước ở châu Đại Dương. Phương pháp
này cũng được áp dụng bầu cử tổng thống ở Cộng hoà Ireland.
1.1.5. Phương pháp hai vòng (Two-Round System -TRS)
Như tên gọi của nó, phương pháp này thường không tổ chức một lần, mà là hai
vòng, lần hai thường được tổ chức cách lần một khoảng thời gian từ một đến hai
tuần. Vòng một được áp dụng theo nguyên lý của phương pháp đa số. Nếu có ứng
cử viên nào nhận được đa số tuyệt đối số phiếu bầu, thì ứng cử viên đó thắng cuộc
mà không cần tổ chức bầu cử vòng hai. Nếu không có ứng cử viên nhận được số
phiếu đa số tuyệt đối, thì một cuộc bầu cử thứ hai được tổ chức. Tuy nhiên, việc
quy định cụ thể như thế nào ở vòng hai thì ở mỗi nước là khác nhau. Thông
thường, vòng hai, cử tri lựa chọn trong số hai ứng cử viên nhận được số phiếu cao
nhất trong vòng một, và ứng cử viên nào nhận được nhiều phiếu hơn thì thắng cử,
như ở Ukraine. ở Pháp, trong các cuộc bầu cử quốc hội, chỉ những ứng cử viên
nào nhận được trên 12,5% số phiếu bầu trên tổng số danh sách cử tri tại cuộc bầu
cử vòng một mới được vào vòng hai. Tại vòng hai, ứng cử viên nào nhận được số
phiếu cao nhất thì thắng cử, không kể số phiếu mà họ nhận được là đa số tuyệt đối
hay không.
Hệ thống hai vòng hiện nay được áp dụng trên 22 quốc gia trong việc bầu cử quốc
hội và phổ biến hơn trong việc bầu cử tổng thống. Ngoài Pháp là quốc gia điển
hình, nhiều nước như Mali, Togo, Gabon, Egypt, Cuba, Haiti, Iran… và một số
nước thời kỳ hậu Xô viết (Belarus, Kyrgyzstan, Turkmenistan and Uzbekistan)
cũng áp dụng.
1.2. Hệ thống đại diện tỉ lệ
Hệ thống này đương nhiên được áp dụng để bầu cơ quan lập pháp. Nguyên lý của
thuộc vào các ứng cử viên của họ có được tín nhiệm hay không.
1.2.2. Phương pháp bầu cử lá phiếu duy nhất có thể chuyển nhượng (Single
Transferable Vote -STV)
Theo phương pháp này, cử tri bỏ phiếu theo một thứ tự ưu tiên giống như cách
thức của hệ thống lá phiếu có thể thay thế (AV) trong một đơn vị bầu cử có nhiều
ghế đại biểu. Cử tri có thể đánh dấu theo thứ tự những ứng cử viên mà mình tín
nhiệm hoặc có thể chỉ đánh dấu (bầu) một ứng cử viên theo sự lựa chọn của họ.
Có thể xuất phát từ mục đích của những người phát kiến ra nó[3] cử được tính
theo công thức Q = [số phiếu / (số ghế +1) +1)]. Những ứng cử viên nào không
trúng cử qua phiếu bầu có số ưu tiên một, thì số phiếu vượt mức sẽ được chuyển
đến cho ứng cử viên có hệ số tiếp theo theo một công thức tái phân phối phiếu ưu
tiên.
Hệ thống này được áp dụng bầu cơ quan lập pháp Cộng hòa Ai Len từ năm 1921,
Malta từ năm 1947. Phương pháp này cũng được áp dụng để bầu thượng nghị viện
úc và một vài bang của nước này. Nó cũng được áp dụng để bầu các cơ quan địa
phương tại Bắc Ailen.
1.3. Hệ thống hỗn hợp
Hệ thống bầu cử hỗn hợp thông thường là sự kết hợp giữa hệ thống đa số với hệ
thống đại diện tỉ lệ. Hệ thống hỗn hợp có hai biến cách là đại diện tỉ lệ hỗn hợp
(Mixed Member Proportional - MMP) và phương pháp song song (parallel
systems - PR).
- Dưới phương pháp đại diện tỉ lệ hỗn hợp (MMP), do có sự kết hợp giữa hai hệ
thống đa số và tỉ lệ, nên thông thường, có hai loại đơn vị bầu cử được thiết kế
cùng được áp dụng: một loại đơn vị bầu cử được thiết kế theo phương pháp bầu cử
đa số - tức là theo tiêu chí địa lý (cả nước được chia thành nhiều đơn vị bầu cử), và
một loại đơn vị bầu cử được thành lập theo hệ thống bầu cử tỉ lệ (cả nước là một
đơn vị bầu cử). Theo phương pháp này, kết quả bầu cử của hai hệ thống có sự liên
hệ với nhau: số ghế của các đảng phái chính trị trong hệ thống List PR được được
bổ sung bằng tỉ lệ mà các đảng phái đó nhận được trong hệ thống đa số nhưng
không được phân bổ số ghế (số phiếu “lãng phí” - wasted votes)[4]. Chẳng hạn,
bầu cử đó. Những ứng cử viên nhận được nhiều phiếu nhất là người thắng cử.
Phương pháp này hiện được áp dụng rộng rãi trong các cuộc bầu cử ở cấp địa
phương của một số nước. Nó cũng được áp dụng ở cấp quốc gia bầu cả thượng và
hạ nghị viện Tây Ban Nha từ năm 1977.
- Phương pháp Borda Count hiện nay được áp dụng duy nhất ở quốc gia đảo nhỏ
bé Nauru ở Thái Bình Dương. Theo phương pháp này, cử tri bầu theo sự lựa chọn
theo thứ tự ưu tiên như trong hệ thống AV. Nó được áp dụng cho cả đơn vị bầu cử
một đại diện và đơn vị bầu cử nhiều đại diện. Khác với phương pháp AV, Borda
Count chỉ một lần đếm, không có sự loại trừ các ứng cử viên. ở Nauru, lựa chọn
thứ nhất có giá trị 1, lựa chọn thứ hai có giá trị 1/2, lựa chọn thứ ba có giá trị 1/3…
Kết quả, ứng cử viên nào được tổng cộng nhiều phiếu nhất thì thắng cử.
2. Ưu, khuyết điểm của một số hệ thống bầu cử điển hình và xu hướng đổi
mới hệ thống bầu cử của các nước
2.1. Ưu, khuyết điểm của một số hệ thống bầu cử điển hình
Như trên đã phân tích, khó có thể kết luận trong một nhận định ngắn gọn là hệ
thống bầu cử của quốc gia này tiến bộ (hoặc tốt) hơn hệ thống bầu cử của quốc gia
kia. Mỗi hệ thống bầu cử đều phải gắn với một quốc gia nhất định, vì bầu cử là
hoạt động chính trị, do đó phải đặt trong một chế độ chính trị - xã hội cụ thể… như
tiêu chí 6, phần 2 đã phân tích.
Tuy nhiên, nếu xét theo những tiêu chí nhất định (như mức độ đơn giản, dễ hiểu
của hệ thống bầu cử, tính đại diện, xét dưới góc độ kinh tế, hiệu quả của nghị viện
được tạo ra…), chúng ta vẫn có thể đánh giá về ưu, khuyết điểm của từng hệ thống
bầu cử. Từ đó, đối chiếu với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mổi nước để có thể
xem xét và vận dụng cho phù hợp.
Để có cái nhìn tổng thể và đơn giản hóa vấn đề, dễ dàng đối chiếu giữa các hệ
thống bầu cử, chúng tôi trình bày vấn đề dưới hình thức biểu bảng theo hướng đưa
ra nhận định mà không phân tích cặn kẽ từng vấn đề.
Hệ thống bầu cử
(phương pháp bầu cử)
Ưu điểm
- Có thể dẫn đến tình trạng siêu đa số (super - majoritarian)[7].
Phương pháp đại diện tỷ lệ theo danh sách (List* PR)
-Tính đại diện được bảo đảm cân bằng - hợp lý;
-Tạo cơ hội cho phụ nữ, những nhóm thiểu số có đại diện trong nghị viện;
-Rất ít phiếu “lãng phí”;
-Tạo thuận lợi cho những người vắng mặt (đi xa) bỏ phiếu;
-Tạo điều kiện thận lợi cho việc bỏ phiếu, nên tỉ lệ cử tri bỏ phiếu thường cao;
-Hạn chế tình trạng phát triển quá mạnh của một đảng.
-Tính đại diện theo địa lý “yếu”;
-Chế độ trách nhiệm của nghị viện, nhất là của chính phủ thường có vấn đề;
-Chính phủ thường thành lập trên cơ sở liên hiệp của nhiều đảng phái chính trị và
các phe phái;
-Có thể dẫn đến hậu quả là có đại diện của các đảng cực hữu hoặc quá tả trong
nghị viện;
- Có thể tạo sự bất lực về quyền lực của các đảng.
Phương pháp song song
- Kết hợp hợp lý giữa hai loại đại diện: địa lý và các đảng phái chính trị;
- Đảm bảo đại diện của phụ nữ và những phe, nhóm thiểu số;
- Hạn chế sự phân chia các đảng phái chính trị hơn hệ thống đại diện tỉ lệ theo
danh sách đảng ( List* PR);
- Chế độ trách nhiệm của đại biểu với cử tri rõ ràng;
-Tạo ra ít phiếu “lãng phí”.
- Phức hợp vì có hai loại đơn vị bầu cử và có hai loại phiếu;
- Phải phân vạch đơn vị bầu cử;
- Tạo ra hai loại đại diện;
- Không thuận lợi cho người bỏ phiếu vắng mặt như List* PR;
- Về tổng thể, vẫn chưa giải quyết triệt để về tính đại diện .
Phương pháp đại diện tỉ lệ hỗn hợp (MMP)
- Đây là hệ thống bảo đảm hợp lý và cân bằng nhất về tính đại diện;
- Đảm bảo tính kết hợp hợp lý giữa hai loại đại diện: địa lý và các đảng phái chính
nói tiếng Anh sử dụng phương pháp đa số (FPTP). Đến 1970, khoảng 1/3 các nước
áp dụng phương pháp FPTP với đơn vị bầu cử một đại diện và gần một nửa các
nước áp dụng List PR. Khoảng từ 1980 đến 1995, hai phương pháp được áp dụng
là phương pháp song song và phương pháp hai vòng. Đến 1995, hai hệ thống này
chiếm gần 1/4 hệ thống bầu cử của hơn 150 nước[8].
Nếu tính theo quốc gia thì đến 2005, trên thế giới có 70 quốc gia và vùng lãnh thổ
áp dụng hệ thống đại diện tỉ lệ theo danh sách (List PR) để bầu cơ quan lập pháp.
Đây là hệ thống phổ biến nhất trên thế giới. Đứng thứ hai là hệ thống đa số
(FPTP), được áp dụng ở 47 nước[9].
Sự phân bố các hệ thống bầu cử qua các châu lục là đan xen nhau. Dường như, hệ
thống FPTP chiếm khoảng từ 30 - 40% số các nước châu Á, châu Phi, Trung
Đông, các nước châu Mỹ (các nước Bắc Mỹ và vùng Caribe). Tuy nhiên, hệ thống
FPTP lại ít phổ biến ở các nước cộng hoà hậu Xô viết và các nước châu Âu. Hệ
thống bầu cử List PR mang tính phổ biến ở các nước Tây Âu (61%).
Các số liệu thống kê nêu trên chủ yếu mang tính chất liệt kê hơn là rút ra thành
quy luật thay đổi. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nó cũng có ý nghĩa nhất định sau khi
nhà làm luật đã xem xét, cân nhắc những tiêu chí được nêu và phân tích trong
Phần 2. Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói trong bài này là, nhà làm luật phải đặt
ra câu hỏi: Việc sửa đổi, bổ sung (hoặc xây dựng mới) hệ thống pháp luật bầu cử
nhằm mục đích chính gì? Bởi nếu không đặt ra câu hỏi này, việc làm đó sẽ mang
tính tản mạn và không có hướng đi xác định.
* Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
*
*
*
*
*
*
*
[5] Theo chúng tôi, sâu xa của của việc giải thích tại sao hệ thống chính trị của
Mỹ trong hầu hết lịch sử lập quốc của quốc gia này (từ 1869 đến nay), cũng như
chính trường nước Anh trong lịch sử hiện đại luôn ổn định hai đảng phái chính trị
lớn thay nhau cầm quyền, liên quan đến hệ thống bầu cử nghị viện của các nước
này là hệ thống khu vực bầu cử “một đại diện” theo phương pháp FPTP như đang
nói ở trên.
[6] Vì căn cứ áp dụng khi phân vạch các đơn vị bầu cử là bình đẳng dân số, nên
khi phân vạch đơn vị bầu cử, phải “xé lẻ” đơn vị hành chính. Điều này làm cho
việc kiểm soát rất phức tạp. Ngoài ra, vì phương pháp này đòi hỏi ai nhiều phiếu
hơn thì người đó thắng cuộc, do đó, nó liên quan chặt chẽ đến dữ liệu chính trị -
hiểu một cách đơn giản là mỗi đảng phái chính trị đều có “ủng hộ viên” ruột nhất
định (có thể là cử tri ở một vùng hoặc một cộng đồng nào đó). Do vậy việc phân
vạch các đơn vị bầu cử phải bảo đảm tính khách quan, không lợi dụng vấn đề này
để gian lận, hoặc ảnh hưởng đến căn cứ bình đẳng dân số là không dễ dàng.
[7] Chẳng hạn, cuộc bầu cử năm 1991 ở Singapore, Đảng Nhân dân hành động
nhận được 61% số phiếu, nhưng chiếm đến 95% số ghế trong Quốc hội.
*[8] Theo “Electoral Systems”,
http://127.0.0.1:800/Default/www.acepproject.org/main/English/es/es.htm.
[9] http:www.aceproject.org/ace-en/topic/es/et-quiz/onlinetest_attempt.
*
(Bài viết đăng trên TCNCLP số 97, tháng 5/2007)
Vũ Văn Nhiêm