69
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 51, 2009
NGH
Ĩ TIẾP VỀ VAI TRÒ CỦA CHỦ THỂ SÁNG TẠO
VÀ CH
Ủ THỂ TIẾP NHẬN VĂN HỌC
Hồ Thế Hà
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Sáng tạo văn học là một quá trình đặc thù. Trong đó, vai trò của chủ thể sáng tạo và
chủ thể tiếp nhận được xem là nhân tố quyết định sự tồn tại của một tác phm. Trước đây, người
ta luôn coi trọng vai trò của chủ thể sáng tạo và thường xem nhẹ vai trò của chủ thể tiếp nhận.
Nhưng đến thời hiện đại, lý luận văn học, đặc biệt là mỹ học tiếp nhận hiện đại lại đề cao gần
như tuyệt đối vai trò của chủ thể tiếp nhận. Và tác giả hết vai trò của mình khi tác phm đến với
người đọc. Đó là một quan niệm có phần thái quá và bất công. Mục tiêu bài viết của chúng tôi
là muốn xác định lại vai trò bình đẳng của chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận trong quá trình
sáng tạo văn học.
I. Lý luận văn học từ xưa đến nay đều xem tác phNm văn học là đối tượng trung
tâm c
ủa mọi hoạt động văn học. Tuy vậy, giữa các thời kỳ, có sự quan niệm khác nhau
v
ề tác phNm văn học. Lý luận văn học truyền thống đề cao vai trò của tác phm và hiện
70
Và qua thời gian, qua nhiều thế hệ người đọc, những giá trị mới của tác phNm văn học
được làm đầy từ tính chỉnh thể nội tại của nó mà các nhà lý luận văn học gọi là khoảng
tr
ống vô thức của tác giả biến thành khoảng trống vô thức của nhiều thế hệ người đọc.
N
ếu lý luận văn học và mỹ học truyền thống, kể cả lý luận văn học mácxít sau
này
đều coi trọng tác giả trong quan hệ với hiện thực khi giải mã tác phNm, thì lý luận
v
ăn học và mỹ học tiếp nhận hiện đại lại quan tâm khám phá bản thể của văn bản nghệ
thu
ật với nhiều quan hệ khác nhau, trong đó, quan trọng nhất là quan hệ với người đọc.
Nhi
ều nước trên thế giới, sớm muộn có khác nhau, đều hưởng ứng và tìm thấy sự mới
m
ẻ, tích cực của quan niệm này. Và trong thực tế nghiên cứu, phê bình, tiếp nhận, nhiều
công trình
đã đạt thành tựu mới mẻ theo hướng nghiên cứu này. Theo đó, nhiều tác
ph
Nm lý luận văn học ở Việt Nam đã đồng thuận và đề xuất hệ thống lý luận và nghiên
c
ứu tác phNm văn học theo quan niệm này. Phương Lựu với công trình Lý luận phê bình
v
ăn học phương Tây thế kỉ XX và Lý luận văn học (chủ biên), Trương Đăng Dung với
T
ừ văn bản đến tác phm văn học và Tác phm văn học như là quá trình, Trần Đình Sử
v
ủ thể tiếp nhận lý tưởng chỉ ra những nội hàm mới mẻ, độc đáo của tác phNm mới
được xem là có khả năng tạo nghĩa, tạo giá trị mới cho tác phNm. Dĩ nhiên, yếu tố quan
tr
ọng trung tâm để phát hiện, làm đầy những khoảng cách thNm mỹ giữa tác phNm và
ng
ười đọc đồng sáng tạo - người đọc lý tưởng, không gì khác ngoài ngôn ngữ. Bắt buộc
ng
ười đọc, trước hết, phải là người am tường và có năng lực ngôn ngữ, sau đó, mới nói
đến tâm thế thm mỹ, tiềm năng văn hóa và tiềm năng nghệ thuật để biến ngôn ngữ của
tác ph
Nm văn học (thông qua các phương thức, phương tiện thể hiện cuộc sống bằng
hình t
ượng) thành cấu trúc mở, thành “cấu trúc ngôn từ động”, thành quá trình tạo nghĩa
- t
ạo sinh nghĩa mà nhà thi học R. Jakobson đã khẳng định “Văn học không phải là cái
gì khác, mà chính là ngôn ng
ữ được tổ chức một cách đặc biệt”. Vì đặc biệt nên đem lại 71
nhiều phát hiện mới, nhiều giá trị mới ở người tiếp nhận (cả lịch đại và đồng đại).
Nh
ư vậy, thông qua người đọc, đời sống của văn bản và thực chất của văn bản là
gì? Và
đâu là bản chất, quy luật; đâu là thành tựu và đâu là hạn chế của mối quan hệ
này? Có nhi
ều quan niệm và cách lý giải về bản chất của người đọc. Dù có chỗ gặp gỡ
ho
ặc giao thoa hay khác biệt, thì cái lõi của vấn đề vẫn là xác nhận vai trò chủ động của
ng
ất liệu. Mà ngôn ngữ - vỏ vật chất của tư duy lại có khả năng vừa cụ thể hóa, vừa
tr
ừu tượng hóa, vừa ảo hóa, mơ hồ hóa nên sự khác biệt trong tiếp nhận, trong việc tạo
ngh
ĩa ở người đọc là một quá trình liên tục. Có thể xem ngôn ngữ chính là tiềm năng
ch
ủ động trước tiên về khả năng tạo nghĩa, rồi sau đó nó mới tác động đến tiềm năng tạo
ngh
ĩa của người đọc trong từng tình huống, từng hoàn cảnh và tâm lý tiếp nhận. Như
v
ậy, tác phNm giúp nâng cao trình độ cảm thụ cho người đọc. Và đến lượt mình, người
đọc đối thoại và tái tạo nghĩa bổ sung cho tác phNm.
V
ới thực tiễn và hệ quả trên, rõ ràng, mỹ học tiếp nhận hiện đại đã có công rất
l
ớn trong việc tạo ra hệ thống lý luận mới mẻ, làm cho văn học nhân loại có sự chuyển
động, đổi mới cách nhận thức về quá trình văn học, về vai trò của tác phm và người
đọc, làm cho tác phNm trở nên sinh động, đa nghĩa và luôn ở trong khả năng mới đối với
t
ừng tầm đón nhận và đón đợi của nhiều thế hệ người đọc - đặc biệt là người đọc tài
n
ăng, cao cấp. Ở Việt Nam ta, những thập niên vừa qua, vận dụng kinh nghiệm và sự
ti
ếp biến hệ thống lý luận nói trên cũng đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc
nhìn nh
ận, tiếp thu và đánh giá lại nhiều hiện tượng văn học, trào lưu văn học một cách
kh
ả thi và mới mẻ, lấp đầy những khoảng trống và sai lầm - do chịu ảnh hưởng của mỹ
học tiếp nhận truyền thống. Những người đi đầu trong thành tựu trên là Phương Lựu,
h
ội hóa, thì cần phải có quan niệm bổ sung. Nghĩa là, lý luận văn học hiện đại cần phải
nhìn nh
ận lại vai trò của văn học, trong đó, vai trò của tác giả - chủ thể sáng tạo cần
ph
ải được chú ý giống như vai trò của người đọc - chủ thể đồng sáng tạo. Bởi vì, không
ph
ải sau khi tác phNm của họ đến với công chúng bạn đọc, thì họ không ngó ngàng gì
t
ới nó nữa, mà trái lại, hơn ai hết, họ là người theo dõi, hồi hộp, vui buồn và trăn trở
cùng v
ới nó. Và cao hơn, chính họ tham gia vào quá trình đọc, thNm định lại, lấp đầy
nh
ững khoảng trống vô thức trong khi sáng tạo mà họ chưa kịp nghĩ đến để tạo ra ý
ngh
ĩa mới cho tác phNm của mình. Họ có thể sửa chữa, nâng cấp cho các lần tái bản về
sau, ho
ặc họ tự mình nâng cao trình độ nghệ thuật cho các tác phNm mới sắp chào đời.
C
ứ thế, họ cũng là chủ thể tích cực trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận, tiếp nhận và
tái sáng t
ạo. Chưa kể, những tác giả văn học đồng thời là nhà lý luận - phê bình văn học
t
ầm cỡ. Trên thế giới, có Léonard de Vinci, Shakespeare, H. de Balzac, C. Baudelaire,
Milan Kundera
Ở Việt Nam như Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nam Cao,
Nguy
ễn Đình Thi, Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải
Nh
ững trường hợp như trên rõ ràng là, hơn ai hết, họ là người có chức năng kép: vừa
Nm - thông qua người đọc.
Nên ch
ăng, cần phải lý giải và đặt tác giả ngang hàng, nếu không muốn nói là
cao h
ơn người đọc, bởi vì, chính họ là người liên tục sáng tạo, liên tục cách tân, liên tục
làm
đầy những ý nghĩa và nội dung thNm mỹ mới cho tác phNm trong từng chặng đường
sáng tác, luôn t
ạo ra thực đơn tinh thần kỳ lạ, độc đáo cho người đọc. Tức là những dự
c
ảm và ý thức sáng tạo của nghệ sỹ trong từng thời điểm, từng bước ngoặt chuyển mình
c
ủa đời sống xã hội luôn được họ suy tư, nghiền ngẫm và thể nghiệm. Họ là người
ti
ền trạm của tâm hồn và nghệ thuật. Sau đó, mới đến lượt người đọc tìm đến và thưởng
th
ức, chiêm cảm theo tâm thế, góc nhìn riêng, vốn văn hoá riêng, vốn nghệ thuật riêng
c
ủa mình. Hơn ai hết, nghệ sĩ là người luôn năng động trong việc tìm tòi, trang bị kiến
th
ức và miêu tả cái mới, cái cần phải tồn tại bên cạnh cái đang tồn tại mà chứng chỉ hiển
minh nh
ất của họ là chất lượng tác phNm, làm thành từ trường văn học cho toàn xã hội.
GS. Ph
ương Lựu cho rằng: Nhờ thế "Nghệ thuật dần dần trở thành không phải chỉ là
tr
ường học của sự sáng tạo thNm mĩ mà còn là trường học trau dồi năng lực sáng tạo nói
chung c
ủa con người" (8, 172). Với những lý do trên, theo tôi, các nhà lý luận cần xác
định lại một lần nữa mối quan hệ giữa nhà văn - tác phm - người đọc một cách khách
Đó là những câu hỏi cần đặt ra để tiếp tục làm sáng tỏ cả về lý luận lẫn thực tiễn.
Soi vào v
ăn học hậu hiện đại trên thế giới hiện nay, sẽ thấy vấn đề trên trở nên phức tạp 74
vô cùng. Và thực tế là, trước một hiện tượng văn học cụ thể, tầm đón đợi và đón nhận
c
ủa từng người đọc, rộng ra của từng dân tộc, thì sự nhận thức về nó rất khác nhau,
th
ậm chí gần như trái ngược nhau - chưa kể quá khác xa với ý đồ nghệ thuật ban đầu
c
ủa tác giả. Dĩ nhiên, cũng có trường hợp, lúc này hiểu sai thì có lúc khác sẽ hiểu đúng
và th
ống nhất. Như vậy, để cho quá trình tiếp nhận không đến nỗi phức tạp, lệch pha thì
vai trò và kh
ả năng cần có của người đọc trong tính liên tục của tiến trình văn học là gì?
Ng
ười đọc có cần phải đào tạo, tự đào tạo để đón đầu những khả năng, tiềm năng văn
ch
ương giai đoạn tiếp theo nhằm định hướng, dự báo tầm đón đợi cho tác giả không?
Và n
ếu có, thì bằng cách nào để thông điệp đến nhà văn những điều còn mơ hồ, trừu
t
ượng trong đầu óc của họ để nhà văn được hỗ trợ, được mách bảo từ người đọc, để họ
nâng cao và cách tân ngh
ệ thuật của mình? Rõ ràng là sẽ đụng đến những vấn đề có tính
nan gi
ải và không ít thắc mắc. Vì người đọc thường hiếm khi thông điệp và tuyên bố
điều đó bằng những công trình lý luận của mình trước khi nhà văn sáng tạo ra tác phNm
v
ề quan niệm kiểu người đọc và kiểu người viết, có kế thừa thành quả của mỹ học tiếp
nh
ận hiện đại là cần thiết và hợp quy luật khách quan. Vì bản thân văn học đương đại
đang, sẽ vận động với tốc độ nhanh và bất ngờ, có khả năng đi trước, vượt tầm đón nhận
và
đón đợi của người đọc; nó có tính chủ động, tích cực hơn. Còn lý luận văn học thì
bao gi
ờ cũng sẽ tổng kết và trừu xuất từ cả hai phía sáng tạo và tiếp nhận. Cho nên,
trong quan h
ệ cùng thời giữa tác giả - tác phm - người đọc, xét ở thời đương đại, vẫn
luôn luôn làm cho khoa nghiên c
ứu văn học đứng trước những thử thách, bổ sung và
th
ức nhận mới. Có thể sơ đồ hóa quá trình sáng tác văn học và tiếp nhận văn học đó như
sau: 75
Qua s
ơ đồ trên (xét ở tính đồng thời, đương đại giữa tác giả - tác phNm - người
đọc), chúng tôi mạo muội đề cao ngang như nhau vai trò của chủ thể sáng tạo và chủ
th
ể tiếp nhận. Và có phần ưu tiên hơn cho chủ thể sáng tạo. Vì chính họ là chủ thể năng
8. Phương Lựu chủ biên, Lý luận văn học, NXB. Giáo dục, Hà Nội (1997)
Hiện thực
Tác giả
Văn bản
ngh
ệ thuật
Người đọc
Hiện thực
Tác phm
ngh
ệ thuật
Sáng tạo lại,
Sáng tạo mớiTự thưởng thức
-
Tự đánh giá lại
-
- Thưởng thức
- Phát hiện
giá trị mới