Báo cáo nghiên cứu khoa học: "QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM" doc - Pdf 19

TAP CHấ KHOA HOĩC, aỷi hoỹc Huóỳ, Sọỳ 47, 2008
QUYN BèNH NG CA PH N TRONG
CC BN HIN PHP VIT NAM
Mai Th Diu Thuý
Trng i hc Khoa hc, i hc Hu

TểM TT
Nh nc Vit Nam luụn ỏnh giỏ cao nhng cng hin ca ngi ph n i vi nhng
thng li chung ca dõn tc t xa n nay, coi ú l ngun nhõn lc di do v khụng th thiu
trong tin trỡnh phỏt trin ca t nc. ng v Nh nc luụn nhn thc sõu sc rng ph n
hon ton xng ỏng c hng quyn bỡnh ng vi nam gii trong mi lnh vc. Chớnh vỡ th,
ngay t bn Hin phỏp u tiờn ca t nc (Hin phỏp nm 1946), Nh nc ó ghi nhn
quyn cụng dõn núi chung v quyn bỡnh ng ca ph n núi riờng l mt trong nhng nguyờn
tc c bn ca Hin phỏp. Nguyờn tc ny tip tc c k tha v phỏt trin trong cỏc bn Hin
phỏp v sau, to ra khung phỏp lớ hon thin cho h thng phỏp lut Vit Nam, th hin rừ bn
cht u vit ca nn dõn ch mang tớnh nhõn vn ca Nh nc Vit Nam trong giai on hin
nay.

Lch s u tranh ca nhõn loi tin b núi chung v ph n núi riờng ó chng
minh sc mnh to ln ca nhu cu v quyn t do, bỡnh ng ca con ngi chng ỏp
bc, búc lt, xõy dng xó hi cụng bng, dõn ch v vn minh. Vỡ th, quyn con ngi
v quyn cụng dõn l mt trong nhng nhõn t quan trng bc nht ca mc tiờu v ng
lc phỏt trin kinh t xó hi ca bt kỡ mt quc gia no trờn th gii. Trong Hin phỏp
ca tt c cỏc nc dự thuc ch xó hi no, vn quyn con ngi, quyn cụng dõn
u c xỏc nh l ch nh quan trng ca mi bn Hin phỏp. õy c xem l nn
tng phỏp lớ c bn cho mi cụng dõn núi chung v n cụng dõn núi riờng thc hin cỏc
quyn t do, dõn ch ca mỡnh trờn c s s m bo ca nh nc.
Sau thng li ca Cỏch mng thỏng Tỏm nm 1945, Nh nc Vit Nam Dõn ch

Bản Hiến pháp năm 1946 dù được ban hành đã trên 60 năm, trong bối cảnh nước
Việt Nam vừa thoát khỏi chế độ thực dân phong kiến, còn tồn tại những tàn dư của xã hội
cũ và những định kiến khắt khe với người phụ nữ nhưng nó vẫn chứa đựng nhiều nội
dung thực sự tiến bộ. Nội dung Hiến pháp năm 1946 không chỉ thể hiện thái độ trân
trọng, đánh giá đúng những đóng góp to lớn của phụ nữ mà còn thể hiện quan điểm kiên
quyết bảo vệ quyền lợi người phụ nữ của Đảng và Nhà nước ta. Nhất là khi so sánh với
Hiến pháp của một số quốc gia trên thế giới cũng như với pháp luật quốc tế giai đoạn
này, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị và ý nghĩa của những qui định về quyền
bình đẳng của phụ nữ trong Hiến pháp năm 1946.
Kế thừa những nội dung tiến bộ của Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 đã
có những điều luật qui định trực tiếp và cụ thể hơn quyền bình đẳng nam nữ và quyền
chính trị của phụ nữ. Tại Điều 22 và Điều 23 của Hiến pháp năm 1959 tiếp tục khẳng
định ”mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, “Công dân nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo tín
ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám
tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử, trừ những
người mất trí và những người bị toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử và ứng cử.”
Bên cạnh đó, để bảo đảm tính khả thi cho những quy định về quyền bình đẳng của
phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiến pháp năm 1959 đã bổ sung thêm một
số nội dung cụ thể như: Điều 24 Hiến pháp năm 1959 qui định: “phụ nữ nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Cùng làm việc như nhau, phụ nữ được hưởng lương
ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được
nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương. Nhà nước bảo hộ quyền lợi của
người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ. Nhà
nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”
Tại Điều 25 Hiến pháp năm 1959 ghi nhận: “công dân nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà không phân biệt nam nữ đều có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp,
lập hội và biểu tình. Nhà nước đảm bảo các điều kiện vật chất cần thiết để công dân được
hưởng các quyền đó.”

đảm bảo điều kiện phát triển trong lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội cho phụ nữ, nội
dung của Hiến pháp năm 1980 đã đi vào chiều sâu của vấn đề bình đẳng giới. Giờ đây,
trách nhiệm của Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo hoàn thành chính sách lao
động phù hợp với đặc trưng của phụ nữ mà còn nhằm mục đích giải phóng cho lao động
nữ và tạo nền tảng vững chắc giúp người phụ nữ phát huy vai trò của mình trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ mang tính chất toàn diện,
trong nội dung Hiến pháp 1980, lần đầu tiên vấn đề bảo hộ hôn nhân và gia đình được
tách thành một điều khoản riêng. Điều 64 của Hiến pháp năm 1980 qui định: “Nhà nước
bảo hộ chế độ hôn nhân và gia đình. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một
vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt
đối xử giữa các con“. Nội dung quy định này đã khẳng định sự tôn trọng của Nhà nước
đối với quyền tự định đoạt của người phụ nữ khi họ ở vị trí chủ thể trong quan hệ hôn
nhân và gia đình trên thực tế. Trong đời sống hôn nhân, cả hai phía nam và nữ tự tìm
hiểu, không bị ai ép buộc, đều có trách nhiệm xây dựng gia đình và đều có quyền chấm
dứt hôn nhân khi mối quan hệ không còn cơ sở tồn tại. Bên cạnh đó, quy định này còn
mang ý nghĩa xác định cụ thể vai trò của gia đình trong xã hội, trách nhiệm của từng
thành viên trong gia đình cũng như quan điểm nhân đạo của Nhà nước và xã hội trong
việc thừa nhận sự bình đẳng giữa vợ chồng và giữa các con trong gia đình.
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, nhiều chính
sách kinh tế - xã hội của Nhà nước được thi hành nhằm phát triển nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên quyết xoá bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp,
cho phép các thành phần kinh tế phát triển, mở rộng các quan hệ quốc tế. Với những thay
đổi đó của đất nước, để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội mới, Hiến pháp năm 1992 -
Hiến pháp của thời kì đổi mới được ban hành. So với các bản Hiến pháp năm 1946, 1959
và 1980, nội dung quyền bình đẳng của phụ nữ trong Hiến pháp năm 1992 mang tính chất
toàn diện hơn, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chung của xã hội.
Đặc biệt, lần đầu tiên Hiến pháp ghi nhận vấn đề tôn trọng quyền con người về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội và coi đó là nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp
(Điều 50). Bên cạnh đó, những nội dung thể hiện quyền bình đẳng nam nữ trong các bản

Ngoài ra, sự phát triển xuyên suốt của các nguyên tắc và qui định về quyền bình
đẳng của phụ nữ trong các bản Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay không chỉ thể
hiện thông qua sự phát triển về mặt nội dung mà còn ở sự thay đổi về cách thức diễn đạt
các qui định. Trong các bản Hiến pháp năm 1946 và 1959 xác định: “đàn bà ngang quyền
với đàn ông trên mọi phương diện” (Điều 9 Hiến pháp năm 1946) hay tại Điều 24 Hiến
pháp năm 1959 qui định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng
với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình”. Còn ở
Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 lại qui định tại Điều 63: “Công dân nữ và
nam ngang quyền nhau về mọi mặt chính trị, văn hoá, xã hội và gia đình”. Xét trên
phương diện ngôn ngữ, việc bổ sung thêm từ “công dân“ và sự thay thế từ “với” bằng từ
“và” trong các qui định kể trên mang một ý nghĩa lớn lao, nó thể hiện sự thay đổi về mặt
nhận thức, từ quan điểm xem đàn ông là chủ thể có vị trí cao hơn trong xã hội sang quan
điểm coi phụ nữ và đàn ông là những chủ thể hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và
nghĩa vụ pháp lí - đều là những công dân của xã hội.
Những quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền bình đẳng của phụ nữ là một
điểm nổi bật thể hiện bản chất ưu việt và quan điểm dân chủ mang tính nhất quán của
Nhà nước ta. Địa vị của người phụ nữ luôn được Đảng và Nhà nước coi là một tiêu chí
quan trọng thể hiện trình độ văn minh và là mục tiêu cơ bản nhất của sự nghiệp giải
phóng dân tộc, giải phóng con người. Chính vì thế, Nghị quyết sửa đổi bổ sung một số
điều của Hiến pháp năm 1992 ngày 25/12/2001 tiếp tục giữ nguyên những qui định tiến
bộ về quyền bình đẳng nam nữ được nêu rõ trong Hiến pháp năm 1992. Nhìn chung, vấn
đề bình đẳng giới và bảo vệ quyền phụ nữ được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổi bổ sung năm 2001) là cơ sở pháp lí vững chắc cho các văn bản luật cụ thể hoá và đảm
bảo tính khả thi của nó trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời, nó cũng là nền
tảng quan trọng cho các Uỷ ban cũng như các tổ chức chính trị xã hội và toàn xã hội đấu
tranh vì sự tiến bộ của phụ nữ. Chính vì thế, Uỷ ban về địa vị của phụ nữ thuộc Liên hợp
quốc đã khẳng định: “Chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa Hiến pháp và pháp luật đặt vấn
đề quyền bình đẳng của phụ nữ thành một quốc sách thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày
của toàn dân và là mối quan tâm chung của toàn xã hội chứ không phải là vấn đề riêng
của nữ giới”. {7,11}

dedications of women to our nation’s victory, which are regarded as the abundant and
indispensable human resources during the course of our country’s development. The Party and
State have been fully aware that women richly deserve to enjoy the true equality to men in all
aspects of life. As a result, in the first Constitution of our country (the 1946 Constitution), the
State acknowledged the human rights in general and the women’s rights in particular as one of
the basic principles of the Constitution. This principle has been continually inherited and
developed in the next constitutions, creating the comprehensive legal frame for Vietnam’s law
system and manifesting the preeminence of the humanistic democracy of the Vietnam State in the
present time.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status