Giáo trình hướng dẫn tìm hiểu về cách thức quản lý tỷ giá hối đoái trong thị trường Việt Nam hiện nay phần 3 - Pdf 19

Tỷ giá hối đoái * Mục tiêu cân bằng nội : Là trạng thái ở đó các nguồn
lực của một quốc gia đợc sử dụng đầy đủ, thể hiện ở sự toàn dụng
nhân công và mức giá cả ổn định. Mức giá biến động bất ngờ có tác
động xấu đến các khoản tín dụng và đầu t. Chính phủ cần ngăn
chặn các đợt lên hay xuống phát triển đột ngột của tổng cầu để duy
trì một mức giá cả ổn định, có thể dự kiến trớc đợc. Vì vậy, tỷ giá
hối đoái đợc xem nh là một công cụ đắc lực, hỗ trợ hiệu quả cho
Chính phủ trong việc điều chỉnh giá cả, đặc biệt là trong nền kinh
tế, xu thế hội nhập quốc tế nh hiện nay.
* Mục tiêu cân bằng ngoại : Khái niệm "cân bằng ngoại"
khó xác định hơn nhiều so với "cân bằng nội", nó chủ yếu là sự cân
đối trong "tài khoản vãng lai". Trên thực tế ngời ta không thể xác
định đợc "tài khoản vãng lai" nên cân bằng, thâm hụt hay thặng d
bao nhiêu chỉ có thể thống nhất rằng: không nên có một sự thâm hụt
hay thặng d quá lớn mà thôi. Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế,
chính trị xã hội của một quốc gia mà Chính phủ phải có cách để
điều chỉnh tỷ giá hối đoái của họ cho phù hợp, hiệu quả, chủ yếu tác
động vào các hoạt động xuất nhập khẩu và đầu t xuyên quốc gia.
2.1.3. Các công cụ của chính sách tỷ giá hối đoái.
- Phơng pháp lãi suất chiết khấu : Đây là phơng pháp
thờng sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trờng.Với
phơng pháp này, khi tỷ giá hối đoái đạt đén mức báo động cần phải
can thiệp thì NHTƯ nâng cao lãi suất chiết khấu . Do lãi suất chiết
khấu tăng nên lãi suất trên thị trờng cũng tăng lên . Kết quả là vốn
vay ngắn hạn trên thị trờng thế giới sẽ dồn vào để thu lãi suất cao
hơn . Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu về ngoại tệ sẽ bớt đi ,
làm cho tỷ giá không có cơ hội tăng nữa. Lãi suất do quan hệ cung
cầu của vốn vay quyết định . Còn tỷ giá thì do quan hệ cung cầu về

2.2.1.1.1 Chế độ đồng giá vàng (1880 - 1932):
Sau một quá trình phát triển lâu dài, tiền thống nhất từ các dạng
sơ khai thành hai loại: vàng và bạc sau đó cố định ở vàng. Chế độ
Tỷ giá hối đoái bản vị vàng là chế độ ở đó, vàng đóng vai trò là vật ngang giá
chung, chỉ có tiền đúc bằng vàng hoặc dấu hiệu của nó mới có thể
đổi lấy nó. Theo đó, đồng tiền của các nớc đợc đổi trực tiếp ra
vàng, tỷ giá hối đoái đợc hình thành trên cơ sở so sánh hàm lợng
vàng của các đồng tiền, sự so sánh đó đợc gọi là ngang giá vàng
(gold parity).
Ví dụ: 1 GBP = 5 USD có nghĩa là: 1GBP có chứa "một hàm
lợng vàng" tơng đơng với 5 lần hàm lợng vàng của 1 USD. Nói
cách khác, ngang giá vàng của GBP so với USD là: GBP/USD = 5.
Trong chế độ bản vị vàng, khi việc đúc tiền vàng , đổi tiền ra
vàng và xuất nhập khẩu vàng đợc thực hiện tự do thì tỷ giá hối đoái
tách khỏi ngang giá vàng là rất ít vì nó bị giới hạn bởi các điểm
vàng. Thực hiện xuất nhập khẩu vàng sẽ quay quanh "điểm vàng".
Giới hạn lên xuống của tỷ giá hối đoái là ngang giá vàng cộng (hoặc
trừ) chi phí vận chuyển vàng giữa các nớc hữu quan. Điểm cao
nhất của tỷ giá hối đoái gọi là "điểm xuất vàng" vì vợt quá giới hạn
này, vàng bắt đầu "chảy ra khỏi nớc". Điểm thấp nhất của tỷ giá
hối đoái là "điểm nhập vàng" vì xuống dới giới hạn này, vàng bắt
đầu "chảy vào trong nớc".
Nhờ có đặc điểm trên, chế độ bản vị vàng có tính ổn định cao,
tiền tệ không bị mất giá, tỷ giá ít biến động, cán cân thơng mại tự
động cân bằng. Chế độ này có khả năng tự điều tiết khối lợng tiền
tệ trong lu thông mà không cần đến sự can thiệp của Nhà nớc, do
đó nó có tác động tích cực đối với nền kinh tế t bản chủ nghĩa

khi chiến tranh thế giới năm 1914 bùng nổ, chế đọ bản vị vàng tan
vỡ. Các nớc bắt đầu áp dụng các hình thức biến tớng của ngang
giá vàng là chế độ bản vị vàng thoi và chế độ bản vị vàng hối đoái.
Các chế độ này không có tính chất ổn định nh chế độ bản vị tiền
vàng trớc năm 1914. Đến năm 1923, Anh kêu gọi các nớc thực
hiện lại chế độ bản vị vàng nhng không nớc nào tham gia. Năm
1925, Anh đơn phơng thực hiện lại chế độ bản vị vàng, các nớc
Tỷ giá hối đoái cùng nhau phá giá đồng tiền của mình mua GBP, đổi lấy vàng gây
nên nạn chảy máu vàng ở Anh. Năm 1931, Anh buộc phải xoá bỏ
chế độ đồng giá vàng - bảng Anh.
Đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 - 1933 đã
đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ bản vị vàng dới mọi hình
thức và điều đó cũng có nghĩa là đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ tỷ
giá hối đoái ổn định và sức mua của đồng tiền đợc giữ vững.
2.2.1.1.2. Chế độ tỷ giá cố định theo thoả ớc Bretton Woods
(1946 - 1971)
Nhằm ổn định lại sự phát triển thơng mại quốc tế và thiết lập
một trật tự thế giới mới sau thế chiến thứ hai, Mỹ, Anh và 42 nớc
đồng minh đã họp hội nghị tại Bretton Woods (Mỹ) tháng 7/1944 để
bàn bạc xây dựng hệ thống tiền tệ và thanh toán chung. Hội nghị
đợc đánh giá là hội nghị thành công nhất thế kỷ. Tại đây 56 nớc
ký tên hiệp định chấp nhận thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),
Ngân hàng Thế giới (WB) và một chế độ tỷ giá hối đoái mới. Theo
chế độ này, các nớc cam kết duy trì giá trị đồng tiền của mình theo
đồng USD hoặc theo nội dung vàng trong phạm vi biến động không
quá 1% tỷ giá đăng ký chính thức tại quỹ. Nếu các nớc tự thay
đổi tỷ giá mà không đợc sự đồng ý của IMF thì sẽ bị phạt cấm vận.

- Dự trữ không tơng xứng: Do quy mô thơng mại quốc tế
ngày càng tăng gắn liền với những dòng vận động tiền tệ lớn, đòi
hỏi các NHTW phải mua và bán khối lợng lớn đồng USD để duy
trì tỷ giá hối đoái đã thoả thuận. Về dài hạn, một số ngân hàng nhận
thấy dự trữ USD và vàng của mình không đủ đáp ứng nhu cầu trên.
- Các cuộc khủng hoảng có nguyên nhân đầu cơ: Khi có sự
thay đổi về mức giá cả tơng đối giữa các đổng tiền làm cho một số
đồng tiền đợc đánh giá quá cao hoặc quá thấp. Vì tỷ giá là luôn cố
định, việc các nhà đầu cơ mua, bán lợng tiền lớn khiến cho NHTW


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status