Nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời gian tới - 2 - Pdf 19


trở về họ thực sự không thể tự tìm kiếm được việc làm mới, kể cả trở lại nghề cũ hoặc tìm
được những công việc có thu nhập không đáng kể. Vì thế, phần lớn trong số họ lại mong
muốn được tiếp tục đi xuất khẩu lao động một lần nữa. Tuy vậy, do chúng ta chưa thực sự ý
thức được vấn đề hậu xuất khẩu lao động, nên thường thì người lao động khi trở về nước lại
phải bắt đầu tìm kiếm từ đầu một khi họ muốn tiếp tục ra nước ngoài làm việc. Chính vì vậy
mà không phải ai muốn trở lại hoặc sang một nước khác có điều kiện làm việc, thu nhập tốt
hơn cũng có thể sang được. Việc mong muốn được tiếp tục ra nước ngoài làm việc vẫn còn
là một chuyện cực kỳ khó khăn đối với phần đông người lao động, nên mới dẫn đến tình
trạng người lao động bỏ trốn ra làm việc và sống lưu vong ở chính nước mình đến lao động.
Trong khi đó, ở một số quốc gia cùng xuất khẩu lao động như Philippine, Thái Lan,
Pakistan… một khi người lao động đã hoàn thành hợp đồng trở về, họ thường được chính
doanh nghiệp vận động tái xuất bằng những chính sách ưu tiên đặc biệt, nhằm khuyến khích
người lao động tiếp tục trở lại nước cũ, hoặc là sang lao động ở một nước khác có điều kiện
làm việc tốt hơn, nên có rất nhiều lao động tham gia tái xuất, thậm chí có rất nhiều lao động
cả đời chỉ đi lao động ở nước ngoài. Đây là chính sách hậu xuất khẩu rất quan trọng mà các
quốc gia này đã quan tâm và khai thác triệt để từ lâu, nó cũng có thể coi là biện pháp hạn chế
thất nghiệp hậu xuất khẩu mà Việt Nam chúng ta cần phải quan tâm và phát triển hơn nữa.
Chương 2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam qua các thời kỳ
2.1 Đặc điểm cơ bản của lao động Việt Nam và các thị trường xuất khẩu lao động.
2.1.1 Đặc điểm cơ bản của lao động Việt Nam.
So với lao động cùng loại của các nước xuất khẩu lao động, lao động Việt Nam được
giới chủ đánh giá cao, tuy nhiên cũng có một số đặc điểm nổi bật cũng như hạn chế sau.
Ưu điểm:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

- Thông minh, nhanh nhẹn, cần cù, chịu khó, ham hiểu biết.
- Trình độ học vấn tương đối cao.
- Nắm bắt công việc nhanh.
Nhược điểm:
- Tác phong công nghiệp kém (mang nặng tác phong nông nghiệp).

Việt Nam đã đạt được những yêu cầu quan trọng, góp phần tích cực vào mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
Có thể nói, hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia của Việt Nam được chia
thành ba thời kỳ:
2.2.1 Thời kỳ đầu (1980 – 1990).
2.2.1.1 Chủ trương và mục tiêu.
Chủ trương.
Trong những năm đầu của thập kỷ 70 và nhất là sau khi đất nước thống nhất, nhiều
nước đã đặt vấn đề hợp tác sử dụng lao động với nước ta. Đảng và Nhà nước đã có những
chủ trương, chính sách rất rõ ràng về vấn đề này:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

Năm 1979 Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường vụ Hội đồng Chính phủ chính
thức giao cho Bộ Lao động và Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, nghiên cứu tiến hành đàm phán
với một số quốc gia XHCN về trao đổi, hợp tác lao động.
- Ngày 11/02/1980 hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 46/CP về việc đưa cán bộ,
công nhân đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn ở các nước Xã hội Chủ
nghĩa.
- Ngày 29/11/1980 hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 362/CP về việc hợp tác sử
dụng lao động với các nước XHCN, đáp ứng một phần yêu cầu lao động của các nước anh
em, giải quyết việc làm cho một bộ phần thanh niên chưa có việc làm.
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, trong báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm 1986 –
1990, hợp tác lao động đã được xác định là một trong 3 chương trình kinh tế lớn; mở rộng
việc đưa lao động ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp.
Mục tiêu.
- Chủ yếu là đưa cán bộ, công nhân viên đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề, nắm
vững những kỹ thuật then chốt, phức tạp, tinh vi trong quy trình chế tạo sản phẩm và trong
cả dây chuyền công nghệ, hoặc nắm vững những kiến thức và tay nghề cần thiết để có thể tự
mình thiết kế và chế tạo những sản phẩm mới.

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

1981 – 1990 số lượng lao động không nghề đưa đi ngày một tăng lên, chiếm 57,94% trong
tổng số lao động Việt Nam được đưa sang 4 nước XHCN trong cả thời kỳ. Lý do chính của
tình trạng này là do yêu cầu của phía Chính phủ các nước tiếp nhận lao động Việt Nam
không yêu cầu cao về trình độ tay nghề của lao động. Phần lớn các nước này phân phối ngay
lao động Việt Nam vào các nhà máy, cơ sở sản xuất. Họ tự kèm cặp, đào tạo(1) cho lao động
ta để trở thành công nhân thực thụ. Đây là một đặc điểm rất đặc biệt của lao động Việt Nam
khi đi làm việc ở nước ngoài kể từ trước đến nay. Nó cũng rất khác biệt so với hoạt động
đưa lao động ra nước ngoài của các nước trong khu vực như Philippin, Thailand… trong
cùng khoảng thời gian này.
Ngoài các nước XHCN nhà nước ta còn đưa 25.200 lao động sang cả các nước khác.
Nhưng chủ yếu là tập trung ở các nước vùng Vịnh và các nước thuộc Châu Phi. Lao động
đưa sang các nước vùng Vịnh là 18.000 người và Châu Phi (Libya, Angieria, Angola,
Mozambiq, Congo, Madagasca) là 7.200 người.
Nguồn: Cục Quản lý Lao động với nước ngoài – Bộ Lao động TB&XH.
Như vậy, trong thời kỳ này thị trường xuất khẩu lao động của chúng ta tập trung chủ
yếu vào thị trường các nước XHCN như trong bảng số (2) đã chỉ rõ. Phần lớn lao động của
ta đưa sang 4 quốc gia, chủ yếu tập trung ở Liên Xô và CHDC Đức. Hai quốc gia còn lại về
số lượng lao động đến làm việc không lớn bằng Liên Xô và CHDC Đức, nhưng cũng cho
thấy đây là hai thị trường cũng không kém phần qua trọng trong hệ thống các nước mà lao
động Việt Nam được đưa đến lao động.
Về độ tuổi của số lao động trên khi gửi đi, theo quy định là từ 18 – 40 tuổi. Đây được
coi là độ tuổi có nhiều khả năng tốt về thể lực, trí lực và năng lực làm việc khi đi lao động ở
nước ngoài. Thực tế cho thấy, ở một số nước có xuất khẩu lao động, họ cũng lựa chọn lao
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

động trong độ tuổi này để đưa đi. Do đó, sau khi kết thúc thời hạn lao động trở về, người lao
động vẫn còn có thể tiếp tục tái xuất hoặc làm việc ở trong nước tuỳ theo khả năng của
mình.

- Ngày 20/01/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 07/NĐ - CP đã khảng định: Đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một hướng giải quyết đúng
đắn…
Mục tiêu.
Nhằm duy trì xuất khẩu lao động, phát huy mọi tiềm năng lao động và chất xám, giải
quyêt việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho Đất nước.
2.2.2.2 Kết quả xuất khẩu lao động.
Khác với thời kỳ đầu, cơ chế xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời kỳ này đã được
đổi mới, trong đó phân định rõ chức năng quản lý của nhà nước và chức năng kinh doanh
dịch vụ xuất khẩu lao động. Nhà nước thống nhất xuất khẩu lao động bằng các chính sách và
quy định pháp lý. Các tổ chức kinh tế được nhà nước cấp giấy phép thực hiện hoạt động
kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động thông qua các hợp đồng ký kết với bên nước ngoài.
Do vậy mà khắc phục được những khó khăn và đạt được một số kết quả khích lệ bước đầu
và điều này được thể hiện rõ qua bảng số (4) kết quả xuất khẩu lao động dưới đây.
Nguồn: Cục Quản lý Lao động với nước ngoài – Bộ Lao động TB&XH.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

Hình (2): Mô tả kết quả Xuất khẩu lao động và chuyên gia Việt Nam
thời kỳ (1991 - 1995).
Qua kết quả xuất khẩu lao động thời kỳ từ 1991 – 1995 trên đây, ta nhận thấy một số
vấn đề sau:
Nhìn chung, số lượng lao động xuất khẩu của ta đưa đi hàng năm là rất thấp so với
các năm xuất khẩu trong thời kỳ trước, đồng thời số lượng lao động xuất khẩu cũng không
cố định mà luôn có sự biến đổi theo từng năm cụ thể. Số lượng lao động xuất khẩu thấp nhất
trong thời kỳ này là năm 1992, ta chỉ đưa đi được 810 lao động; trong đó có 79 người là lao
động Nữ, chiếm 33,33% và 423 lao động đã có tay nghề, chiếm 52,22% trong tổng số lao
động được đưa đi năm 1992. Năm 1991 được coi là năm có tiến bộ hơn, nhưng số lượng lao
động đưa đi cũng chỉ dừng lại ở con số 1.022 lao động; Trong đó, 133 lao động Nữ, chiếm
34.05% và 520 người là lao động đã qua đào tạo, chiếm 51% trong tổng số lao động được
đưa đi trong năm 1991. Tình trạng trì trệ này đã được khắc phục bằng các kết quả số lượng

Các nước khác 1.051 0
Tổng 25.072
Có thể nói, mật độ phân bố của lao động Việt Nam ta trên các thị trường là khá đa
dạng. Trong đó bao gồm cả những nước trước kia vốn dĩ là thị trường truyền thống của ta và
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

lao động Việt Nam bước đầu đã tiếp cận được với các thị trường mới trong khu vực cũng
như trên thế giới.
Số liệu cũng cho thấy lao động của ta chủ yếu tập trung ở một số các thị trường
mới(1) như: Hàn Quốc 11.512 lao động, Libya 6.183 lao động, Lào 2.966 và Nhật Bản là
1.499 lao động. Trong các thị trường còn lại, riêng hai thị trường Đài Loan và Malaysia tuy
số lượng lao động tiếp nhận chưa nhiều song cũng cho thấy đây là hai thị trường rất có triển
vọng đối với lao động Việt Nam.
Cũng giống như thời kỳ đầu, độ tuổi lao động xuất khẩu Việt Nam đã đưa đi trong
thời kỳ này, vẫn chủ yếu nằm trong độ tuổi khoảng từ 18 – 40.
Về cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam tại các quốc gia trên, được phản ánh
trong bảng số (6) dưới đây:
Qua số liệu thống kê về cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam tại các quốc gia thời kỳ
1991 – 1995 trên đây cho thấy:
Nhìn chung, phần lớn cơ cấu ngành nghề chưa đa dạng hơn so với thời kỳ đầu từ
1980 – 1990. Lao động Việt Nam vẫn chủ yếu tập chung làm việc trong các lĩnh vực: Công
nghiệp(1) 1.2831 lao động, Xây dựng 8.918 lao động, Lâm nghiệp 1.275 lao động. Lao động
làm việc trong các lĩnh vực: Nông nghiệp, Dịch vụ và các ngành khác là không đáng kể.
Trong đó số lao động có nghề chiếm tỷ lệ khoảng 53,65%, chủ yếu tập trung trong các lĩnh
vực như Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Xây dựng và Công nghiệp. Số còn lại là lao động không
nghề, chiếm 46,35% chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực(1), phần công việc ít đòi hỏi trình
độ tay nghề cao. Các quốc gia có số lượng lao động tập trung lớn là: Hàn Quốc 11.512 lao
động, tiếp đến là Libya 6.183 lao động, Lào 2.966 lao động…
2.2.3 Thời kỳ 1996 đến nay.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

trọng lâu dài của đất nước.
Như vậy, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xuất khẩu lao động là
hoàn toàn rõ ràng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước và cũng là phù
hợp với xu hướng chung của hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm hướng tới mục tiêu kinh tế là
phát huy mọi tiềm năng lao động và chất xám, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao
mức sống của người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Mục tiêu.
Đưa xuất khẩu lao động trở thành một lĩnh vực kinh tế xã hội, góp phần phát triển
nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người
lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và đặc biệt là xây dựng đội ngũ lao động cho
công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước.
2.2.3.2 Kết quả xuất khẩu lao động.
Thực hiện cơ chế đổi mới xuất khẩu lao động trong hơn 10 năm qua, đặc biệt là trong
những năm gần đây, hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam đã đạt được một số thành
tích đáng kể. Lao động Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các thị trường như Đông Bắc á, Đông
Nam á, Trung Đông, Châu Phi, một số đảo thuộc Nam Thái Bình Dương và một số khu vực
trên biển. Số lượng lao động đưa đi hàng năm tăng đều, từ 1996 đến tháng 10 năm 2003 xuất
khẩu lao động Việt Nam đã đưa đi được tổng cộng 245.034 lao động, trong đó có 52.583 lao
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

động Nữ, chiếm 21,46% trong tổng số lao động xuất khẩu và 129.184 lao động có tay nghề,
đạt tỷ lệ 52,72% trong tổng số 245.034 lao động xuất khẩu trong cả thời kỳ.
Tiến độ xuất khẩu được thể hiện cụ thể qua kết quả xuất khẩu lao động hàng năm
trong bảng số (7) dưới đây.
Qua kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam thời kỳ từ 1996 – 2003 trên đây, ta nhận
thấy một số vấn đề sau:
Nhìn chung, kết quả xuất khẩu lao động của ta trong thời kỳ này là tốt hơn so với các
thời kỳ trước. Số lượng lao động xuất khẩu giữa các năm không cố định, năm sau tăng cao
hơn năm trước trung bình khoảng 27,54%. Mặc dù vậy, song xuất khẩu lao động Việt Nam
trong thời kỳ này không phải là không gặp những khó khăn riêng do chịu tác động từ các

Các nước trước kia vốn là các thị trường truyền thống của lao động Việt Nam, thì nay
đang có nguy cơ bị thu hẹp dần, do nhu cầu về lao động giảm, thậm chí một số nước trong
những năm gần đây, đã ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam. Các nước khác vẫn còn tiếp
nhận lao động Việt Nam nhưng với số lượng không đáng kể và mức độ tiếp nhận cũng
không phải là thường xuyên.
Số liệu cũng cho thấy, phần lớn lao động của ta chủ yếu tập trung tại các nước trong
khu vực như: Lào 62.321 lao động; trong đó 680 người là lao động Nữ. Malaysia 56.512 lao
động; trong đó 11.336 người là lao động Nữ. Đài Loan 52.766 lao động; trong đó 24.101
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

người là lao động Nữ. Hàn Quốc 33.437 lao động trong đó 9.435 người là lao động Nữ. Nhật
Bản 16.176 lao động; trong đó 5.444 người là lao động Nữ. có thể coi đây là những thị
trường chính, thu hút và tiếp nhận chủ yếu nguồn lao động xuất khẩu của Việt Nam hiện tại
cũng như trong những năm tới.
Qua bảng số liệu thống kê về cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam tại các quốc gia trên
đây thời kỳ 1996 – Nay cho thấy:
Cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam trong thời kỳ này chủ yếu tập chung vào
các lĩnh vực chính đó là Công nghiệp và Xây dựng. Các ngành khác như: Dịch vụ, Lâm
nghiệp, Nông nghiệp có số lượng lao động làm việc không đáng kể. Ngành có số lượng lao
động tập trung ít nhất là lĩnh vực Nông nghiệp với số lượng không đáng kể, khoảng 90 lao
động, bằng 0,036%, cho thấy đây là ngành kém hấp dẫn và nhu cầu tiếp nhận không nhiều.
Lĩnh vực có số lượng lao động tập trung cao nhất phải nói đến là Công nghiệp, khoảng
115.442 lao động, chiếm 47,11% trong tổng số lao động các ngành nghề. Ngoài ra Xây dựng
là ngành có số lượng lao động làm việc đứng thứ hai, khoảng 60.250 lao động, chiếm
24,58%. Bên cạnh đó, các ngành khác chiếm một lượng lao động cũng khá đông, khoảng
45.212 lao động, chiếm 18,45%. Số liệu cũng cho thấy, các ngành Công nghiệp, xây dựng có
số lượng lao động tập trung đông, chủ yếu ở các nước: Lào, Malaysia, Hàn quốc, Đài Loan,
Nhật Bản và Libya. Các nước còn lại là không đáng kể.
2.3 Thành công và hạn chế trong lĩnh vực xuất khẩu lao động.
2.3.1 Những thành công.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status