skkn tiếp cận “bài ca ngất ngưởng” của nguyễn công trứ ở phương diện giọng điệu trữ tình - Pdf 19



GIỌNG ĐIỆU TRỮ TÌNH.

Người thực hiện: TRẦN THỊ PHƯƠNG DUNG.
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục: 1
- Phương pháp dạy học bộ môn: R
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: 1
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
1 Mô hình 1 Phần mềm 1 Phim ảnh 1 Hiện vật khác
Năm học: 2011-2012
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong chương trình Ngữ văn lớp11, học sinh được tiếp cận với khá
nhiều tác phẩm thơ trữ tình cả ở phần văn học trung đại và phần văn học
hiện đại. Cái tôi trữ tình ở mỗi giai đoạn lại được thể hiện dưới nhiều hình
thức nghệ thuật và giọng điệu khác nhau, tạo nên những phong cách, cá
tính độc đáo riêng cho từng nhà thơ. Nắm được nội dung và hình thức nghệ
thuật của thơ trữ tình không phải là điều dễ dàng đối với học sinh. Bởi vì
có nhiều học sinh chỉ quan tâm đến nội dung mà xem nhẹ hoặc không tìm
hiểu hình thức nghệ thuật của bài thơ. Điều này dẫn đến một thực trạng là
học sinh không thấy hết được cái hay, cái độc đáo của thơ trữ tình cả về
nội dung lẫn hình thức nghệ thuật nên thường diễn nôm thơ trữ tình khi
cảm nhận thơ. Chính vì thế, trong quá trình giảng dạy và tiếp xúc với học
sinh, tôi nhận thấy một trong những yếu tố quan trọng giúp học sinh có thể
cảm nhận thơ trữ tình tốt hơn đó là giúp các em nắm được sự đa dạng của
giọng điệu trong thơ trữ tình.
Hơn nữa, giọng điệu trong thơ trữ tình ở những giai đoạn văn học
khác nhau lại có những đặc trưng khác nhau. Vì vậy, trong phạm vi giới
hạn của đề tài, tôi xin có một vài đóng góp ý kiến về việc tiếp cận bài ca
trù “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ ở phương diện giọng
điệu trữ tình để phần nào giúp hoc sinh nắm bắt tác phẩm một cách dễ
dàng hơn. II.TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1.Cơ sở lí luận:
Theo GS Trần Đình Sử: giọng điệu nhà thơ là biểu thị lập trường, tư

con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời. Lê Quý Đôn
khẳng định: “thơ phát khởi từ trong lòng người ta”. Đuy Be-lây thì cho
rằng “thơ là người thư kí trung thành của những trái tim”. Để cảm nhận
được cái hay, cái đẹp của thơ, ta không thể không nhìn nhận tầm quan
trọng của giọng điệu trong thơ trữ tình.
2.2 Giọng điệu trong thơ trữ tình: -Giọng điệu là yếu tố cơ bản tạo nên phong cách nghệ thuật, thể hiện
lập trường xã hội, thái độ, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ, sở trường ngôn ngữ
tác giả. Nó gắn chặt với đối tượng giao tiếp và cách thức tổ chức lời lẽ diễn
đạt.
-Giọng điệu thơ được trợ giúp của nhiều yếu tố như: ngữ điệu, nhịp
điệu và nhạc điệu.Vì vậy, khi tìm hiểu thơ trữ tình, cần giúp học sinh phân
định được sự khác nhau giữa các yếu tố này:
+Ngữ điệu: là một phạm trù của ngôn ngữ học, thực hiện các chức
năng phân biệt các kiểu thông báo, phân biệt các bộ phận của phát ngôn.
Giọng điệu và ngữ điệu có mối quan hệ chi phối và phụ thuộc lẫn nhau.
+Nhịp điệu: là sự lặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân
phiên theo thời gian của các hiện tượng ngôn ngữ nhằm thể hiện sự cảm
nhận thẩm mĩ về thế giới trong sự vận động của nó. Maiacovxki đã từng
khẳng định: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lượng cơ bản của câu
thơ.”
+Nhạc điệu: được tổ chức nhờ nhiều yếu tố: ngắt nhịp, gieo vần,
phối thanh…làm cho câu văn thêm hay, thêm réo rắt và trầm bổng…
2.3 Giọng điệu trữ tình trong thơ ca trung đại:
Như chúng ta đã biết, văn học trung đại mang tính quy phạm rất cao.
Điều này thể hiện rất rõ ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật của tác
phẩm. Vì vậy, tài nghệ của các nhà thơ trung đại được bộc lộ chủ yếu ở
việc dùng từ, đặt câu, nghệ thuật điểm nhãn, tạo sự cân xứng, hài hòa trong

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người tái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng, Không phật, không tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Cũng như những bài ca trù khác , “ Bài ca ngất ngưởng” có sự kết
hợp của cả yếu tố Hán văn và Việt văn. Giọng điệu vừa nghiêm trang vừa
hóm hỉnh. Qua đó, chân dung nhân vật trữ tình được tái hiện khá đầy đủ
với hình ảnh “Ông ngất ngưởng” trên con đường hoạn lộ và ngay cả khi
cáo quan về hưu. “Ngất ngưởng” ngay trong cả suy nghĩ hành động.
2.4.1. Tìm hiểu về tác giả :
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt
hiệu Hi Văn, xuất thân trong một gia đình Nho học, người làng Uy Viễn,
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Từ nhỏ đến năm 1819, ông sống trong
nghèo khó và chính thời gian này, ông có điều kiện tham gia sinh hoạt hát
ca trù vốn khá phát triển ở làng Cổ Đạm gần làng ông.
Năm 1819, ông thi đỗ Giải nguyên và được bổ làm quan. Nhưng con
đường hoạn lộ của ông không được bằng phẳng. Ông được thăng chức và
bị giáng chức thất thường, có lúc được bổ nhiệm làm Tổng đốc Hải An, có
lúc bị giáng chức làm lính thú ở Quảng Ngãi.

tự tin, ngạo nghễ và thách thức.
2.4.3. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ:
Có thể nói, từ ngữ đáng chú ý nhất của bài thơ đó là từ “ngất
ngưởng”. Đây là từ ngữ xuất hiện nhiều nhất, xuyên suốt bài thơ (từ nhan
đề đến cuối các câu: 4,8,12 và giữa câu 19). Vì vậy, giáo viên cần giúp học
sinh hiểu rõ khái niệm “Ngất ngưởng” ở đây là chỉ một tư thế, một thái độ,
một tinh thần, một phong cách sống vượt lên thế tục, vượt lên mọi lề lối
thông thường. Đây cũng chính là cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
2.4.4.Giọng điệu tự tin, đề cao và khẳng định cái tôi trước cuộc đời:
(câu 1,2) Bài thơ được mở đầu bằng một câu thơ chữ Hán có tính chất như
một tuyên ngôn, thể hiện cái chí làm trai của tác giả:
“Vũ trụ nội mạc phi phận sự”
(Mọi việc trong khoảng trời đất này đều là của ta)
để khẳng định, đề cao vai trò, trách nhiệm, danh phận của cá nhân trước
cuộc đời. Đây cũng là điều được Nguyễn Công Trứ nhắc đến rất nhiều
trong các sáng tác của ông “Vũ trụ chức phận nội” (việc vũ trụ là phận sự
của ta –Phận sự làm trai), “Trong vũ trụ đã đành phận sự” (Chí nam nhi).
Theo Nguyễn Công Trứ, kẻ làm trai phải làm nên việc lớn, “phải có danh
gì với núi sông”, phải được lưu danh trong sử sách. Sự tự ý thức này được
thể hiện qua giọng điệu thơ hết sức khẳng khái , tự tin vào bản lĩnh, khao
khát được cống hiến tài năng, sức lực, trí tuệ để giúp dân, giúp nước.
Hi Văn là biệt hiệu của Nguyễn công Trứ, ông tự xưng danh như
một cách để khẳng định bản thân trước cuộc đời: “Ông Hi Văn tài bộ đã
vào lồng”. Cách thức khẳng định cá nhân này ta cũng có thể thấy được ở
một số tác giả khác trong văn học trung đại như Hồ Xuân Hương trong bài
Mời trầu: “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của xuân Hương mới quệt rồi”

Nguyễn Công Trứ là người có cá tính độc đáo. Đã làm thì làm hết
sức mà đã chơi thì chơi cũng hết mình. Đoạn đời treo ấn trả triều đình có
lẽ là đoạn đời có nhiều điều thú vị, bất ngờ nhất, được tái hiện bằng một
giọng điệu hết sức hóm hỉnh, lạc quan, yêu đời, vượt lên những lề lối thông
thường, sống “ngất ngưởng” giữa đời thường:
“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.
Ngay cả trong quan niệm sống của Nguyễn Công Trứ cũng thể hiện
một cái tôi “ngất ngưởng”, phóng túng, tô đậm tính cách con người ông:
chẳng quan tâm đến chuyện được- mất, chẳng bận lòng vì kẻ khen- chê, trước sau một lòng giữ trọn đạo vua tôi. Giọng điệu thơ thanh thản như
chính thái độ sống của ông vậy:
“Được mất dương dương người tái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không phật, không tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”.
2.4.7.Giọng điệu thách thức, khẳng định bản lĩnh: (câu 19)
“Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”
Với giọng điệu thách thức, câu thơ kết như khẳng định một lần nữa cá
tính, sự tự tin, bản lĩnh mạnh mẽ của một con người có tâm hồn tự do,
phóng khoáng, từng làm nên sự nghiệp lớn và ít nhiều có sự phá cách về
quan niệm sống, vượt qua những khuôn khổ khắt khe của lễ giáo phong
kiến, theo đuổi cái tâm tự nhiên, ngạo nghễ, ngất ngưởng trước triều đình

-Khuyến khích các em tự học nhóm, tự tìm tài liệu học tập, phát huy
tính tự giác trong học tập của các em.
-Liên hệ vấn đề giảng dạy với thực tiễn cuộc sống để tạo hứng thú
trong giờ học cho học sinh.
2. Đối với học sinh:
-Phải biết tự giác trong học tập, đọc và tìm hiểu kĩ văn bản trước khi
lên lớp.
-Biết tham khảo và xử lí tài liệu.
-Tích cực xây dựng bài học, mạnh dạn đề xuất những ý kiến, đóng góp
mới mẻ, những băn khoăn, thắc mắc cần giải đáp.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Giọng điệu trong thơ trữ tình – Nguyễn Đăng điệp- NXB Văn học Hà
Nội 2002.
2. Văn học trung đại Việt Nam – GS.Lê Trí Viễn, PTS.Đoàn Thu Vân,
GV. Lê Thu Yến, GV. Lê văn Lực, GV. Phạm Văn Phúc khoa Văn
ĐHSP TPHCM 1997.
3. Bài giảng văn học THPT – Huỳnh Tấn Kim Khánh – NXB Trẻ 2000.
4. Tiếng Việt –Sách giáo viên 11 –Hồng Dân (chủ biên) – NXBGD 2000.
5. SGK Ngữ văn 11 – Phan Trọng Luận (chủ biên) – NXBGD 2007.
6. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng ngữ văn 11 –
BGDVĐT- NXBGDVN – 2010.
7. 131 bài văn chọn lọc 11 – Hoàng Vân, Hương Trà – NXB Thanh Hóa-
2001.

NGƯỜI THỰC HIỆN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status