Về hiện tượng thể lục bát chiếm ưu thế trong ca dao truyền thống - Pdf 19

Về hiện tượng thể lục bát chiếm ưu
thế trong ca dao truyền thống
Các nhà khoa học đã khái quát những đặc điểm chính của thể lục bát
người Việt như sau:
- Đơn vị hạt nhân của thể lục bát là 2 dòng (trên sáu, dưới tám).
- Luật bằng (B), trắc (T) trong cả hai dòng lục và bát vần bằng (có cả lục bát
vần trắc nhưng số lượng không đáng kể) phải đảm bảo 2B, 4T, 6B và 8B, như thế
cũng có nghĩa là lục bát hiệp vần bằng ở tiếng thứ 6
(1)
cả hai dòng.
- Tiếng thứ 6 và 8 ở dòng bát tuy đều cùng vần bằng nhưng phải khác thanh:
hoặc là huyền- ngang, hoặc ngang- huyền (không có h-h, n-n).
- Phần lớn lục bát ngắt nhịp chẵn.
Từ những khái quát trên, không ít người cho rằng lục bát là thể thơ đơn điệu,
buồn tẻ. Năm 1998, tại Nhóm yêu nhạc Sydney, sau khi chỉ ra tính chặt chẽ trong
âm điệu và nhịp điệu của lục bát, Phạm Quang Tuấn đã than thở rằng: Nếu phải
nghe cái nhịp đều đều này mấy ngàn lần liên tiếp trong một tác phẩm lục bát dài thì
quả là một cực hình!
Vậy nhưng, thực hiện thống kê từ nhiều bộ sưu tập ca dao khác nhau, các nhà
khoa học đều có chung một kết quả là: mặc dầu trong ca dao người Việt có mặt hầu
hết các thể thơ truyền thống của thơ ca Việt Nam như 4 chữ, 5 chữ, thất ngôn, lục
bát, song thất lục bát và thể tự do, nhưng riêng thể lục bát chiếm tới hơn 90%.
Thể lục bát cũng chiếm số lượng khá lớn trong nền văn học viết dân tộc, đặc
biệt nó đã đem lại những thành công rực rỡ cho các nhà thơ danh tiếng như Nguyễn
Du, Tản Đà, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Bính và gần đây là Nguyễn Duy, Đồng
Đức Bốn,
Điều ngạc nhiên là: hầu như cả những kết luận lẫn con số thống kê trên đã
được các nhà khoa học công bố từ nhiều năm nay nhưng ít ai lý giải đến nơi đến
chốn và có sức thuyết phục hiện tượng tuyệt đại đa số ca dao truyền thống được
sáng tác theo thể lục bát.
Phạm Thu Yến viết cả Những thế giới nghệ thuật ca dao

còn nghi ngờ gì nữa, hát lý là ca dao lục-bát được phổ nhạc
(6)
. Không ai chê trách
Phạm Duy và Phạm Quang Tuấn, nhưng chúng ta đều nhận ra hai nhạc sĩ đã kết
luận ngược, bởi ca dao truyền thống là “ca từ” của dân ca chứ không phải dân ca là
sự phổ nhạc của ca dao. Từ ngàn xưa, để tạo nhịp nhàng và sảng khoái trong lao
động, con người đã sáng tạo ra dân ca. Không loại trừ trường hợp sau này có những
bài ca dao lục bát được hát thành dân ca (ba miền), nhưng xét về quá trình thì thể
lục bát được hình thành từ tục ngữ
(7)
, được hoàn thiện dần qua ca từ của dân ca,
cộng thêm sự “nâng cấp” của các nhà thơ. Dẫu sao cái “kết luận ngược” trên đây
của hai nhạc sĩ cũng đã cho ta một nhận thức quan trọng về nhạc tính của thể lục
bát. Cả Phạm Duy và Phạm Quang Tuấn đều khẳng định: Một cặp lục-bát là một
nhạc khúc. Trong bài viết của mình, Phạm Quang Tuấn cũng đã tự hỏi tại sao lục
bát lại chiếm vai trò quan trọng trong thơ Việt Nam như vậy? Và với tư cách một
nhạc sĩ, anh đã chứng minh lục bát có ảnh hưởng như thế nào đối với âm nhạc
Việt Nam.
Tiếng Việt có 6 thanh, được phân làm hai nhóm: bằng (với ngang và
huyền), trắc (với sắc, nặng, hỏi và ngã). Tuyệt đại đa số ca dao lục bát cũng như thơ
lục bát đều hiệp vần bằng và kết thúc cả hai dòng lục - bát đều vần bằng. Cả trong
những trường hợp hiếm hoi khi một bài ca dao lục bát thả vần trắc ở tiếng cuối
dòng lục đầu tiên như Tò vò mà nuôi con NHỆN thì dòng bát, dẫu phải hiệp vần
trắc (QUỆN), vẫn kết thúc với vần bằng: Đến khi nó lớn, nó quện nhau ĐI nên
mặc nhiên, cặp lục bát thứ hai trở đi phải trở về vần bằng: Tò vò ngồi khóc tỉ
TI, Nhện ơi nhện hỡi nhện ĐI đường NÀO. Bởi vậy lục bát vần trắc không thực
hiện được quá hai dòng và dòng lục, thả vần trắc chỉ có thể là dòng đầu (không thể
nằm giữa tác phẩm)
(8)
. Tóm lại, tuyệt đại đa số lục bát đều sử dụng vần bằng.

Những kết luận của Phạm Quang Tuấn là một trong những cơ sở để ta lý giải
tại sao khuôn vần chủ yếu trong dân ca người Việt là vần bằng và tuyệt đại đa số ca
từ trong dân ca người Việt đều theo thể lục bát.
Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu lục bát của ta cũng như Phạm Quang Tuấn
lại thấy thể thơ này đơn điệu, buồn tẻ.
Theo Phạm Quang Tuấn: vì mỗi cặp lục bát luôn luôn kết thúc ở nhịp mạnh,
âm bằng nên gây cho ta một cảm tưởng đã chấm dứt (finality), không thể dùng âm
điệu hay nhịp để dựng lên một sự căng thẳng rồi dần dần đưa đến giải
quyết. Bởi 1000 câu lục bát thì có 500 câu hỏi và 500 câu trả lời, chứ không thể có
một câu hỏi lớn, đưa đến tranh chấp dài hơi, đưa đến một sự giải quyết mãnh liệt ở
cuối và nếu cộng hai cái "nghỉ" (rest) ở cuối câu lục thì nhịp lại càng cứng và đều
đều buồn tẻ hơn nữa: ta ĐA ta ĐA ta ĐA (nghỉ nghỉ), ta ĐA ta ĐA ta ĐA ta ĐA.
Nếu phải nghe cái nhịp đều đều này mấy ngàn lần liên tiếp trong một tác phẩm lục
bát dài thì quả là một cực hình! Khi nói về tính đơn điệu trong âm điệu của Truyện
Kiều bởi tác phẩm này tập hợp tới 1627 cặp lục bát (3254 dòng), Phạm Quang Tuấn
còn viết: Về mặt âm điệu (xin nhấn mạnh tôi không muốn nói về những khía cạnh
khác ngoài âm điệu), Truyện Kiều là mấy ngàn mô đất nhỏ đứng cạnh nhau chứ
không phải là một rặng núi lớn.
Nhưng nếu thể lục bát đơn điệu, buồn tẻ đến như vậy thì tại sao nó tồn tại và
phát triển được đến ngày nay đầu cửa miệng người đời?
Trên cơ bản chúng tôi không phản đối nhận xét của Phạm Quang Tuấn về
tính đơn điệu của thể lục bát và có thể điều này liên quan tới một đặc điểm trong
tính cách người Việt là thích nhẹ nhàng, ổn định, không ưa những biến động lớn,
nhưng có lẽ sai lầm mà Phạm Quang Tuấn và nhiều người khác mắc phải là đã
nghiên cứu lục bát như một thể thơ thuộc nghệ thuật ngôn từ thuần túy, tách khỏi
nguồn gốc sinh thành của nó là dân ca. Quả thực, ngày nay lục bát đã trở thành một
thể thơ được các tác giả văn học viết sử dụng phổ biến và ca dao lục bát cũng đã
được xem là một thể loại nghệ thuật ngôn từ, nhưng xét từ nguồn gốc xa xưa, lục
bát trong ca dao truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân ca. Và nếu nghiên cứu kỹ lục
bát trong dân ca người Việt, chúng ta sẽ thấy cái tính đơn điệu, đều đều, đó đã

Chúng ta có thể dẫn ra hàng loạt câu ca dao ở dạng lục bát cưỡng vận:
- Thuyền xuôi neo nọc cũng XUÔI
Nhớ em, anh nhớ cả ĐÔI má hồng (tr.323)
(10)
- Mồ cha con bướm khôn NGOAN
Hoa thơm bướm đậu, hoa TÀN bướm bay (tr.321)
Hai câu ca dao trên đều cưỡng vận nhưng ở câu trước xuôi và đôi đều cùng
thanh bằng, thuộc đơn cung vừa (ngang), trong khi ở câu sau ngoan và tàn vừa ép
vận lại lệch cung (ngang và trầm).
Chúng ta cũng gặp không ít trường hợp lạc vận:
Chèo mau cho thiếp gặp CHÀNG
Hai ta hiệp lại cho THÀNH một đôi (tr.289)
cả trong bài ca dao quen thuộc nhất:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị VÀNG
Nhị vàng, bông trắng lá XANH
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn (tr.137)
Cách ngắt nhịp linh hoạt, khác với dạng đều đều mà Phạm Quang Tuấn chỉ ra
cũng không hiếm:
Vì sông/ nên phải lụy đò
Vì chiều tối/ phải/ lụy cô bán hàng
Vì tình/ nên phải đa mang
Vì duyên/ thiếp biết quê chàng/ ở đây (tr.238)

Hiện tượng không chỉnh thể của lục bát không chỉ diễn ra trong một cặp hai
dòng mà có thể phối hợp trong một tác phẩm nhiều dòng, trong đó những dòng lục
bát chuẩn đã được kết hợp với những dòng có biến thái như ngắt nhịp, ép vận, lạc
vận, thay đổi vị trí hiệp vần, tăng số chữ trong mỗi dòng câu, kết thúc bằng dòng
lục (chứ không phải dòng bát như thường lệ), v.v… Sau đây là một ví dụ điển hình:
1 Khăn anh/ nàng lấy/ vá VAI

Gớm/ sao có một cánh đồng/ mà xa. (1/4/2)
Bờ rào/ cây bưởi không hoa, (2/4)
Qua bên nhà/ thấy bên nhà/ vắng teo. (3/3/2)
- Cái gì/ như thể nhớ mong, (2/4)
Nhớ nàng/ không/ quyết là không nhớ nàng. (2/1/5)
- Anh đi đấy/ anh về đâu? (3/3)
Cánh buồm nâu/… cánh buồm nâu/… cánh buồm… (3/3/2)
và ở thơ Bùi Giáng:
Ðổ thêm nước/ vào nồi canh, (3/3)
Bớt củi nồi cá,/ chậm,/ nhanh,/ từ từ (4/1/1/2)
Các biến thể ngắt nhịp, vần luật, âm luật cũng xẩy ra ở thơ Du Tử Lê:
Phố cao,/ gió nổi,/ bóng MỜ (2/2/2)
Đêm lu,/ trời lặng,/ tôi GÙ lưng,/ đi (2/2/3/1)
(11)
hoặc:
Sương,/ trần/ thân mây chia,/ ly
Nhập chung nỗi chết:/ sầu khô,/ héo,/ về
Nguyễn Duy bỏ qua vần luật mà cặp lục bát vẫn đầy thi vị:
Thức là ngày/ ngủ là ĐÊM,
Vẫn xin em/ chớ làm SAO giữa trời.
Sự chặt chẽ về âm luật của thể lục bát cũng như khả năng biến thái rộng rãi
của nó đã được khái quát trong bốn dòng lục bát:
Bình hai, sáu, tám; trắc tư,
Phải lo giữ trọn, kỳ dư mặc tình.
Còn như giữ chẳng đặng tinh,
Hai trắc, bốn bình đổi lại cũng xong.
Để thấy rõ sự biến thái này chúng ta có thể dẫn ra hàng loạt câu ca dao bốn
bình (4B):
- Con vua lấy THẰNG bán than
Nó đưa lên ngàn cũng phải đi theo

Sinh:
Người lên ngựa,/ kẻ chia bào
Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san
Để miêu tả một cuộc chia ly, câu thơ đã được chia hai như kẻ đi, người ở.
Những câu thơ lục bát của Nguyễn Bính đã dẫn trên đây cũng sử dụng cách ngắt
nhịp lẻ này.
Không chỉ ngắt nhịp chẵn/lẻ linh hoạt, các nhà thơ còn ngắt các dòng lục, bát
thành nhiều dòng ngắn như thơ mới, “thơ bậc thang”, vậy mà âm hưởng lục bát
dường như vẫn được bảo toàn nguyên vẹn:
– Chia cho em một đời say
Một cây si/
với/
một cây bồ đề
(Nguyễn Trọng Tạo)
– hình như là gió rung cây
hình như có đám mây bay
về trời
hình như
em đã yêu tôi
hình như tôi
lại yêu rồi người ta
và hình như
hình như là
người tôi yêu
yêu
người ta mất rồi
Tóm lại, lục bát là thể thơ có nhạc tính cao, có lợi thế trong lựa chọn nhịp
(chẵn/lẻ), trong ứng dụng lại có khả năng lệch thể, biến thể khá rộng và linh hoạt
trên nhiều phương diện (hiệp vần, hiệp âm, ép vận, cưỡng vận, lạc vận, thay đổi số
chữ trong mỗi dòng, số dòng trong mỗi đơn vị tác phẩm,…) đáp ứng được nhu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status