Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
1
Tiểu luận Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống
tinh thần của người Việt Nam hiện nay
Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
2
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU .2
Chương I. TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO VÀ MỘT SỐ QUAN
ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO .2
1.Vài nét về tiến trình phát triển của Nho giáo (Khổng tử và Nho giáo) .3
2.Một số quan điểm cơ bản của Nho giáo .5
2.1 - Quan điểm về bản chất con người: .5
2.2 - Quan điểm về xã hội học: .7
2.3 - Quan điểm về giáo dục: .7
2.4 - Quan điểm về quản lý xã hội (trị quốc) .8
gia,…Trong đó Nho giáo do Không Tử sáng lập, từ khi xuất hiện đến cuối thời phong
kiến, Nho Giáo luôn là một trong những trường phái triết học đóng vai trò quan trọng và
có ảnh hưởng không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở nhiều nước Châu Á trong đó có Việt
Nam.
Tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng một cách sâu sắc tới đời sống tinh thần của người
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Triết học Nho giáo chủ yếu bàn về các vấn đề chính trị,
đạo đức luân lý. Người Việt đã rất thông minh nắm lấy cơ hội kế thừa và tiếp biến quá
trình truyền bá Nho giáo của người Trung Hoa vào Việt Nam theo tinh thần thực tiễn của
dân tộc. Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Nho giáo đã góp phần
to lớn trong việc kiến tạo bộ mặt văn hoá, xây dựng đời sống tinh thần Việt Nam. Đặc
Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
4
biệt, chúng ta lại không thể không nói tới con người Việt với phương châm sống có phép
tắc, khuôn mẫu đạo đức nhất định theo tinh thần “Nho giáo”, đồng thời còn là biểu tưởng
tự hào về truyền thống văn hoá dân tộc, là nguyên khí tinh thần độc lập, từ cường của
một dân tộc, đó chính là bản sắc riêng của con người Việt Nam. Chính vì vậy, em đã
chọn đề tài "Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của người Việt
Nam hiện nay" làm đề tài cho tiểu luận của mình.
Chương I: TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO VÀ MỘT SỐ
QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO
1. Vài nét về tiến trình phát triển của Nho giáo (Khổng tử và Nho giáo):
Hệ tư tưởng của Nho giáo trải qua hơn 2000 năm phát triển và biến đổi. Cơ sở của
Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán,
còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Nho giáo được Khổng Tử, tên
thật là Khâu, hay còn gọi là Trọng Ni, người nước Lỗ (551 - 479 trước Công nguyên,
thời Xuân Thu - Chiến quốc) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực
Lễ, Nghĩa, Trí, Tín như lễ trời (thiên lý) dùng học thuyết Khổng Mạnh làm nguồn gốc,
hấp thu thêm các học thuyết tư tưởng của Phật giáo, Đại giáo cung cấp sự nhu yếu cho
xã hội quân chủ chuyên chế. Chu Hi tập chú giải thích các kinh điển Nho gia như Luận
ngữ, Mạnh Tử trở thành những sách giáo khoa bắt buộc của sĩ tử trong xã hội phong kiến
và là tiêu chuẩn pháp định trong khoa cử của chính phủ. .
Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái Công học của Trần Lượng,
Diệp Thích, phái Tâm học của Vương Dương Minh cũng đều tôn sùng Khổng Tử, hấp
thu một phần tư tưởng cơ bản của ông. Những học thuyết này đều được lưu truyền rộng
rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá Trung Quốc.
Vì Nho học được các sĩ đại phu tôn sùng, được các vương triều đua nhau đề xướng
nên Nho học thuận lợi thẩm thấu trong mọi lĩnh vực trong mọi giai tầng xã hội, từ rất
sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán, trở thành tâm lý của cộng đồng dân tộc Trung
Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và tập tính.
Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
6
Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã
hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người
cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ
tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân", những người thấp kém về điạ vị xã
hội; sau "quân tử" còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất
tốt đẹp, phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn
thiện. Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là
những người cầm quyền). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự
đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải
"hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu
thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của
vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như
họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo. Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào
có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng
bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần: "Đạo người chưa biết thì làm
sao biết được đạo quỷ thần". Con người phải chú trọng vào sự nỗ lực học tập, làm việc
tận tâm, tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đó mới tại ý trời.
Trong triết học Nho giáo, nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng con người vốn có
bản tính thiện thì Tuân Tử đưa ra lý luận bản tính con người là ác: "Tính người là ác,
thiện là do người làm ra"; nhưng trong quan điểm sai lầm đó cũng có nhân tố hợp lý như:
hành vi đạo đức của con người là do thói quen mà thành, phẩm chất con người là sản
phẩm của hoàn cảnh xã hội và kết quả của sự học tập, giáo dục lâu ngày mà nên, từ đó
ông cho rằng có thể giáo dục, cải hoá con người từ ác thành thiện được. Nếu ra sức tu
dưỡng đạo đức thì bất cứ người nào cũng đều có thể đạt được địa vị "người quân tử".
Tuân Tử đề cao khả năng và vai trò của con người. Ông khẳng định trời không thể quyết
định được vận mệnh của con người. Ông cho rằng con người không thể chờ đợi tự nhiên
ban phát một cách bị động mà phải vận dụng tài trí, khả năng của mình, dựa vào quy luật
của tự nhiên mà sáng tạo ra những của cải, sản vật để phục vụ cho đời sống con người.
Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
8
Như vậy, Nho giáo thể hiện là một học thuyết có tính nhân văn rất cao, nhìn thấy
nét đẹp của con người và rất tin tưởng vào con người, tin tưởng vào khả năng giáo dục
con người.
Tuy nhiên quan niệm về Nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp rõ ràng, ông
cho rằng chỉ có người quân tử, tức kẻ cai trị mới có được đức nhân, còn người tiểu nhân,
tức nhân dân lao động, không thể có được đức nhân. Đạo nhân chỉ là đạo của người quân
tử, tức giai cấp thống trị. Đây chính là điểm hạn chế bởi lập trường giai cấp trong quan
điểm của Khổng Tử khi ông cho rằng Tiểu nhân và Quân tử là hai loại người đối lập nhau
không phải chủ yếu về địa vị xã hội mà chủ yếu là về phẩm chất đạo đức. 2.2 - Quan điểm về xã hội học:
Nho giáo đứng trên quan điểm duy tâm để giải quyết những vấn đề xã hội bởi vì
trong cuộc sống cho đúng.
Nội dung của giáo dục Nho giáo, giáo dục và tự giáo dục, hướng vào việc giáo dục
những chuẩn mực chính trị - đạo đức đã hình thành từ ngàn xưa, được nêu gương sáng
trong cổ sử mà thôi nên cách dạy của Nho giáo là chỉ dạy làm người nói chung, không
hềđề cập đến khoa học, kinh tế, nghề nghiệp, tức không hướng vào phương diện kỹ nghệ
và kinh tế. Thừa thời gian mới học đến lục nghề. Đây là một nền giáo dục thiên lệch.
Đồng thời, nguyên tắc giáo dục trong Nho giáo là nguyên tắc tự giác: nguyên tắc
tự nguyện làm sáng tỏ, thường dùng phương pháp nêu gương.
2.4 - Quan điểm về quản lý xã hội (trị quốc):
Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội đại đồng, Nho giáo nêu nguyên
tắc quản lý xã hội như sau:
- Nguyên tắc 1: Thực hiện nguyên tắc tập quyền cao độ (Chế độ quân chủ trung
ương tập quyền cao độ). Trong phạm vi quốc gia, toàn bộ quyền lực tập trung vào một
người là Hoàng đế.
- Nguyên tắc 2: Thực hiện "chính danh" trong quản lý xã hội.
"Chính danh" nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng
cương vị, địa vị của mình: vua phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi, cha phải ra đạo cha,
Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
10
con phải ra đạo con, chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ Nếu như mọi người
không chính danh thì xã hội ắt trở nên loạn lạc. Không thể có một xã hội trị bình mà
nguyên tắc chính danh bị vi phạm.
Trong Nho giáo, Khổng Tử đặc biệt đề cao giữa danh và thực. Thực do học, tài và
phận quy định.
- Nguyên tắc 3: Thực hiện Văn trị - Lễ trị - Nhân trị. Đây là nguyên tắc có tính
chất đường lối căn bản của Nho giáo.
Văn trị: Đề cao trị bằng hiểu biết. Tạo ra vẻ đẹp của một nền chính trị để mọi
người tự giác tuân theo.
Lễ trị: Dùng tổ chức, thiết chế xã hội để trị quốc. Đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị
+ Theo phái Mặc gia: Công bằng theo kiểu cào bằng.
+ Theo phái Nho giáo: Công bằng trên cơ sở danh của mình. Tức là công bằng
theo danh (địa vị xã hội) trong hưởng quyền lợi phân phối theo chức vụ, địa vị.
Trên đây là những quan điểm cơ bản của Nho giáo mà sau khi Nho giáo du
nhập vào Việt Nam thì những quan điểm này sẽ có những ảnh hưởng sâu sắc trong
đời sống tinh thần, chính trị, xã hội của người Việt Nam. Và thực tế thì cho đến nay
Nho giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo, chi phối dời sống tinh thần người Việt. Ảnh hưởng
của Nho giáo, do thực tế lịch sử rất lớn.
Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
12
quân chủ tập quyền đầu tiên ở nước ta và cũng từ khi nhà Lý ra đời, do nhu cầu quản lý
nhà nước mà nhà Lý đã bắt đầu quan tâm đến Nho giáo. Vào thời điểm này sự đóng góp
của các nhà sư vào sự ổn định đất nước là chủ yếu, nhưng xu hướng Nho giáo dần dần
thay thế Phật giáo càng thấy rõ. Việc Lý Thánh Tông vào năm 1070 cho lập Văn Miếu
thờ Chu Công, Khổng Tử như là mốc ghi nhận sự tiếp nhận chính thức Nho giáo trên
bình diện cả nước. Sang thời Lê Thánh Tông (1460-1497) Nho giáo được phát triển và
cũng từ đó về sau, Nho giáo thâm nhập vào xã hội Việt Nam ngày càng sâu đậm trên
nhiều lĩnh vực tư tưởng, thơ văn, phong tục, tập quán… qua hệ thống giáo dục, pháp luật,
chính quyền. Cho đến đầu thế kỷ 20 này, năm 1919 khoa cử Nho học bị bãi bỏ, nhưng
giáo dục Nho học ở làng quê xứ Bắc và Trung còn kéo dài đến đầu thập kỷ 40. Như vậy,
trong thời Lê Nguyễn liên tục gần 600 năm Nho học - Nho giáo không thể không thắm
vào các tầng lớp xã hội. Nó được thường xuyên tái lập và trở thành một trong những yếu
tố văn hóa truyền thống Việt Nam khá sâu đậm. Đầu thế kỷ XX, chính quyền thực dân
Pháp và phong kiến ở Việt Nam đã hủy bỏ chế độ học tập và thi cử theo Nho học. Tuy
vậy, Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng lâu dài đến xã hội và con người Việt Nam về sau .
2. Ảnh hưởng của nho giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam :
Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hóa Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, suốt hai
triều đại Lê Nguyễn. Nho giáo Việt Nam về cơ bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Quốc,
nhưng không còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất
định. Quá trình du nhập và tiến tới xác lập vị trí Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam
cũng là quá trình tiếp biến văn hóa hết sức sáng tạo của người Việt Nam trong suốt chiều
Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
14
dài lịch sử dựng nước và giữ nước, góp phần tạo nên tính đa dạng, nhưng thống nhất và
độc đáo của văn hóa Việt Nam.
Trong thời kỳ phát triển xã hội cổ đại Việt Nam, Nho giáo với hệ thống tư tưởng
chính trị của mình đã tích cực góp phần xây dựng các nhà nước phong kiến trung ương,
tập quyền vững mạnh, góp phần xây dựng một hệ thống quản lý thống trị xã hội chặt chẽ,
nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế quốc gia.
quên đi sự trao đổi mua bán, kềm hãm tính năng động, sáng tạo dẫn đến quan liêu, bảo
thủ trong cả kinh tế lẫn chính trị. Trong những giai đoạn đầu của chế độ phong kiến, nó
tạo sự ổn định, phát triển nhưng sau đó chính nó lại tạo ra sức ỳ quá lớn khiến đất nước
không thể phát triển.
- Nho giáo quá bảo thủ không tiếp thu những cái mới ưu việt hơn dẫn đến bị cái mới
ưu việt hơn tiêu diệt.
- Nho giáo đưa con người quá hướng nội, chuyên chú suy xét trong tâm mà không
hướng dẫn con người hướng ra bên ngoài, thực hành những điều tìm được, chinh phục
thiên nhiên, vạn vật xung quanh. Điều này làm cho nền văn minh, khoa học tư nhiên, kỷ
thuật sau một thời gian phát triển đã bị chựng lại so với nền văn minh phương Tây vốn
xuất hiện sau.
Đến thời kỳ cách mạng dân tộc: Nho giáo được Việt Nam hóa, trí thức Nho giáo đã
có những đóng góp đáng kể vào việc củng cố những truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
nâng nó lên thành những tư tưởng ổn định thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tạo nên
một sức mạnh to lớn để suốt một ngàn năm giữ vững độc lập và chiến thắng mọi kẻ xâm
lược. Bước sang thế kỷ thứ 19, Việt Nam và các nước phương Đông phải đối đầu với sự
xâm lược của chủ nghĩa đế quốc có trình độ kỷ thuật, tiềm năng kinh tế, tổ chức quân đội
và chất lượng vũ khí. Nho giáo lúc bấy giờ tỏ ra bất lực cả về tư tưởng và hành động. Bác
Hồ khi kế thừa các tư tưởng triết học Nho giáo đã tinh lọc, loại bỏ những tư tưởng không
phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của Việt nam lúc bấy giờ. Trên con đường cách mạng
của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sáng suốt không thể không gạt đi cái cốt lõi lạc
hậu của Nho giáo và giữ gìn, phát huy những nhân tố hợp lý của nó nhằm phục vụ cho sự
nghiệp cách mạng.
Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
16
- Nhà Nho tôn thờ nhất chính là cái mà cách mạng lên án và đánh đổ. Hồ Chí Minh
không thể chấp nhận cái chữ Trung của Nho giáo, không thể chấp nhận lòng trung thành
tuyệt đối của nhân dân bị áp bức đối với chính kẻ áp bức mình. Chữ Trung ở Nho giáo là
trung thành tuyệt đối với nhà vua và chế độ phong kiến, còn ở Hồ Chí Minh, Trung là
trung thành với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, lên án chế độ phong kiến và lật đổ
nhiều xáo trộn trong quan hệ xã hội, sinh hoạt gia đình và phẩm chất cá nhân. Thực tế
cho thấy mâu thuẫn không thể điều hòa được giữa phát triển vật chất và suy thoái tinh
thần, giữa kinh tế và đạo đức văn hóa xã hội. Để chống lại, khôi phục lại truyền thống
văn hóa tốt đẹp xưa nay của nhân dân ta, Đảng ta chủ trương giáo dục con người, chiến
lược con ngưới, phát huy sáng tạo, độc lập tư chủ, chủ trương giáo dục “Tiên học lễ, hậu
học văn” là những điều cốt yếu của nền giáo dục. Về kinh tế chủ trương làm giàu chính
đáng, cạnh tranh lành mạnh, hợp đạo để động viên khuyến khích nhân dân ta trong công
cuộc xây dựng đất nước, dần hình thành đạo đức trong kinh doanh.
Cho đến nay, Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống gia đình, các
phẩm chất, đạo đức của người phụ nữ, vẫn còn những quan điểm coi thường phụ nữ, lấy
tiêu chuẩn tứ đức làm đầu “ công, dung, ngôn, hạnh”. Người phụ nữ trở nên bị phong tỏa,
dồn nén trong vòng tứ đức không phát huy được hết năng lực của mình. Truyền thống
quan hệ cha con và anh em đến nay trong gia đình Việt Nam vẫn giữ được tư tưởng của
nho giáo, là nét đẹp trong quan hệ văn hóa xã hội Việt nam. Nho giáo đòi hỏi sự gắn bó
chặt chẽ giữa các thành viên trong một gia đình, trong một dòng họ, nó kêu gọi sự yêu
thương, đùm bọc lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn truyền thống của gia đình và dòng
họ. Những nghi thức ứng xử hàng ngày, những lời răn dạy của ông cha, những gia huấn
được lưu truyền đến các đời con cháu. Nho giáo vẫn thể hiện rõ như việc lập bàn thờ tổ
tiên ở mỗi gia đình. Việc thờ cúng ông ba cha mẹ trong nhà gắn liền với việc thờ cúng tổ
tiên trong họ, việc xây dựng nhà thờ, sửa sang mồ mả, sưu tầm ghi chép gia phả, đều góp
phần làm khăng khít hơn mối quan hệ trong gia đình, gia tộc. Đã có nhiều biểu hiện tốt
đẹp của tình người nảy sinh từ đó. Sự giáo dục của Nho giáo lấy lễ nghĩa làm biện pháp
đã đạt được tới mức độ sâu sắc ở chổ nó thành tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con
người. Nho giáo đã huy động được dư luận toàn thể xã hội, biết quí trọng người có lể và
khinh gét người vô lể và điều này đã đi vào sâu lương tâm của con người.
Tiểu luận môn Triết Học GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Thu
18
Bên cạnh đó đời sống tinh thần văn hóa dân gian không thể tách rời các thời kỳ cho
đến nay. Những nhà Nho nước ta, kể cả những bậc đại sỹ phu không bao giờ coi thường
văn hóa dân gian, vì họ thấy được trong văn hóa dân gian có những giá trị mà bất cứ ai