Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Thực hành nuôi dưỡng trẻ em 6 - 36 tháng tuổi tại tỉnh Nghệ An năm 2008." - Pdf 19

trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 3A-2009 35

THựC HàNH NUÔI DƯỡNG TRẻ EM 6 - 36 THáNG TUổI
TạI TỉNH NGHệ AN NĂM 2008

Nguyễn Ngọc Hiền
(a)Tóm tắt. Nghiên cứu tình trạng dinh dỡng và thực hành nuôi dỡng trẻ em
dới 3 tuổi tại tỉnh Nghệ An năm 2008 chúng tôi nhận thấy tình trạng dinh dỡng
trẻ em với trung bình Z-score cân nặng/tuổi là -1,51 (95%Cl -1.64, -1.38), chiều
cao/tuổi là - 1,51 (95% CI -1.65, -1.37) và cân nặng/chiều cao là -0,63 (95% CI -0.78, -
0.48). Tỷ lệ suy dinh dỡng ở trẻ em còn ở mức cao với 27,7% trẻ bị suy dinh dỡng
thể nhẹ cân, 36,3% suy dinh dỡng thể thấp còi và 10,2% suy dinh dỡng thể gầy
còm. Thực hành nuôi dỡng trẻ đánh giá qua điểm trung bình chỉ số nuôi dỡng trẻ
6 - 36 tháng chúng tôi thấy rằng điểm trung bình chỉ số nuôi dỡng trẻ 6 - 36 tháng ở
tỉnh Nghệ An là 6,91 1,40, một điểm số khá tốt. Trung bình điểm chỉ số nuôi dỡng
của bé gái là 7,11 1,47 và bé trai là 6,69 1,28. Qua phân tích chúng tôi nhận thấy
có mối quan hệ giữa thực hành nuôi dỡng trẻ thông qua chỉ số nuôi dỡng trẻ có
liên quan với tình trạng dinh dỡng của trẻ em dới 3 tuổi.

1. Đặt vấn đề
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, công tác
chăm sóc sức khoẻ trẻ em đã đợc Đảng và Nhà nớc đặc biệt quan tâm. Nhiều

Nguyễn Ngọc Hiền THựC HàNH NUÔI DƯỡNG TRẻ EM 6 - 36 THáNG, Tr. 35-43 36

ở Việt Nam thời gian gần đây tuy có nhiều nghiên cứu quan tâm đến các vấn
đề dinh dỡng của trẻ em. Nhng các nghiên cứu về thực hành nuôi dỡng trẻ em
cũng nh mối quan hệ giữa thực hành nuôi dỡng trẻ em và tình trạng dinh dỡng
trẻ em cha nhiều và còn gặp nhiều lúng túng, hạn chế trong đánh giá. Do vậy,
nghiên cứu của chúng tôi đợc thực hiện nhằm mục đích đánh giá tình trạng dinh
dỡng, thực hành nuôi dỡng trẻ em và tìm hiểu mối liên quan giữa thực hành nuôi
dỡng trẻ em và tình trạng dinh dỡng trẻ em dới 3 tuổi trên địa bàn tỉnh Nghệ
An, sử dụng chỉ số nuôi dỡng trẻ của Ruel và Menon.
2. Đối tợng và Phơng pháp nghiên cứu
2.1. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu là 383 trẻ từ 6 tháng đến 36 tháng tuổi sống trên địa
bàn tỉnh Nghệ An trong khoảng thời gian từ 11/2007 đến 6/2008. Cỡ mẫu đợc xác
định dựa vào công thức tính mẫu cho một nghiên cứu cộng đồng.
p x (1-p)
N = Z
2
1-/2 x
C
2
Trong đó: - N là cỡ mẫu nghiên cứu
- Z
2
1-/2: là độ tin cậy ở mức 95% là 1,96
- p: là tỷ lệ trẻ em dới 3 tuổi bị suy dinh dỡng. Trong nghiên cứu
này chúng tôi chọn p = 30% [1]

Tổng của: (gạo +
rau/quả + sữa +
trứng/cá/thịt gia
cầm + thịt + khác
0 = 0
1-3 = 1
4+ = 2
Tổng của: (gạo +
rau/quả + sữa +
trứng/cá/thịt gia
cầm + thịt + khác
0 = 0
1-3 = 1
4+ = 2
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 3A-2009 37

Sự thờng
xuyên sử
dụng các
nhóm thức ăn
trong tuần
qua
Cho mỗi nhóm thức
ăn: trứng/cá/thịt

0 bữa/ngày = 0
1 bữa/ngày = 1
2 bữa/ngày = 2
0 bữa/ngày = 0
1 - 2 bữa/ngày = 1
3+ bữa/ngày = 2
0 -1 bữa/ngày = 0
2 - 3 bữa/ngày = 1
4+ bữa/ngày = 2
Tổng 12 điểm 12 điểm 12 điểm

- Tình trạng dinh dỡng của trẻ: Trẻ đợc cân và đo chiều dài nằm (trẻ <24
tháng tuổi)/chiều cao đứng (trẻ 24tháng). Tình trạng dinh dỡng của trẻ đợc đánh
giá qua Z-scores cân nặng/tuổi; chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao, tham chiếu qua
quần thể NCHS/WHO [6,7].
2.2.3. Xử lý số liệu
Số liệu đợc xử lý qua các phần mềm thống kê: Phần mềm Epi - info 3.4.3 để phân
tích tình trạng dinh dỡng của trẻ; phần mềm SPSS phiên bản 13.0 sử dụng T-tests
để so sánh trung bình của 2 nhóm với
2
-test để kiểm định sự khác biệt, khác biệt có
ý nghĩa thống kê khi P < 0,05.
3. Kết quả và bàn luận
3.1. Đặc điểm nhân khẩu học đối tợng nghiên cứu
Từ 383 trẻ em dới 3 tuổi đợc lựa chọn tham gia vào nghiên cứu của chúng
tôi, có 11 trẻ bị loại trừ khỏi nghiên cứu do không hoàn thành điều tra qua bộ câu
hỏi hoặc/và không thu thập đợc đầy đủ các số đo đánh giá tình trạng dinh dỡng.
Trong 372 trẻ đợc nghiên cứu có 179 (48,1%) bé trai và 193 (51,9%) bé gái. 81,7% số
trẻ trong nghiên cứu này sống ở nông thôn và chỉ 18,3% trẻ sống ở thành thị. Tuổi
trung bình của đối tợng tham gia nghiên cứu là 20,96 8,94 tháng. Số lợng thành

13-24 -1.48
(-1.77, -1.19)
-1.99
(-2.28, -1.69)

-1.73
(-1.94, -1.52)
25-36 -1.57
(-1.87, -1.28)
-1.93
(-2.20, -1.69)

-1.77
(-1.97, -1.56)
Tất cả -1.23
(-1.41, -1.05)
-1.82
(-2.00, -1.63)

-1.51
(-1.64, -1.38)

Trung bình Z-scores chiều cao/tuổi (95% Cl) Nhóm tuổi
(tháng)
Gái Trai Tất cả
6-12 -1.14
(-1.50, -0.79)
-1.80
(-2.27, -1.33)


0.10
(-0.34, 0.56)
0.36
(0.08, 0.63)
13-24 -0.76
(-1.09, -0.43)
-1.05
(-1.38, -0.73)

-0.91
(-1.14, -0.68)
25-36 -0.73
(-1.06, -0.41)
-1.27
(-1.57, -0.97)

-1.03
(-1.25, -0.81)
Tất cả -0.35
(-0.55, -0.14)
-0.93
(-1.14, -0.72)

-0.63
(-0.78, -0.48)

Bảng 1 trình bày tình trạng dinh dỡng (trung bình Z-score) của trẻ em dới
3 tuổi. Trung bình Z-score cân nặng/tuổi (WAZ) là -1,51 (95%Cl -1.64, -1.38), chiều
cao/tuổi (HAZ) là - 1,51 (95% CI -1.65, -1.37) và cân nặng/chiều cao (WHZ) là -0,63
(95% CI -0.78, -0.48). Sự khác biệt trung bình WAZ và WHZ giữa bé trai và bé gái là

nghiên cứu của Viện dinh dỡng Quốc Gia khảo sát tại các tỉnh khu vực Bắc Trung
Bộ. Tuy nhiên kết quả cũng cho thấy tỷ lệ trẻ em suy dinh dỡng cao hơn trong
nghiên cứu của chúng tôi so với báo cáo tình hình suy dinh dỡng trẻ em Việt Nam
từ nghiên cứu của Viên dinh dỡng Quốc Gia. Có thể lý giải điều này là bởi tình
trạng dinh dỡng trẻ em chịu sự ảnh hởng của kinh tế xã hội kém phát triển ở 6
tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ so với cả nớc. Nhìn chung tỷ lệ suy dinh dỡng trẻ em
với 27,7% thể nhẹ cân, 36,3% thể thấp còi và 10,2% thể gầy còm vẫn đang ở mức rất
cao trong thang phân mức suy dinh dỡng cộng đồng của Tổ chức Y tế Thế giới [9].
Năm 2004, một nghiên cứu về tình trạng dinh dỡng trẻ em đợc thực hiện tại
Quảng Trị, một tỉnh cũng thuộc khu vực Bắc Trung Bộ cho thấy, tỷ lệ trẻ suy dinh
dỡng thể nhẹ cân là 29,2%, suy dinh dỡng thể thấp còi là 44,7% và suy dinh dỡng
thể gầy còm là 5,4% [10]. Nghiên cứu ở Quảng Trị cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dỡng
thể nhẹ cân và thấp còi gần tơng tự nh kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Sự khác
biệt đợc nhận thấy trong nghiên cứu của chúng tôi so với nghiên cứu ở Quảng Trị là
tỷ lệ suy dinh dỡng thể gầy còm. Tỷ lệ suy dinh dỡng thể gầy còm trong nghiên
cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu ở Quảng Trị (11,9 % so với 5,4%). Điều
này cũng có thể giải thích đợc là vì nghiên cứu của chúng tôi đợc thực hiện ở cả ba
khu vực đồng bằng, trung du và miền núi trong khi nghiên cứu đợc thực hiện tại
Quảng Trị chỉ khảo sát tại khu vực nông thôn đồng bằng.
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về tình trạng dinh dỡng trẻ em đợc thực
hiện trong thời gian qua cho kết quả khác với nghiên cứu của chúng tôi [1,11], kết
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ suy dinh dỡng trẻ em ở Nghệ An cao
hơn so với nghiên cứu của Hoàng Đức Hạnh thực hiện tại tỉnh Hà Tây. Có thể giải
thích điều này là bởi các nghiên cứu đó đợc thực hiện ở những tỉnh, thành phố, khu
vực khác và có điều kiện kinh tế xã hội tốt hơn so với địa bàn nghiên cứu của chúng
tôi. Mặt khác nghiên cứu của chúng tôi chỉ quan sát ở trẻ dới 3 tuổi, trong khi hầu
hết các nghiên cứu trớc đây công bố kết quả nghiên cứu ở trẻ em dới 5 tuổi. Vì

Có 6.38 1.01
Không 6.97 1.42

<0.05 Hình 1. Tình trạng DD (trung bình Z
-
score) và điểm chỉ số nuôi dỡng trẻ

-
3

-
2.5

-
2

-
1.5

-
1

-
0.5

0

TB Z
-
score cân nặng/tuổi

TB Z
-
score chiều cao/tuổi

TB Z
-
score cân nặng/chiều caoThông qua chỉ số nuôi dỡng trẻ em, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy điểm trung bình chỉ số nuôi dỡng trẻ 6 - 36 tháng ở tỉnh Nghệ An là 6,91
1,40. Trung bình điểm chỉ số nuôi dỡng của bé gái (7,11 1,47) cao hơn có ý nghĩa
so với bé trai (6,69 1,28) với P <0,01. Trung bình điểm chỉ số nuôi dỡng cũng khác
biệt có ý nghĩa với P < 0,001 giữa các nhóm trẻ theo độ tuổi, trung bình điểm chỉ số
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 3A-2009 41

nuôi dỡng thì cao hơn ở nhóm trẻ từ 6 - 9 tháng (8,141,47) và nhóm trẻ từ 9 -12
tháng (8,731,24) so với nhóm trẻ từ 12 - 36 tháng (6,420,98).

cũng cho thấy đợc vai trò của chỉ số nuôi dỡng trong việc phản ánh tình trạng
dinh dỡng của trẻ em. So sánh với những nghiên cứu khác [5,14], nghiên cứu của
chúng tôi cũng cho kết quả tơng tự, nh nghiên cứu của Ruel và Menon, các tác giả
cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa chỉ số nuôi dỡng trẻ và HAZ của trẻ dới 36 tháng
tuổi.
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy suy dinh dỡng trẻ em dới 3 tuổi
ở Nghệ An hiện nay vẫn đang là một trong những vấn đề sức khoẻ trẻ em đáng đợc
quan tâm với 27,7% trẻ bị suy dinh dỡng thể nhẹ cân, 36,3% suy dinh dỡng thể
thấp còi và 10,2% suy dinh dỡng thể gầy còm. Tình trạng dinh dỡng trẻ em dới 3
tuổi tại Nghệ An với trung bình Z-score cân nặng/tuổi là -1,51 (95%Cl -1.64, -1.38),
Nguyễn Ngọc Hiền THựC HàNH NUÔI DƯỡNG TRẻ EM 6 - 36 THáNG, Tr. 35-43 42

chiều cao/tuổi là - 1,51 (95% CI -1.65, -1.37) và cân nặng/chiều cao là -0,63 (95% CI -
0.78, -0.48).
Bằng việc lợng giá thực hành nuôi dỡng trẻ em thông qua chỉ số nuôi
dỡng trẻ, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thực hành nuôi dỡng trẻ em dới 3
tuổi của các bà mẹ ở Nghệ An là khá tốt với điểm trung bình chỉ số nuôi dỡng trẻ 6
- 36 tháng ở tỉnh Nghệ An là 6,91 1,40. Trung bình điểm chỉ số nuôi dỡng giữa
các nhóm trẻ theo độ tuổi là 8,141,47 ở nhóm trẻ từ 6 - 9 tháng, nhóm trẻ từ 9 -12
tháng là 8,731,24 và nhóm trẻ từ 12 - 36 tháng là 6,420,98. Kết quả nghiên cứu
cũng cho thấy thực hành nuôi dỡng trẻ có liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh
dỡng của trẻ. trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 3A-2009 43

[11] Hoàng Đức Hạnh, Tình trạng dinh dỡng trẻ em dới 5 tuổi tại tỉnh Hà Tây
năm 2002, Tạp chí Y học dự phòng, Tập 15, Số 1, 2005, 84-87.
[12] N. Toyama, S.W., Y. Nakamura, and Andryansyah Arifin, Mothers Working
Status and Nutritional Status of Children Under the Age of 5 in Urban Low-
income Community, Surabaya, Indonesia, Journal of Tropical Pediatrics, 2001.
47, p 179-181.
[13] Kotsaythoune Phimmasone, I.D., Vincent Fauveau and Phonethep Pholsena,
Nutritional Status of Children in the Lao PDR. Journal of Tropical Pediatrics,
1996, 42, p 5-11.
[14] Prosper S. Sawadogo, Y.M.P., Mathilde Savy, Yves Kameli, Pierre Traissac,
Alfred S. Traore, Francis Delpeuch, An Infant and Child Feeding Index Is
Associated with the Nutritional Status of 6- to 23-Month-Old Children in Rural
Burkina Faso. J. Nutr, 2006, 136, p 656-663. Summary

Feeding practices in children from 6 to 36 mOnths
in NGHE AN IN 2008
The study of nutritional status and feeding practices in children under three
years of age in Nghean, 2008 indicated that the mean Z-score for weight-for-age was
-1.51 (95% CI -1.64, -1.38), for height-for-age was -1.51 (95% CI -1.65, -1.37) and for


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status