Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Nhãn quan văn hóa của Phạm Quỳnh, qua du ký" doc - Pdf 19

Đặng Hoàng Oanh Nhn quan văn hóa của Phạm Quỳnh , Tr. 48-54 48
Nhn quan văn hóa của Phạm Quỳnh, qua du ký

Đặng Hoàng Oanh
(a)Tóm tắt. Bảy tập du kí của Phạm Quỳnh từng công bố trên Nam phong tạp chí
từ 1917 đến 1934 là một bộ phận quan trọng trong trớc tác của ông bởi giá trị nhiều
mặt của nó. Bài viết này chỉ đi vào tìm hiểu vấn đề nhãn quan văn hóa - một phơng
diện làm nên nét đặc sắc của du kí Phạm Quỳnh trong tơng quan với những cây bút
du kí cùng thời.

hời gian gần đây, một loạt tác
phẩm của Phạm Quỳnh, từ
Thợng Chi văn tập, Luận giải văn học
và triết học, Mời ngày ở Huế, Pháp du
hành trình nhật kí cho đến Tiểu luận
viết bằng tiếng Pháp trong thời gian
1922 - 1932 đã tái xuất, đến tay độc
giả. Tuy cha phải đầy đủ, song chừng
đó cũng cho thấy sự phong phú trong sự
nghiệp trớc tác của một học giả một
thời lừng lẫy và cũng một thời từng chịu
nhiều tai tiếng. Đánh giá một cách công

của đồng quê, với tiếng gọi của xứ sở
[2, tr. 153]. Nhng đó mới là một mặt,
ấy là mặt bảo thủ trong t tởng Phạm
Quỳnh. Nhìn mặt khác, con ngời ấy
hiện ra đầy đủ t cách một nhà tân học,
có cái vốn Pháp học vững vàng, uyên
bác, óc phán đoán sáng suốt của một
ngời từng thú nhận bị chinh phục bởi
bao nhiêu vẻ đẹp mĩ miều, tân tiến của
nền văn minh Tây phơng [2, tr. 154].
Hai mặt hoàn toàn trái ngợc nhau,
cùng tồn tại trong một con ngời, đã
góp phần làm nên cái diện mạo tinh
thần, t tởng, lối hành xử cũng nh
nhãn quan văn hóa của Phạm Quỳnh.
Có thể xem Phạm Quỳnh nh một
ngời dung hòa những đối cực: cũ và
mới, truyền thống và hiện đại, bảo thủ
và cách tân. Trân trọng, giữ gìn những
tinh hoa ngàn đời của dân tộc (mà ông
gọi là quốc túy, quốc văn), nhng cũng

Nhận bài ngày 08/4/2008. Sửa chữa xong 14/6/2008.T
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 2B-2008

thành mốt thời ấy, là loại du kí [2, tr.
190]. Những tác phẩm du kí của Phạm
Quỳnh tuy cha bao quát hết đợc bức
tranh hiện thực của cuộc sống đơng
thời, nhng đã giúp bạn đọc một cách
nhìn, từ đó có những cảm nhận riêng về
mỗi một miền đất mà tác giả đã đi qua.
Dễ nhận thấy trong những trang ghi
chép ấy, mọi đối tợng đều đợc ông
quan sát, miêu tả dới góc nhìn văn
hóa. Cái ý vị riêng của du kí Phạm
Quỳnh, phải chăng trớc hết chính là
chỗ đó?
Qua bảy bài du kí mà Phạm Quỳnh
từng công bố trên Nam phong tạp chí,
có thể nhận thấy tác giả đã lựa chọn địa
chỉ du lịch một cách có chủ ý. Đó là
chốn kinh kì - miền đất thiêng liêng
trong tâm thức ngời Việt (Mời ngày ở
Huế); là miền châu thổ mới bồi, đất đai
phì nhiêu, sản vật phong phú, con ngời
phóng túng, chân tình (Một tháng ở
Nam Kì); là miền đất Phật linh thiêng
(Trẩy chùa Hơng); hay vùng biên giới
hẻo lánh, xa xôi (Chơi Lạng Sơn, Cao
Bằng) Xa hơn nữa là nớc Lào, dân
c tha thớt, kinh tế lạc hậu; là Pa-ri,
kinh đô ánh sáng của nớc Pháp, trung
tâm văn minh của châu Âu. Bằng sự
quan sát tinh nhạy, nhận xét sắc sảo,

làm sống dậy mạnh mẽ trong thời kì bất
Đặng Hoàng Oanh Nhn quan văn hóa của Phạm Quỳnh , Tr. 48-54 50
an và hỗn loạn này, hỗn loạn trong tâm
trí con ngời và hỗn loạn trong các thói
tục, còn trầm trọng hơn nhiều so với các
xáo động thoáng qua của chính trị hay
các cuộc đảo lộn hời hợt của xã hội, thì
đấy chính là học thuyết của bậc hiền
triết cổ đại này, ngời duy trì trật tự vĩ
đại nhất xa nay [4, tr. 172]. Cho nên,
ta nhận ra niềm tha thiết kín đáo qua
mỗi chuyến đi để làm nên mỗi trang du
kí chính là khát vọng tìm về với các giá
trị truyền thống và thấu hiểu những
chuyển động của văn hóa nớc nhà khi
đứng giữa giao điểm của những nền
văn minh. Ông đã đi với tâm thế của
một nhà văn hóa. Đi, do vậy, không chỉ
để thởng lãm, mà là để thức nhận,
thấm thía, từ đó rút ra những bài học
cần thiết. Cho nên, trong những tác
phẩm du kí của Phạm Quỳnh, kể và tả
thì ít mà bình luận, suy ngẫm thì
nhiều. Bình luận về một nghi thức chốn

thần đó, trong những trang du kí của
Phạm Quỳnh, thấp thoáng bóng dáng
một nhà hiếu cổ, luận bàn, bênh vực về
những giá trị truyền thống một cách
say sa. Viết về lễ tế Nam Giao, Phạm
Quỳnh đã rất công phu trong việc diễn
tả cái nghi thức thiêng liêng cũng nh
vẻ đẹp thoát tục của nó. Ông nhìn thấy
ở lễ tế Nam Giao cái ý nghĩa thâm
trầm, cái nét văn hóa lớn của dân tộc:
Phàm cái hình thức gì nó biểu đợc cái
hồn xa của Tổ quốc, dù phiền phức đến
đâu cũng không nên bỏ. Bỏ một cái, bỏ
mời cái là xóa mất cái hình ảnh nớc
nhà trong con mắt bọn hậu sinh vậy
(Mời ngày ở Huế). Trên quan điểm của
một nhà nho, Phạm Quỳnh luận giải về
cái hữu ích trong việc bảo tồn một nghi
lễ thiêng liêng của dân tộc. Ông cho
rằng: Tế Giao là vua thay mặt con dân
mà cầu trời giáng phúc cho dân; Vua Tế
Giao là biểu cái lòng tôn trọng với giời
và biểu cái tình thân ái với dân; Giao tự
cũng có quan hệ với chính trị, vì nhân
đấy mà cái dây thân mật bó buộc Vua
với dân, buộc ngời dân với nhau lại
càng bền càng mạnh thêm ra (Mời
ngày ở Huế). Nh vậy, Phạm Quỳnh đã
nhận thấy nghi thức tế lễ kia có mối
liên hệ với sự thịnh suy của non sông

trang du kí của Phạm Quỳnh còn cho
thấy một nhu cầu rất bức bách, đó là
muốn đợc chứng kiến tận mắt thực
trạng đời sống văn hóa của dân tộc,
muốn tìm những phơng thế nhằm bảo
tồn những gì tinh túy, tẩy rửa những
cặn bã tồn tại trong nền văn hóa ấy. Với
một t duy ít nhiều có tính biện chứng,
ông luôn luôn phát hiện ra hai mặt
trong mỗi vấn đề. Đâu đó ở những trang
viết của ông, bên cạnh những hoài nghi,
thất vọng, thậm chí thái độ tự tri, đôi
khi tự sỉ một cách thành thật và đau
đớn [4, tr. 154].

Về trình độ dân trí
nớc nhà, còn có niềm cảm thông trớc
những cái thấp hèn, bạc nhợc cũng
nh cái hồn nhiên mộc mạc, chân thật
đến đáng thơng của ngời dân An
Nam. Trẩy Chùa Hơng để tìm hiểu cái
tín ngỡng của dân gian, Phạm Quỳnh
không có cái tâm thế của một ông Tây
An Nam, xem cảnh tợng lễ bái với con
mắt khách quan diễu cợt của ngời
ngoại quốc tân tiến trớc một dân tộc
bán khai

nh Nguyễn Văn Vĩnh,
nhng không vì thế mà ông làm ngơ

Quỳnh đã truy nguyên cái gọi là tâm lý
lễ bái, khảo cứu cái nguồn gốc tôn giáo
trong hoạt động tinh thần của con
ngời. Ông cho rằng, những hủ tục lạc
hậu hay những tục mê tín dị đoan, buôn
thần bán thánh tồn tại là bởi Phật giáo
ở đây không có thành giáo hội, không
có thể thống, không có cơ quan gì. Là
ngời xem trọng nho học, song Phạm
Quỳnh vẫn khách quan nhận ra rằng
chính cái chủ nghĩa độc tôn nho giáo
trong suốt thời kì lịch sử đã bó buộc con
ngời trong những quy phạm, chuyên
chế, hạn chế quyền tự do tín ngỡng:
đối với Phật giáo, Lão giáo thờng
Đặng Hoàng Oanh Nhn quan văn hóa của Phạm Quỳnh , Tr. 48-54 52
nhất khái xem là tà thuyết, coi là
những chuyện hoang đờng quái đản
(Trẩy chùa Hơng). Cho nên, lòng tôn
giáo không thịnh, các giáo hội không có,
mới sinh ra vô số những sự thờ cúng lễ
bái vô nghĩa lý, lắm khi hại cho phong
tục luân thờng (Trẩy Chùa Hơng).
Ta nhận thấy trong chiều sâu suy tởng

gian, với sự bình tĩnh trong nhìn nhận
những vấn đề lịch sử, có thể thấy một
số quan điểm của Phạm Quỳnh là khả
thủ. Quả thực, nếu không có ngọn gió
phơng Tây tràn tới, không biết quá
trình hiện đại hóa nền văn hóa Việt
Nam sẽ diễn ra thế nào. Về tác dụng
tích cực của công cuộc Âu hóa, Vơng
Trí Nhàn cũng khẳng định: tuy Việt
Nam đã làm một cuộc thay máu hoàn
toàn dới ảnh hởng của nền văn hóa
Pháp, nhng nền văn hóa Việt Nam
nửa đầu thế kỉ vẫn đẻ ra đợc những
đứa con bụ bẫm, nh nền tiểu thuyết
hiện đại, phong trào Thơ mới [3, tr.
56]. Bởi, có một quy luật tất yếu không
một quốc gia nào tránh khỏi, đó là lịch
sử mọi nền văn hóa không chỉ là sự
phát triển tự thân của nó mà còn là lịch
sử của mối quan hệ giữa nó với các nền
văn hóa khác [3, tr. 56]. Cho nên,
những chuyến viễn du, đặc biệt là
những chuyến du lịch ra ngoài biên giới
của Tổ quốc đã khiến Phạm Quỳnh luôn
đối sánh giữa văn hóa Việt Nam và văn
hóa phơng Tây. Từ giáo dục, học
thuật, ngôn ngữ, mĩ thuật, kịch nghệ,
cho đến tôn giáo, tất cả đều hiện lên
những tơng phản gay gắt. Chẳng hạn,
về sự học, ông không khỏi chua xót vì sự

giờ đơng phải cần có những nhà nho
nh thế (Pháp du hành trình nhật kí).
Với cái nhìn đối sánh triệt để, Phạm
Quỳnh không khỏi có lúc rơi vào cực
đoan. Chẳng hạn, bàn về nghệ thuật
kịch, do đề cao kịch nói của phơng
Tây, ông đã hạ thấp kịch hát của nớc
nhà - một loại hình sân khấu vốn có
những đặc sắc riêng: Diễn kịch ta
không phải là diễn theo nghĩa Tây.
Diễn kịch ta chỉ là múa và hát mà thôi,
ngời xem cũng chỉ chủ coi cái dáng
múa, nghe cái điệu hát mà thôi, không
ai chú ý đến cái kịch là cái phần hành
động trong bài tuồng. Đến nh tuồng
Tây thì thuần là kịch cả còn nh
nghề hát, nghề múa lại là hai nghề
riêng, không lẫn với nghề diễn kịch
Ôi cái t tởng hàm hồ của ngời nớc
Nam nó phát hiện cả ra lời ăn tiếng nói;
bao giờ phá tan đợc cái màn sơng mờ
ám nó bao bọc cái trí não ngời mình
(Một tháng ở Nam Kì). May sao, nhìn
trên đại thể, sự so sánh đó không dẫn
ông tới chỗ đề cao thái quá văn hóa
ngoại bang và phủ nhận những giá trị
truyền thống của nớc nhà. Phạm
Quỳnh có cái mặc cảm tự tôn rất đặc
trng của một nhà nho. Nói đúng ra,
trong con ngời ông có sự đan xen

Từ những điều mắt thấy, tai nghe,
từ sự đối sánh thờng xuyên nh một
thao tác quen thuộc của nhận thức,
Phạm Quỳnh hiểu rằng, nền văn hóa
dân tộc không thể không thay đổi.
Nhng thay đổi bằng cách nào?
Trớc hết, theo Phạm Quỳnh, hiện
đại hóa phải gắn liền với quá trình bảo
tồn những giá trị truyền thống quý báu
của dân tộc. Hiện đại hóa không phải là
du nhập ồ ạt những gì nền văn hóa
ngoại bang có sẵn, mà biết tiếp thu
chọn lọc những cái cần cho sự hng
thịnh của dân trí nớc nhà, phù hợp với
hiện trạng của một quốc gia có bề dày
lịch sử. Với nhận thức nh vậy, ông biết
rằng, phổ biến tiếng Pháp cho ngời
Việt là rất cần thiết, nhng phải thực
hiện một cách khoa học: Nếu dân Việt
Nam là một dân mới có, cha có nền
nếp, cha có lịch sử gì thì quý quốc cứ
việc hóa theo Tây cả, dạy cho học chữ
Tây hết cả, đồng hóa đợc đến đâu hay
đến đó. Nhng ngặt thay, dân Việt
Nam không phải là một tờ giấy trắng
Đặng Hoàng Oanh Nhn quan văn hóa của Phạm Quỳnh , Tr. 48-54


chỉ là vài khía cạnh của một vấn đề lớn.
Hi vọng có dịp trở lại vấn đề này với
phạm vi khảo sát rộng hơn.

Tài liệu tham khảo

[1] Du kí Việt Nam Tạp chí Nam phong 1917 - 1934, 3 tập, bài giới thiệu của Hữu
Sơn, NXB Trẻ, 2007.
[2] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ớc tân biên, Tập 3, Văn học hiện đại
1862 1945, NXB Đồng Tháp, 1997.
[3] Vơng Trí Nhàn, Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phơng
Tây ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, Nghiên cứu văn học, Số 7, 401, tháng 7/2005.
[4] Phạm Quỳnh, Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932, NXB
Tri thức, 2007.

Summary

Phạm quynhs cultural vision through stories of a traveller
Pham Quynh's seven epidsodes of traveller's story once published on Nam
Phong magazine in the period of 1917 to 1934 played a significant part in his works
for its muti-faceted values. This paper focuses on his cultural vision - a feature that
dishtinguished Pham Quynh's traveller's story from his contemporary writers.

(a)
45 A - Khoa Ngữ văn, trờng Đại học Vinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status