Báo cáo nghiên cứu khoa học: " Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử (Bản dịch tiếng Việt: Chuyện làng nho)" - Pdf 19

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007 43
Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử
(Bản dịch tiếng Việt: Chuyện làng nho)

Lê Thời Tân
(a) Tóm tắt. Bên dới lớp vỏ chơng hồi truyền thống, Nho lâm ngoại sử ẩn
tàng một quan niệm mới về thể tài tiểu thuyết. Việc đó khiến cho tác phẩm tự
sự trờng thiên này có một cấu trúc thể loại rất độc đáo khác hẳn với tất cả các
bộ tiểu thuyết chơng hồi nổi tiếng khác. Bằng việc chỉ ra chuỗi các phiến đoạn
tự sự có tính cách truyện ngắn và bút kí ghi chép đợc phân bố rải đều trong
suốt chiều dài của văn bản trần thuật, chúng tôi đã chỉ rõ một phần trong cấu
trúc thể loại tiểu thuyết này. Đó là điều cha từng đợc giới nghiên cứu chú ý
và luận giải thích đáng.

1. Quan niệm thể tài tiểu thuyết
mới của Nho lâm ngoại sử
Sự lặp lại có tính quy luật của một
số nhân tố nhất định ở các tác phẩm
văn học chính là cơ sở hình thành thể
loại. Thể loại văn học là hiện tợng loại
hình của quá trình sáng tác - giao tiếp.
Thế nhng thể loại không đơn giản chỉ

ông, so với bất kì thể loại nào đã từng
xác lập, tiểu thuyết không phải là một
thể loại giữa các thể loại, nó chính là
một thể loại tạp thực, một hỗn hợp các
thể loại.
Tính khoan dung vô bờ bến của tiểu
thuyết làm cho mỗi một cuốn tiểu
thuyết bộc lộ ra một vẻ đa dạng và
phong phú không thể loại nào sánh nổi.
Đúng nh tác giả bộ sách Tiểu thuyết:
Kĩ xảo và phơng pháp phân tích văn
học đã nói - mỗi bộ tiểu thuyết tự
thành thể loại, mỗi bộ tiểu thuyết
chính là bản thân tác giả của nó, bản Nhận bài ngày 30/10/2007. Sửa chữa xong 13/12/2007.
(1)
Todorov, Bakhtin: Lí luận đối thoại và những vấn đề khác. Bản tiếng Trung, Bách hoa văn
nghệ xuất bản xã, 2001, tr. 294. Bakhtin cũng cho rằng tiểu thuyết không chỉ là một thể loại
đang trong quá trình biến đổi (Sách vừa dẫn, tr. 295). Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007 44

loại nhỏ hơn tiểu thuyết. Nó càng
không phải là chuỗi liên kết các câu
chuyện theo kiểu Tây du kí, Thuỷ hử.
Điều này không chỉ liên quan đến quá
trình hình thành bộ sách, căn bản hơn
nó gắn liền với ý thức của chính nhà
văn đối với các thể loại trung - đoản
thiên cũng nh tản văn bút kí. Trong
Nho lâm ngoại sử, chuỗi các đơn
nguyên tự sự có dáng dấp nh những
truyện ngắn, truyện vừa trộn lẫn với
văn xuôi kí sự mà chúng tôi phân tách
trong nhiều trờng hợp có thể tách rời
thành những truyện ngắn, truyện vừa
độc lập, Nhng một khi chúng tham gia
vào trong một chỉnh thể trờng thiên
thì đặc trng thể loại của chúng đã
đợc tổng hợp lại nhằm đáp ứng yêu
cầu cấu trúc thể loại mới. Chính điều
này đã tạo nên tính chất độc đáo cho
tiểu thuyết của Ngô Kính Tử. Trong bài
viết này chúng tôi tập trung phân tích
sự vận dụng thể loại đoản thiên và tản
văn bút kí vào trong cấu trúc thể loại
tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử của tác
giả Ngô Kính Tử.
2. Vận dụng thể loại truyện
ngắn
Nh đã chỉ ra, trên đại thể Nho lâm
ngoại sử là một chuỗi các đơn nguyên tự

chuyện Chu - Phạm Lỡng Tiến
(nhóm hồi 2-7)
(2) Hồi 19 trong đơn nguyên câu
chuyện nhà nho trẻ Khuông Siêu
Nhân (nhóm hồi 15B-20A)
(3) Hồi 30 trong đơn nguyên câu
chuyện danh sĩ Nam Kinh và Đỗ
Thận Khanh (nhóm hồi 28-30)
(4) Hồi 42 trong đơn nguyên câu
chuyện cha con nhà họ Thang
(nhóm hồi 42-44A)
(5) Hồi 52 trong đơn nguyên câu
chuyện lão hiệp khách họ Phợng
(nhóm hồi 50-52).
Nhìn trên quy mô toàn sách các
đoản thiên này đợc bố trí ở các vị trí
cách đều nhau trên dới 10 hồi truyện,
chúng nằm trong các đơn nguyên
truyện vừa khá quan trọng của tiểu
thuyết. Điều đáng nói là chúng đều là
hồi cuối trong các đơn nguyên truyện
vừa kể trên. Hoàn toàn có thể đặt tên
cho mỗi một đoản thiên bằng một vế
trong cặp đối ngẫu đề mục hồi truyện.
Ví dụ có thể gọi hồi 7 là Truyện Vơng
viên ngoại trong triều giúp bạn (lấy vế
Vơng viên ngoại lập triều đôn hữu
nghị của hồi mục). Tơng tự:
Hồi 19 - Truyện viên lại họ Phan
mắc vạ (lấy vế Phan tự nghiệp hoành

truyện kết thúc nh sau:
Hai công tử (Thang Thực và Thang
Do, con Thang tổng trấn - LTT) trở về
nhà. Hơn hai mơi ngày sau, trớc cổng
trờng thi thấy ngời ta đem mực vào
viết bảng xanh (yết tên những thí sinh
phạm quy - LTT), biết là sắp báo kết
quả. Hai hôm treo bảng, hai anh em
chẳng ai đậu. Về nhà ngồi tức tối bảy,
tám ngày liền. Đi nhận lại quyển thi
hỏng, Thang Do ba bài, Thang Thực ba
bài. Ba bài đều không từng đợc xem
xong. Cả hai nổi đoá chửi cả quan chấm
thi lẫn quan chủ khảo dốt nát. Chửi
đang cơn hứng thì có gia nhân từ trên
nha môn tỉnh Quý Châu mang th nhà
về. Hai ngời bóc xem. Chỉ nhân phen
này khiến cho:
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007 46
Vin cành hoa quế, chơi vờn hạnh: thi
cử nh là chơi trong mộng
(3)

Hổ và rồng vờn đấu với nhau: cảnh

hồi truyện về sau trong nhóm hồi
truyện vừa. Ngợc lại nếu hồi truyện
ngắn là hồi kết thúc cho một nhóm hồi
đơn nguyên truyện vừa thì các mối liên
hệ trần thuật tạo nên từ nó lại quan hệ
ngợc lên các hồi phía trớc ở trong
nhóm. Sau đây chúng tôi sẽ phân tích
trên dẫn chứng cụ thể.
Đoản thiên hồi 7 Vơng viên ngoại
trong triều giúp bạn kể mối thâm tình
giữa hai ngời bạn vong niên Vơng
Huệ với Tuân Mai. Vơng Huệ đến lúc
thi đậu tiến sĩ mới gặp đợc Tuân Mai -
ngời mà ông cử Vơng chỉ biết tên
trong giấc mơ hơn mời năm trớc báo
cho biết sẽ đậu đồng khoa hội thí với
mình (lúc đó Vơng cũng chỉ xem là
chuyện tầm phào đem ra kể để giỡn
Chu Tiến ở am Quan Âm nhân khi Chu
nói trong đám học trò trẻ con của mình
có đứa họ Tuân tên Mai). Tình tiết này
làm cho liên hệ chỉnh thể trong đơn
nguyên nhóm hồi thêm chặt chẽ. Chu
Tiến và Phạm Tiến
(5)
là cặp nhân vật
chính của nhóm hồi. Về mặt tình tiết
truyện, nhân vật Tuân Mai có tác dụng
liên kết hai hình tợng Chu Phạm lại
với nhau: Tuân Mai là học trò vỡ lòng

khảo. Chu chấm đậu cho Phạm xa kia
cũng nh Phạm chấm đậu cho Tuân
bây giờ thảy đều vì những lí do bên
ngoài phép chọn hiền tài cho quốc gia.
Thế nhng nhân vật Tuân Mai xuất
hiện và rút lui đợc một cách tự nhiên
trên sân khấu trần thuật của truyện thì
lại nhờ vào công dẫn xuất của nhân vật
Vơng Huệ: Cử Vơng tránh ma ở am
Quan Âm đọc thấy tên Tuân Mai trên
vở tập mà ông đồ Chu Tiến đang chấm
dở bèn đem chuyện mộng thấy bảng
vàng có tên Tuân Mai (hồi 2) kể với
Chu. Hơn mời năm sau chuyện trời
báo thi đậu
(6)
đó mới ứng nghiệm. Cụ cử
già họ Vơng gặp đợc chàng tân khoa
họ Tuân trong cùng kì thi đình (hồi 7).
Câu chuyện nhỏ về mối giao hảo giữa
hai cử tử Vơng Huệ và Tuân Mai phản
chiếu và làm sắc nét thêm hình bóng
câu chuyện lớn về nghĩa tình giữa ân s
Chu Tiến với học trò kiêm đồng nghiệp
Phạm Tiến (Phạm Tiến về sau cũng làm
học đạo quan trông coi thi cử học hành
nh Chu Tiến). Câu chuyện cho ta thấy
hình ảnh hai lão hàn sĩ một Nam một
Bắc quá nửa đời long đong khoa cử Chu
Phạm sau cùng cũng tròn đợc giấc mơ

bốn nhân vật trên.

Tơng tự, đoản thiên truyện ngắn
Chuyện viên lại họ Phan mắc vạ hồi 19

(6)

Nghiên cứu phê bình ở đại lục diễn tả tình tiết này bằng cụm từ mộng thiên bảng đồng
khoa cập đệ. Trong khi danh sách truy tặng tiến sĩ cập đệ cho các nho sĩ đã mất của triều
đình trong hồi cuối cùng - hồi 56 thì truyền thống phê bình quen gọi là U bảng. Đợc báo
thi đậu lúc đang sống hay đợc báo thi đậu lúc đã chết rồi đều là giấc mộng của sĩ nhân thời
khoa cử. Đọc từ truyền kì đời Đờng cho đến Liêu Trai chí dị qua Tang thơng ngẫu lục của
ta thì biết tình tiết giấc mộng khoa bảng này còn ám ảnh các nhà văn trung đại lâu dài, khác
chăng chỉ ở bút pháp thể hiện mà thôi.
(7)
Cả hai sau đó đều vì tội tham tiền làm sai vơng pháp đắc tội với triều đình. Chuyện
Vơng Huệ phạm pháp xem hồi 8, kết cục của nhân vật này xem hồi 39. Chuyện Tuân Mai
vớng vòng lao lí xem hồi 29. Kết cục của các nhân vật này rõ ràng diễn ra trong những hồi ở
bên ngoài nhóm hồi truyện vừa chứa câu chuyên chính của chúng. Đây là bút pháp mới trong
nghệ thuật tự sự của Ngô Kính Tử.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007 48
cũng đảm nhận vai trò kết thúc cho đơn
nguyên nhóm hồi truyện vừa câu
chuyện Khuông Siêu Nhân (nhóm hồi

bút pháp hiện thực chủ nghĩa ở những
đoạn tả cảnh trong Nho lâm ngoại sử.
Ông viết: Phong cảnh thiên nhiên nổi
tiếng cũng nh cảnh trí sinh hoạt
thờng nhật muôn màu của nhiều
thành thị miền Giang Nam trong đó có
Nam Kinh, Hàng Châu, Gia Hng đợc
tái hiện sinh động trong tác phẩm.
Chúng thậm chí đến nay vẫn có thể
kiểm đối đợc với thực tế. Tuy nhiên
không phải đoạn tản văn có tính chất kí
lục nào trong tác phẩm cũng đều đợc
tán thởng. Cũng chính Hạ Chí Thanh
phê bình Ngô Kính Tử bộc lộ mình quá
rõ trong đoạn có tính cách bút kí về cái
gọi là phong tục nhân tình Ngũ Hà
huyện (đây là bối cảnh không gian quan
trọng trong nửa sau tiểu thuyết sau
Nam Kinh): Trong đoạn miêu tả nhân
tình phong tục huyện Ngũ Hà, họ Ngô
rõ ràng đã đánh mất đi sự chừng mực
tự kìm nên có trong nghệ thuật phúng
thích. Không hẹn mà nên, tại đại lục
giáo s Trần Mĩ Lâm cũng bình luận
đoạn này: Tác giả dờng nh không
còn nén nhịn đợc bèn trực tiếp ra mặt
bình thuyết
(9)
. Chúng tôi tự thấy không
có nhiệm vụ tranh luận trực diện với

49
có tính miêu tả trên thực tế là tơng
đối độc lập. Chúng (trên kết cấu bề
mặt văn bản tác phẩm) thờng đợc
phân cách bằng qua hàng và có một
tính độc lập nhất định. Xét từ góc độ
sinh thành, chúng có thể là đợc chuẩn
bị sẵn để điền đệm vào trong văn bản
tiểu thuyết (phần in đậm do chúng tôi
nhấn mạnh)
(10)
. Giờ đây đã đến lúc
chúng tôi biện hộ cho những đoạn có
tính cách tản văn kí tả trong Nho lâm
ngoại sử. Nhận xét trên đây có thể là
đúng đối với một số tiểu thuyết hạng
trung. Trong những cuốn tiểu thuyết
này, các phiến đoạn miêu tả có thể bị
lợc bỏ mà không ảnh hởng lớn đến
hiệu quả tự sự của tác phẩm, chúng có
thể chỉ là một thứ trang sức miễn phí,
biểu hiện của những động cơ tự do của
ngời viết. Thế nhng trớc một cuốn
tiểu thuyết đã xuất bản ra rồi, thật khó
mà nói đến cái gọi là xét từ góc độ sinh
thành để từ đó kết luận đợc chúng có
thể là đợc chuẩn bị sẵn để điền đệm
vào trong văn bản tiểu thuyết hay
không. Càng khó đồng ý với ý kiến trên
nếu ta biết tất cả những đoạn tản văn

(6) Nam Kinh thập nhị lầu kí: hồi
đầu đơn nguyên câu chuyện Trần Mộc
Nam (nhóm hồi 53-54)
(7) Ghi chép nhân chuyến thăm lại
đền Thái bá: chuyện bốn ngời khách
(hồi 55)
(8) Các bài văn tế, chiếu dụ, tấu sớ
cùng ghi chép về nguồn cơn quá trình
công việc truy phong bảng vàng tiến sĩ
cập đệ của triều đình trong hồi 56 có
thể xem là những văn bản phỏng nhại
thể tài văn hành chính - chức năng và
ghi chép sử học kiểu thực lục.
Không cần chú ý đến vai trò vị trí
của chúng trong các đơn nguyên nhóm
hồi tự sự có tính cách truyện vừa mà
chúng thuộc vào, chỉ theo dõi trong
chuỗi trờng thiên hồi nối hồi của tiểu
thuyết cũng đã có thể phát hiện thấy
các phiến đoạn có tính cách bút kí đó
đợc phân bố rải đều trong toàn sách -
chúng nằm trong dãy các hồi 14, 24, 37,
41, 47, 53. Các phiến đoạn đó có một tác

(10)

Xin xem Tiểu thuyết - Kĩ xảo và phơng pháp phân tích văn học. Tác giả sách này đem tự
sự của một cuốn tiểu thuyết phân thành 4 thành phần bao gồm kể thuật, luận thuật, thoại
ngữ và miêu tả (tr. 47).


sau hồi này, bối cảnh không gian chính
của tiểu thuyết tập trung ở Nam Kinh.
Khảo sát kĩ hơn cho thấy những phiến
đoạn miêu tả Nam Kinh trong nửa sau
cuốn sách chiếm một tỉ lệ đáng kể, các
phiến đoạn đó cũng đợc phân bố khá
đều. Có thể liệt kê ra nh sau (chúng
tôi gọi tên mỗi phiến đoạn kí tả theo nội
dung chính của đoạn):
Hồi 24: Nam Kinh thành kí và
Nam Kinh kịch nghệ kí
Hồi 37: Cảnh Vũ Hoa Đài ở Nam
Kinh
Hồi 41: Tần Hoài xuân, thu cảnh
vật- phong tục kí
Hồi 53: Nam Kinh thanh lâu kí
hoặc Nam Kinh thập nhị lầu kí.
Nh vừa nói ở trên, từ sau hồi 25
tiểu thuyết chuyển sang một bối cảnh
không gian mới. Cái bản lề chuyển đổi
sân khấu tự sự trong tiểu thuyết này
chính là đợc định vị ở nửa sau hồi 24,
nhân vật giữ chức năng nối cảnh
chuyển màn đó là Bão Văn Khanh. Để
chuẩn bị cho việc đó, tác giả đã khéo léo
đặt tiếp liền nhau trớc câu chuyện Bão
Văn Khanh (hồi 24B - xem Bảng phân
định) hai phiến đoạn tản văn kí tả -
đoạn Nam Kinh kí và Nam Kinh kịch
nghệ kí. Đoạn miêu tả chung thành

Nghê Đình Tỉ An Khánh chiêu thân
Bản dịch Chuyện làng nho: Đất Nam Kinh Bão Văn Khanh gặp bạn
Phủ An Khánh Nghê Đình Tỉ thành hôn Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007 51
những hồi truyện tiếp theo sau câu
chuyện Bão Văn Khanh thực mới là kép
hát của thời đại, sự nghiệp hành xử của
đám này cũng chỉ là tuồng diễn mà
thôi. Nam Kinh thật nh một đại sân
khấu, chính nhân quân tử áo mũ diễn
trò mà ngợc lại trong cái thế giới nhỏ
bé của nghề kịch kia một anh kép hát
(nguyên văn hí tử) nh Bão Văn Khanh
kia lại tính tình hồn hậu, chân phơng
làm ngời.
Giờ đây vẫn trên lập trờng cho
rằng các phiến đoạn có tính chất tản
văn bút kí trong Nho lâm ngoại sử là
một phần tất yếu của một kế hoạch kết
hợp đa thể tài nhằm mục đích kiến cấu
chỉnh thể tự sự cho tiểu thuyết chúng
ta hãy quay lại với đoạn Ngũ Hà nhân

Tiếp liền đoạn giới thiệu gia thế
nhân vật chính của câu chuyện là đoạn
có tính chất kí lục về nhân tình phong
tục Ngũ Hà:
Phong tục Ngũ Hà nói đến ngời
nào có phẩm hạnh họ liền cời méo cả
mồm; Nói đến thế gia đại tộc dòng dõi
mấy chục năm về trớc họ bèn cời khì
trong mũi; Nói đến ai biết làm thơ phú
viết cổ văn
(13)
họ thì cời chau cả mày.
Hỏi huyện Ngũ Hà có phong cảnh núi
sông gì, rằng có cụ thân hào họ Bành;
Hỏi huyện Ngũ Hà có sản vật quý hiếm
gì, đáp có cụ thân hào họ bành; Hỏi
huyện Ngũ hà ai ngời có phẩm vọng,
khen rằng có cụ Bành; Hỏi ai ngời có
đức hạnh, khen rằng có cụ Bành; Hỏi ai
ngời tài tình, rằng chỉ biết khen có cụ
Bành. Lại còn có một chuyện ngời ta ai
cũng hãi, ấy là nhà cụ Bành kết thông
gia với nhà cụ Phơng ở Huy Châu; Một
chuyện nữa ngời ta cũng rất phục, đó
là việc nhà cụ Bành vốc bạc ra mua
ruộng.
Nh trên đây đã nói đến, không
phải là ngẫu nhiên khi tác giả tiểu
thuyết đặt bên cạnh nhau hai phiến
đoạn tự sự trên. Hai phiến đoạn trở nên

mồm. Khi đã cảm nhận đợc tất cả
những ý vị tự sự nh vậy, thật khó mà
cho rằng đây chỉ là một đoạn miêu tả
ngoại cảnh xuất hiện tuỳ tiện trong văn
bản trần thuật và là một thứ trang sức
miễn phí cho tiểu thuyết. Đặt đoạn văn
trong kết cấu trần thuật cụ thể nh
trên, ta cũng sẽ khó mà nói đợc trong
đoạn đó tác giả tiểu thuyết rõ ràng đã
đánh mất đi sự chừng mực tự kìm nên
có trong nghệ thuật phúng thích trực
tiếp ra mặt bình thuyết (xem phần đầu
tiểu mục này). Thực ra, nói một cách
xác đáng, trong đoạn văn trên độc giả
tinh tai đã có thể nghe ra đợc có sự
thẩm thấu vào trong từng từ giọng mai
mỉa nhạo cời của nhân vật chính của
câu chuyện, kẻ đợc giới thiệu trực diện
trong đoạn đầu - Ngu Lơng
(14)
. Nói đến
những đoạn tả cảnh trong Nho lâm
ngoại sử phàm ngời đã đọc qua tiểu
thuyết này không thể không nghĩ ngay
đến đoạn tả cảnh Tây Hồ ở hồi 14.
Đây là trờng đoạn có tính cách tản văn
kí lục đầu tiên trong tiểu thuyết mà
chúng tôi từng thống kê (xem phần đầu
tiểu mục, trờng đoạn này đợc vận
dụng trong đơn nguyên truyện vừa

tất cả đều diễn ra dới t tởng lí luận
chủ đạo mà chúng tôi đã viện dẫn ngay
từ đầu - t tởng cho rằng mỗi bộ tiểu
thuyết tự thành thể loại, mỗi bộ tiểu
thuyết chính là bản thân tác giả của nó,
bản chất của tiểu thuyết chính là ở chỗ
đó.

(14)

Giống nh ta có thể nghe ra giọng của anh Chí ngay từ những dòng đầu tiên của tiểu
thuyết Chí Phèo vậy.

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007 53

Tài liệu tham khảo

[1] Ngô Kính Tử, Nho lâm ngoại sử, Tân thế giới xuất bản xã, 2000.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status