4.4 Hệ thống tài chính ngân hàng:
Hiện nay hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can thiệp tới tất
cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế dù lớn hay nhỏ, dù ở bất kỳ thành phần kinh tế
nào. Hoạt động xuất nhập khẩu sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự phát triển
của hệ thống ngân hàng. Dựa trên các quan hệ, uy tín , nghiệp vụ thanh toán liên ngân
hàng rất thuận lợi mà các doanh nghiệp tham gia hoạt đông XNK sẽ được đảm bảo về
mặt lợi ích.
4.5 Khả năng sản xuất, chế biến của nền kinh tế trong nước.
Kinh doanh thương mại nói chung và kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng là mua bán
hàng hoá chứ không phải để tiêu dùng cho chính mình . Các doanh nghiệp XNK hoạt
động trên thị trường đầu vào nhằm chuẩn bị đầy đủ các yếu tố đầu vào trong đó quan
trọng nhất là hàng hoá. Nguồn hàng của doanh nghiệp XNK là toàn bộ và cơ cấu hàng
hoá thích hợp với nhu cầu của khách hàng đã và đang có khả năng huy động trong kỳ
kế hoạch
4.6 Doanh nghiệp và sức cạnh tranh trên thị trường
Doanh nghiệp không thể XNK được hàng hoá nếu doanh nghiệp không có khả năng
thu mua, chế biến và tiếp cận được với khách hàng nước . Doanh nghiệp phải biết tận
dụng thế mạnh để có một chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
II. Các hình thức XNK.
Các nghiệp vụ xuất nhập khẩu hàng hoá là hoạt động thương mại liên quan đến mua
và bán hàng hoá với thị trường nước ngoài bao gồm cả tái xuất khẩu (Reexport) và tái
nhập khẩu (Reimport )
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com1. Tái xuất khẩu :
Là xuất khẩu hàng đã nhập về trong nước, không qua chế biến thêm, cũng có trường
hợp hàng không về trong nước, sau khi nhập hàng, giao hàng đó ngay cho người thứ
ba. Như vậy ở đây có cả hành động mua và hành động bán nên mức rủi ro có thể lớn
4. Xuất khẩu và nhập khẩu gián tiếp.
Là hình thức khi doanh nghiệp thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt ngay tại
nước xuất khẩu nhập khẩu để tiến hành XNK.
Hình thức xuất khẩu gián tiếp khá phổ biến ở những doanh nghiệp mới tham gia vào
thị trường quốc tế .
Hình thức này có ưu điểm cơ bản là:
- ít phải đầu tư.
- Doanh nghiệp khong phải triển khai một lực lượng bán hàng ở nước ngoài cũng như
các hoạt động giao tiếp và khuyếch trương ở nước ngoài.
- Hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra ở thị trường nước ngoài.
Tuy nhiên, hình thức này cũng có hạn chế là giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do phải
chia sẻ với các tổ chức tiêu thụ và do không có liên hệ trực tiếp với thị trường nước
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comngoài nên việc nắm bắt các thông tin về thị trường nước ngoài bị hạn chế, không thích
ứng nhanh được với các biến động của thị trường.
5. Tạm nhập, tái xuất.
Như đưa hàng đi triển lãm, đưa đi sửa chữa rồi lại mang về
6. Tạm xuất, tái nhập.
Như đưa hàng vào dự triển lãm, hội chợ, quảng cáo sau đó đưa về
7. Chuyển khẩu.
Là hàng mua của nước này bán cho nước khác, không làm thủ tục XNK. Như vậy,
trong hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà chỉ thực hiện các dịch vụ
như vận tải quá cảnh, lưu kho, lưu bãi, bảo quản…Bởi vậy mức độ rủi ro trong hoạt
động nói chung là thấp và lợi nhuận cũng không cao.
8.Dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu.
Như gửi đại lý hay thuê người sửa chữa
9. Xuất khẩu tại chỗ.
Trong trường hợp này hàng hoá và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biên giới quốc gia
Thị trường là môi trường hoạt động của mọi doanh nghiệp. Để thuận lợi cho các hoạt
động kinh doanh thì tự bản thân doanh nghiệp phải biết củng cố và phát triển cho môi
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comtrường hoạt động của mình, bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Hoà
theo xu thế quốc tế hoá, ngày nay nhiều doanh nghiệp mở rộng việc đưa sản phẩm ra
tiêu thụ ở thị trường nước ngoài bằng cách xuất khẩu, dây là cách dễ thực hiện và
thường được sử dụng cả đối với những doanh nghiệp mới tham ra vào thị trường quốc
tế cũng như những doanh nghiệp đã có những kinh nghiệm. Trong bối cảnh cạnh tranh
ngày càng gay gắt, thị trường ngày càng trở nên mang tính toàn cầu. Chính vì vậy, thị
trường có vai trò rất lớn đối với hoạt động XNK
+ Thị trường là nơi tiêu thụ hàng hoá XNK : mọi hàng hoá sẽ được đem ra trao đổi
mua bán trên thị truờng, đáp ứng nhu cầu cân bằng giữa cung và cầu.
+ Thị trường là sự tồn tại của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp hay Công ty nào tham
gia vào hoạt động kinh doanh XNK đều coi trọng thị trường vì nó là khâu then chốt
quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
+ Thị trường là nơi cung cấp thông tin cho người sản xuất, người tiêu dùng và cả người
kinh doanh thương mại. Thị trường chỉ rõ nhữmg biến động về nhu cầu xã hội, số
lượng giá cả, cơ cấu và xu hướng thay đổi của nhu cầu các loại hàng hoá dịch vụ. Đó là
những thông tin cực kỳ quan trọng đối với người sản xuất hàng hoá, giúp họ điều chỉnh
sản xuất cho quan hệ cung cầu, thay đổi qui cách mẫu mã cho phù hợp nhu cầu, thị
hiếu, sản xuất hàng hoá theo mốt mà người tiêu dùng đòi hỏi…
Sự hình thành, phát triển của thị trường gắn liền với sự hình thành, phát triển của sản
xuất, lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ.Thị trường có vai trò to lớn thúc đẩy sự
phát triển, mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá.
2. Chiến lược mở rộng thị trường.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
Việc phân biệt chiến lược tập trung và chiến lược phân tán thì số lượng các thị trường
chỉ có ý nghĩa tương đối bởi lẽ khả năng kinh doanh của một doanh nghiệp sẽ thay đổi
tuỳ theo tiềm lực và khả năng của doanh nghiệp đó, sự khác biệt giữa các thị trường
xuất khẩu, qui mô của chủng loại sản phẩm và các nỗ lực thị trường mà doanh nghiệp
phải bỏ ra cho các thị trường khác nhau.
Bản thân khái niệm thị trường cũng không nhất thiết gắn với ranh giới quốc gia. Một
thị trường bao gồm nhiều quốc gia hoặc ngược lại có quốc gia lại phải được xem xétlà
nhiều thị trươngf tuỳ thuộc vào mức độ khác nhau về kinh tế, xã hội, văn hoá và tập
quán tiêu dùng nhiều hay ít. Do đó đẻ đánh giá được mức độ tập trung hay phân tán
của chiến lược lựa chọn thị trường thì thay cho chỉ tiêu số lượng thị trường có thể sử
dụng chỉ tiêu phần ngân sách của doanh nghiệp được phân phối cho các thị trường khác
nhau.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng thị trường.
Có nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến quyết định về lựa chọn chiến lược mở rộng
thị trường của doanh nghiệp vì thế khó có thể lựa chọ dứt khoát một trong hai chiến
lược nói trên vì sự ảnh hưởng của các nhân tố theo những hướng khác nhau dễ dẫn đến
tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có được những phân tích
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comcơ sơ để đánh giá hững cơ hội mở rộng thị trường thì chúng ta sẽ tạo ra được một bức
tranh toàn cảnh giúp doanh nghiệp thấy rõ hiện trạng kinh doanh của doanh nghiệp
thích hợp với chiến lược tập trung hay phân tán.
Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược mở rộng thị trường XNK sau.
3.1 Nhân tố sản phẩm.
Bản chất của sản phẩm (dung lượng, tíh thường xuyên và tính đa dạng), mức độ
chuyên môn hoá, tiêu chuẩn hoá sản phẩm, nội dung hàng hoá tính mua đi bán lại và
vòng đời sản phẩm là những nhân tố ảnh hưởng đến việc luựa chọn chiến lựoc mở rộng
thị trường. Các đặc tính dung lượng cao, tần số xuất hiện thấp, không mua đi bán lại
nhiều lần đặc trưng cho chiến lược phân tán. Ngược lại dung lượng thấp, tần số xuất
việc thâm nhập thị trường và nếu sự tín nhiệm của khách hàng ở thị trường đó với
doanh nghiệp không cao.
3.3 Nhân tố chi phí Marketing.
Chi phí Marketing và bản chất của những chi phí đó có thể là những nhân tố quan trọng
nhất cho việc lựa chọn thị trường. Chi pí Marketing là kết quả của bản chất sản phẩm
và tính chất thị trưòng nói chung phụ thuộc vào hình thức hoạt ở thị trường nước ngoài
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comvà đòi hỏi ở thị trường đó. Các chi phí Marketing được đo lường trong mối quan hệ với
lượng bán và được biểu diễn qua hàm số lượng bán theo những chi phí cho thị trường.
IV. Một vài đặc thù trong hoạt động XNK của ngành khoáng sản Việt Nam
Trong những năm qua, hoạt động XNK của nước ta rất đa dạng và nhiều chủng loại,
tuy nhiên vẫn tập trung chủ yếu vào hàng nông, lâm, thuỷ sản và nguyên, nhiên vật
liệu.Đối với ngành khoáng sản, việc xuất nhập khảu của nước ta có một số đặc điểm
sau:
+ Nếu xét trong tổng thể cả ngành công nghiệp nặng và khoáng sản thì hàng năm xuất
khẩu được khoảng 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, riêng năm 2000 đạt ở mức
cao nhất là 37,2% sau đó có xu hướng giảm dần. Điều này đo lượng khoáng sản của
nước ta ngày càng ít đi đặc biệt là quặng kẽm, quặng Fluospar, dự kiến đến năm 2003
xuất khẩu chỉ còn ở mức 27,7%.
+ Hàng khoáng sản của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu dưới dạng thô, không qua
chế biến. Điều này rất đúng với tình hình của Việt Nam.Nước ta vốn là một nước nông
nghiệp, chưa có những trang thiết bị hiện đại để khai thác khoáng sản cũng như chế
biến mặt hàng này, vì thếd mà chất lượng không cao,luôn bị cạnh tranh gay gắt cả về
giá cả lẫn chất lượng và không gây được uy tín trên thị trường thế giới.Hơn nữa lượng
khoáng sản xuất khẩu không cao, mỗi năm chỉ đạt được vài trăm ngàn tấn và mặt hàng
thiếc thỏi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành khoáng sản nước ta. Doanh thu từ
ngành này không cao
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
Nhận thức rõ những cơ hội và thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế và xuất phát từ
mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế là để phát triển kinh tế đẩy nhanh sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tháng 7/ 1995 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên
của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN ). Và tháng 11/ 1996 nướa ta đã ký
kết Hiệp định ưu đãi về thuế quan có hiẹu lực chung, cơ sở của việc thiết lập khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (CEP/ AFTA). TháNG 11/ 1998 đã trở thành thành viên chính
thức của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á- Thái Bình Dương ( APEC ) và trong năm tới
sẽ trở thành thành viên của Tổ chức thưong mại thế giới (WTO ).
1. Những cơ hội
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại nhiều thuận lợi và cơ hội cho các doanh
nghiệp , cụ thể:
1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần mở rộng thị trường XNK của Việt Nam
quan hệ bạn hàng được mở rộng. Việc được hưởng những ưu đãi về thuế quan và xoá
bỏ hàng rào phi thuế quan, và các chế độ đãi ngộ khác như tối huệ quốc và đối xử quốc
gia, đã tạo điều kiện cho hàng hoá của Việt Nam thâm nhập thị trường thế giới. Điều
này đã tạo ra rất nhiều cơ hội cho Công ty XNK khoáng sản thâm nhập vào thị trường
thế giới , mang lại mức doanh thu cao.
Khi tham gia các tổ chức thương mại khu vực và thế giới, ngoài các qui chế tối huệ
quốc (MFN ) và đãi ngộ quốc gia ( NT ), Việt Nam còn có cơ hội được hưởng mức
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comthuế quan thấp của các nước, đồng thời tranh thủ những ưu đãi về thương mại, đầu tư
và các lĩnh vực khác mà cá nước thành viên của tổ chức này giành cho nhau. Ngoài ra
Việt Nam sẽ có cơ hội được hưởng những đối xử ưu đãi về mức cam kết mở cửa và về
thời hạn thực hiện các nghĩa vụ hoặc các điều kiện ưu đãi trong việc tiếp cận thị trường
để bán các sản phẩm của mình. Chỉ tính trong phạm vi khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA ) kim ngạch xxuất khẩu của ta sang các nước hành viên cũng đã tăng
lên đáng kể. Nếu như xuất khẩu sang ASEAN của ta năm 1990 đạt 348,6 triệu USD thì
năm 1996 đạt 1777,5 triệu USD và1998 đạt 2349 triệu USD. Đến nay ta đã mở rộng