Bất cập và giải pháp phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước - 4 - Pdf 19

địa phương mới đảm bảo được hầu hết các nhiệm vụ chi về giáo dục, y tế, văn
hoá, xã hội…Do đó, các khoản thu của ngân sách địa phương nhìn chung được
tập trung thu đúng, thu đủ, kịp thời, giảm bớt sự phân tán nguồn thu nên số thu
ngày càng ổn định và nguồn thu ngày càng được mở rộng.
Luật NSNN một mặt đề cao vai trò của ngân sách trung ương, mặt khác để
đảm bảo khả năng cân đối của ngân sách các cấp địa phương, luật đã thu hẹp dần
các khoản thu của ngân sách trung ương được hưởng 100%. Quá trình thu hẹp
này còn diễn ra khi Quốc hội sửa đổi luật ngân sách(20/5/1998), một mặt thay
đổi thuế doanh thu bằng thuế GTGT, thuế lợi tức bằng thuế thu nhập doanh
nghiệp; mặt khác điều chỉnh nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách,
trong đó hai khoản thu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế tài nguyên (trừ
dầu khí) được đẻe lại 100% cho ngân sách địa phương (theo luật cũ là phân chia
giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương). đồng thời, tăng thêm các
khoản thu cho NSĐP, đặc biệt là cấp huyện và đô thị về thuế tiêu thụ đặc biệt
(trước đây trung ương thu 100%), thu đối với hàng sản xuất trong nước thu vào
các mặt hàng bài lá, vàng mã, kinh doanh vũ trường…đã tạo điều kiện làm
phong phú nguồn thu của NSĐP.
Quy mô thu NSNN
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Nsđp 38.8. 36 43.1 39.4 28.3 29.5 33 33.3 33.5 33.2
Nstư 61.2 64 56.9 60.6 71.7 70.5 67 66.7 66.5 66.8
Bên cạnh những tỉnh đạt yêu cầu thu còn có nhiều tỉnh, thành phố thụ động
trong khai thác các nguồn thu của mình, để tồn đọng thu trong nhiều năm. kết
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
quả kiểm tra năm 1996 qua 10 tỉnh, thành phố cho thấy cả 10 tỉnh, thành phố chi
mới thực hiện được 97.3% kế hoach thu Chính phủ giao, mà khả năng thực tế có
thể thu hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, nhiều nguồn thu chưa được khai
thác hết. Năm 1995 (trước khi có luật) có 1/3 số tỉnh, thành tự cân đối được ngân
sách, còn lại không tự cân đối được, nhưng đến năm 1997 đã có 50% số tỉnh tự
cân đối được.
Trước thực trạng phân cấp, quản lý ngân sách đó, tình hình thu, chi NSNN đã

bị vi phạm dẫn đến tuỳ tiện trong quản lý ngân sách, gây thất thoát và lãng phí
nguồn lực. Từ năm 1994, đặc biệt là sau năm 1995, tổng chi NSNN so với GDP
liên tục giảm. Trong 5 năm, tỷ trọng chi NSNN đã giảm từ 29.4% GDP năm
1993 xuống 22.7% năm 1998. Các năm 1999, 2000, dù đã áp dụng các biện pháp
kích cầu nhưng chi so với GDP chỉ đạt 22.5%. Tuy nhiên, nếu xét cả thời kỳ 10
năm, tính theo giá hiện hành, quy mô tuyệt đối chi NSNN năm 2000 tăng gấp 8.5
lần so với năm 1991. Nếu loại trừ yếu tố lạm phát, quy mô tuyệt đối chi NSNN
năm 2000 vẫn tăng 2.9 lần năm 1991.
Thực tiễn cuộc sống đa dạng và phong phú hơn nhiều so với các quy định của
luật pháp, luật NSNN cũng không phải là ngoại lệ. Trong quá trình thực thi luật,
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
bên cạnh những thành tựu đạt được là những hạn chế, bất cập phát sinh, đặc biệt
là khi luật đang ở giai đoạn còn phải tiếp tục xem xét và hoàn thiện, những bất
cập cần phải được phát hiện và giải quyết kịp thời.
II. Đánh giá thực trạng phân cấp và quản lý NSNN ở Việt nam:
1. Bất cập giữa văn bản và thực tế áp dụng.
Đây là những bất cập trong quá trình triển khai, vân hành luật NSNN. Những
nét chung là:
Do nền kinh tế có những biến động nên giữa văn bản và thực tế thường không
khớp nhau, lệch pha dẫn đến sự lạc hậu, hiệu lực điều chỉnh thấp của nhiều văn
bản khi đưa vào cuộc sống. Hơn nữa, nhiều văn bản, ngoài bỏ sót đối tượng điều
chỉnh, chưa dự kiến hết các tác động điều chỉnh trong nền kinh tế, các quan hệ
kinh tế quốc tế còn quy định quá chung chung nên thực tế việc chấp hành luật là
áp dụng các văn bản dưới luật. Các văn bản này lại quá nhiều nên sự chồng chéo,
trùng lắp, thậm chí là vô hiệu hoá quy định lẫn nhau là khó tránh khỏi. Một
nguyên nhân khác là do năng lực của bản thân hệ thống. Dù chất lượng cán bộ
làm công tác tài chính, kế toán, thuế, kho bạc nhà nước,…đã không ngừng được
nâng cao, bộ máy tổ chức đang từng bước tinh gọn để phát huy tốt hiệu quả. Tuy
vậy với yêu cầu quản lý NSNN trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ tài chính
ở cơ sở, nhất là từ xã, phường đến quận, huyện, thành phố vẫn còn phải hoàn

trình lập tổng hợp dự tóan NSNN rất khó đảm bảo đúng trình tự và thời gian do
phải trải qua nhiều đầu mối và làm nhiều thủ tục phức tạp.
Mặc dù đã được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp rõ ràng
nhưng hiện nay do khả năng quản lý của một số cấp nhích quyền địa phương
chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao nên mức độ tự chủ ngân sách còn hạn
chế.
Chế định luật về phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách.
Với cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa NSTƯ với ngân sách tỉnh,
tỉnh với các cấp NSĐP khác đã có những thay đổi căn bản so với khi chưa có
luật. Khuynh hướng chung là tăng tính chủ động nguồn thu, nhiệm vụ chi cho
các cấp ngân sách cơ sở.
Về tiêu thức phân định nguồn thu.
Cách phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách như hiện nay chủ yếu dựa
theo tiêu thức tính chất, mức độ của các khoản thu chứ chưa thật chú ý đến đặc
điểm của đối tượng quản lý thu. Tuy có đơn giản hơn, song nếu chỉ phân chia
theo sắc thuế sẽ dẫn đến tình trạng một số khoản thu nhỏ, phân tán, khó quản lý,
gắn với cấp thấp lại được phân về cho cấp cao. Điều này thường làm hạn chế nỗ
lực của cơ quan thuế cũng như của chính quyến cơ sở trong việc khai thác đầy đủ
nguồn thu đó, vì tâm lý của cơ quan thuế ngại va chạm và coi thường các nguồn
thu nhỏ, lẻ, còn chính quyền cơ sở thì lại có thái độ thờ ơ đối với những khoản
hoặc không phải của mình hoặc chỉ được một phần nhỏ.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Chẳng hạn, trong nội dung phân cấp nguồn thugiữa các cấp ngân sách, mỗi
cấp ngân sách đếu có những nguồn thu được hưởng 100%, mặc dù theo nguyên
tắc NSTƯ nắm giữ các nguồn thu quan trọng nhưng một số nguồn thu nế giao
cho ngân sách cơ sở (huyện, xã) thì hiệu quả thu sẽ cao hơn, hạn chế được tình
trạng thất thu trong thực tế. Ví dụ:
Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ những khoản giành lại cho ngân sách đại
phương (các dịch vụ tiêu thụ đặc biệt mặt hàng bài lá, vàng mã, hàng mã) thì còn
những khoản phát sinh từ những cơ sở sản xuất kinh doanh thủ công, phân tán ở

lại thêm căng thẳng mà nhiều nhà quản lý và khoa học đánh giá nổi bật là hiện
tượng “phá rào” của nhiều địa phương.
Tiếp theo thời kỳ suy thoái, bước vào thập kỷ 80, nền kinh tế nước ta có dấu
hiệu đi lên, có những điểm sáng nhất định do thực hiện cơ chế khoán trong nông
nghiệp (nghị quyết 10 và chỉ thị 100), nghị quyết 125/CP về kế hoạch ba phần
trong công nghiệp đã tác động vào cơ chế phân cấp quản lý NSNN. Yêu cầu về
ổn định nguồn thu cho NSĐP lại nổi lên và nghị quyết 138/CP (năm 1983) ra
đời. Theo đó tỷ lệ điều tiết được giữ ổn định từ 3 đến 5 năm. Đến năm 1985,
cuộc tổng điều chỉnh giá- lương- tiền đã làm đảo lộn toàn bộ cơ cấu thu chi
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
NSNN. Việc vận hành cơ chế giá không thống nhất giữa các địa phương dẫn tới
tình trạng giành giật nguồn thu qua chênh lệch giá của NSNN. Khi nguồn chênh
lệch giá giảm dần thì các địa phương đề nghị sửa lại tỷ lệ điều tiết, sửa không chỉ
một lần một năm mà thậm chí hai, ba lần một năm.
Như vậy, trong lịch sử phân cấp quản lý NSNN đã có ổn định nguồn thu và
nhiệm vụ chi và tỷ lệ điều tiết từ 3 đến 5 năm cho chính quyền địa phương. Thế
nhưng, việc thực hiện đã không mang lại kết quả như mong muốn, một phần do
nên kinh tế còn đang trong giai đoạn khủng hoảng, một phần chưa có cơ sở pháp
lý tối cao để đảm bảo chắc chắn việc ổn định nên khi thực hiện chỉ mang tính
hình thức, nửa vời. Thêm vào đó, mục đích của ổn định nguồn thu là để đảm bảo
NSĐP chủ động xây dựng, bố trí và điều hành ngân sách cấp mình, tuy nhiên
trên thực tế, luật vẫn chưa tạo được thế chủ động thực sự cho các cấp ngân sách
ở địa phương, đáng chú ý nhất là cơ sở để tính toán, phân bổ để giao nhiệm vụ
thu chi cho các ngành, cấp chưa đầy đủ và chính xác. Vì vậy, việc phân cấp
nhiệm vụ thu chi cho các cấp, ngành, tỉnh còn chưa thực hiện ổn định được tối
thiểu 3 năm theo quy định của luật NSNN.
Về vấn đề tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách.
Sẽ hết sức phức tạp nếu thực hiện đầy đủ những quy định về tỷ lệ phần trăm
phân chia cho các cấp NSĐP. Theo điều 39 của luật NSNN và điều 28 của Nghị
định 87/CP (19/12/1996) và Nghị định 51/1998/NĐ-CP (18/7/1998) thì ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status