Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và Ðịa đàng
phương Ðông của Oppenheimer
Trong báo Thế Kỷ 21 (số tháng 12 năm 2001, nam California, USA) ông Nguyễn
văn Tuấn có đặt lại vấn đề nguồn gốc (Tàu) của dân tộc và văn minh Việt Nam sau
khi ông đọc cuốn "Địa đàng ở phương Đông" của Stephen Oppenheimer. Với
nhiều điểm mới dựa trên sự tổng hợp tài liệu nhiều ngành (khảo cổ học, ngữ học,
di truyền học, dân tộc học) và kết quả nghiên cứu của chính Oppenheimer, "Địa
đàng ở phương Đông" phát giác sự đóng góp quan trọng của vùng Đông Nam Á
trong lịch sử nhân loại. Ngô thế Vinh đã giới thiệu sách này trong bài "Tìm về
phương Đông- Địa đàng lại đánh mất" trong Thế Kỷ 21 số tháng tư năm 2000.
Việc Nguyễn văn Tuấn (NVT) tóm tắt cuốn sách đồ sộ này (560 trang với kiểu
chữ nhỏ) và thêm những dữ kiện mới thông báo rất đáng ca ngợi. Những thuyết
mới về nguồn gốc dân tộc khi được thông báo cho cộng đồng người Việt Nam
giúp hiểu thêm về cội nguồn tổ tiên, xóa bỏ mặc cảm tự ti (nếu có). Tuy nhiên, do
tầm quan trọng của vấn đề, khi sử dụng những số liệu và dữ kiện để chứng minh
quan điểm của mình, có lẽ chúng ta cần thận trọng để tránh các bẫy rập tự tôn, duy
chủng tộc, duy dân tộc quá khích.
Tự tôn dân tộc - tự tôn chủng tộc.
Người Tàu rất tự tôn, không riêng ở cái tên Trung Quốc tự xưng, mà còn vì thói
quen hay tự nhận là "người đầu tiên" sáng chế ra nhiều thứ (dù có phần nào sự
thật). Tính tự tôn này đôi khi cũng thể hiện trong lãnh vực khoa học. Một số khoa
học gia Trung Quốc muốn chứng minh đất Trung Hoa là nơi phát sinh ra giống
dân Á châu, và văn minh tộc Hán là văn minh trung tâm thế giới. Họ cố tình che
dấu, giảm thiểu, hay vơ chung vào văn minh tộc Hán những nền văn minh rực rỡ
cổ xưa tìm thấy trên đất Trung Hoa nhưng không thuộc vùng ảnh hưởng Hán tộc.
Điển hình là trường hợp văn minh Sanxingdui phía bắc Thành Đô (Chengdu,
thuộc tỉnhTứ Xuyên), phía nam thượng lưu sông Dương tử. Năm 1986, một nhóm
thợ lò gạch tình cờ tìm được một hố tế lễ chứa đầy đồ đồng, vàng và ngọc thạch.
Khi đoàn khảo cổ Tứ Xuyên đến đó khai quật, họ tìm ra hố thứ hai. Tổng số đồ vật
trên 800 món, với nhiều thức tuyệt xảo bằng đồng, kích thước to, trong đó có
Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ danh tiếng, cũng cho rằng cư dân bản địa Đông
Dương vốn thiếu óc sáng tạo, ít khả năng tiến hoá và khó tiến bộ nếu không có sự
đóng góp của bên ngoài.
Nói thẳng ra, tất cả các nhà khảo cứu này cho rằng cư dân Đông phương cổ mọi
rợ, không văn minh bằng cư dân Tây phương cổ. Vô tình hay hữu ý, các nhà khoa
học thời đó đưa ra những lí lẽ biện minh cho chính sách thuộc địa mà kết luận đưa
ra là dân Tây phương (có bổn phận) đem ánh sáng văn minh đến cho những dân
tộc bán khai địa phương. Đó là tính tự cao chủng tộc của người da trắng.
Nhưng Đông Nam Á thời tiền sử có thật sự kém văn minh như người ta tưởng
không?
Ngày nay đa số khoa học gia công nhận rằng không thể áp dụng mô hình các giai
đoạn kĩ thuật ở Ấu Châu để định tuổi cho dụng cụ đá tại Đông Nam Á, và qua đó
định tuổi các nền văn hoá Đông Nam Á, là vùng có khí hậu và môi trường sống
hoàn toàn khác. Dụng cụ chặt đẽo choppers sở dĩ không thay đổi trong một thời
gian dài là vì người Đông Nam Á thời đó đã biết dùng tre, gỗ chế biến thành dụng
cụ cần thiết cho đời sống hằng ngàỵ. Nhưng người ta không tìm ra được các thứ
vật dụng này vì chúng đã bị tiêu huỷ trong môi trường Đông Nam Á nóng ẩm ; và
chính công cụ đá đã được sử dụng trong việc chế tạo tre, gỗ thành đồ dùng. Đó là
mô hinh gỗ / mộc , tức "lignic" model, hay bamboo-karst model. Người ta có thể
khẳng định như thế nhờ những phương pháp tiếp cận khảo cổ học mới sau này
(dựa vào kinh tế học, sinh thái học và xã hội học). Một trong các bằng chứng thực
tiễn là cuộc sống của bộ lạc nhỏ Tasaday trên đảo Mindanao (Phi luật Tân). Dân
bộ lạc này vẫn còn sống theo kinh tế săn bắt-hái lượm như người "thời đồ đá",
nhưng họ hầu như không có (vì không cần) công cụ làm bằng đá.
Dân tiền sử Đông Nam Á sống thiên về hái lượm cây, trái, đào củ và săn, bắt, bẫy
các loài thú nhỏ hơn là thú lớn như dân xứ lạnh Ấu châu (bò rừng, tuần lộc ), nên
không cần dùng khí giới lao, cung với lưỡi ngọn lao, mũi tên làm bằng đá đẽo. Họ
săn heo rừng, khỉ, nai, nhím, chim bằng cung nỏ với tên tre chuốc nhọn hay bằng
ống thổi (blow-pipe) với mũi tên (là) gân lá tẩm thuốc độc, như dân các bộ lạc
lợi dụng.
Sau Solheim, một số nhà khảo cổ học khác như Meacham ở Hong Kong, Higham
ở Tân Tây Lan, Pookajorn ở Thái Lan đều đồng ý là vùng Đông Nam Á, từ Thái
Lan xuống Indonesia qua bán đảo Đông Dương, là cái nôi của văn minh Nam Á
(Austroasiatic)- Nam Đảo (Austronesian). Và mới đây, Oppenheimer còn đi xa
hơn nữa, khi đưa ra thuyết rằng văn minh Đông Nam Á là cội nguồn của văn minh
phương tây, rằng khi cư dân thềm Sunda di tản tránh biển dâng, họ đã đến vùng
Lưỡng Hà - Trung Đông, mang theo kinh nghiện trồng trọt, làm đồ gồm và sự
tích Đại hồng thủy.
Bác sĩ Oppenheimer, nhà thám hiểm nhà nghiên cứu, người bạn các dân tộc Đông
Nam Á.
Oppenheimer tốt nghiệp bác sĩ Đại học Oxford bên Anh năm 1971. Năm 1972 ông
sang vùng Viễn Đông hành nghề tại nhiều bịnh viện trong vùng, mà độc đáo nhất
là khi ông làm "bác sĩ bay" (flying-doctor) ở Borneo. Ở vùng này gần hai mươi
năm, ông du hành và nghiên cứu về nhân học khắp Đông Nam Á lục địa (kể cả
Việt Nam) và các đảo Thái bình Dương. Ông không ngại nguy hiểm, lặn lội nơi
thâm sâu cùng cốc, tìm đến những bộ lạc còn giữ ngôn ngữ xưa hay cổ tích truyền
khẩu Trong sách nói trên có vài bức ảnh do tác giả chụp. Có một ảnh nhà sàn với
hàng chữ : nhà sàn thành phố không đất Sitankai (cất trên bải san hô ngầm) giữa
biển Sulu, tác giả chú thích rằng người tiếp viên trên tàu (ship's steward) ở góc
phải hình đã cứu tác giả và ý trung nhân của ông thoát khỏi tay lính Phi. Ông kể
giai thoại đó như sau:
Lần đó ông cùng ý trung nhân người Tàu đi du lịch, và gặp hai người Tây phương
tại nam Phi Luật Tân. Hai người này khuyên đôi tình nhân trẻ đi "fun trip" bằng
tàu trên vùng biển Sulu đầy đảo nhỏ phía nam Mindanao (Philippins)-bắc Borneo.
Họ nghe theo, đáp một tàu lớn chuyên chở hành khách địa phương lẫn hàng hoá
qua các hải đảo Sulu. Đến mỗi làng, tàu thả người xuống, và cho khuân lên những
bao hải sâm (sea cucumber) món hàng đắt tiền rất được các nhà hàng ăn ở Hong
Kong ưa chuộng. Tàu được một nhóm lính vũ trang đi theo bảo vệ chống hải tặc
cao nơi gia đình sống. Những trẻ aT đều thuộc gia đình miền núi cao chưa hề bị
sốt rét. Nhờ lấy mẩu máu này ở New Guinea đem về Anh phân tích gene mà ông
thành ngườI đầu tiên khám phá ra sự liên hệ giữa a-thalassaemia và sự phân bố
bịnh sốt rét trong vùng New Guinea ; kết quả này công bố trên báo The Lancet
năm 1984.
Ông đi đến kết luận là những người không bị sốt rét nhờ hưởng gene aT của ông
cha tổ tiên, vì chỉ những người có gene đột biến aT mới sống còn qua sự "tuyển
lựa tự nhiên" của bịnh sốt rét. Bịnh sốt rét là bịnh gây tử vong cao cho loài người:
ngày nay sốt rét vẫn làm chết người trên thế giới nhiều hơn các bịnh khác. Trong
bệnh này, các trùng Plasmodium vào người theo vết cắn muỗi Anopheles, vào gan
và hồng huyết cầu kí sinh để tiếp tục sinh sôi tăng trưởng. Oppenheimer khám phá
ra là trùng sốt rét Plasmodium falciparum không tấn công được hồng huyết cầu
aT, và trùng này bị chận không lan tràn được trong cơ thể người bị muỗi nhiễm
trùng cắn. Đây là một kết quả quan trọng, nhất là cho dân Đông Nam Á ( hay bị
sốt rét và bị "thiếu máu"-anemia- do thalassaemia), được công bố trên báo khoa
học hàng đầu thế giới (Nature) năm 1997 Những đợt đột biến đưa đến sự tuyển
chọn gene kháng sốt rét thay đổi tùy nơi, nên cùng là aT mà di tố đột biến ở Việt
Nam và ở New Guinea chẳng hạn, không giống nhau, gây ra hiện tượng "thiếu
máu" anemia nặng hay nhẹ tùy theo di tố truyền lại cho dân đó. Căn cứ theo bản
đồ những vùng có di tố "chống sốt rét" và nhiều dữ kiện văn hoá phong tục khác,
ông suy ra rằng dân Đông Nam Á đã di cư đến Trung Đông (dân Trung Đông cũng
hay bị thalassaemia) và lập văn minh cổ Ur và Ai cập.
Khi nghiên cứu về sốt rét, Oppenheimer để ý thấy vùng phân bố các nhóm dân
New Guinea có liên hệ đến huyền thoại-cổ tích : những bộ lạc nói tiếng khác nhau
nhưng có cùng cổ tích truyền khẩu thì có cùng di tố. Thế là ngoài nghiên cứu y
khoa, ông còn tìm hiểu sâu về dân Á châu, về cổ tích, tiền sử, ngôn ngữ, tập quán
của họ.
Từ những kiến thức đa dạng này, ông có một số ý niệm về sự hình thành của hai
nhóm dân chính Đông Nam Á, là dân nói tiếng Nam Á (Austroasian) và dân nói
tiếng Nam Đảo (Austronesian). Để tiếp tục công trình, ông làm giáo sư nhi khoa
xâm mình, chế tàu đi biển và Kulabob lái tàu đánh cá rất điêu luyện Một hôm đi
săn, Kulabob bắn lạc một mũi tên khắc chạm tinh vi. Lúc đi tìm mũi tên, Kulabob
bị chị dâu (vợ Manup) "dụ dỗ", quyến rũ. Cô này dấu mũi tên và nằn nì Kulabob
xâm một hình đẹp trên chỗ kín của mình. Kulabob không muốn nhưng cuối cùng
đã xiêu lòng chìu ý chị dâu. Trong một dạng chuyện kể, hai người đã ái ân với
nhau lúc đó. Khi người anh khám phá ra chuyện ngoại tình này, đi tìm giết em
mình. Hai anh em đánh nhau dữ dội bằng đủ cách, kể cả pháp thuật, nhưng bất
phân thắng bại. Cuối cùng để tránh huynh đệ tương tàn, Kulabob làm một chiếc
tàu to bỏ đi về hướng biển cả, chở theo người, cây, thú vật và đồ đạc, từ đó lập
thành các nhóm dân hải đảo Thái bình Dương.
Oppenheimer xem tích Kulabob này là cổ tích gốc của tất cả các dân liên hệ huyết
thống đến giống dân Nam Đảo, vi có rất nhiều dạng kể khác nhau trong vùng đảo.
Theo ông, chuyện cổ Cain/ Abel ở Cận Đông và Adonis/Attis/ Osiris ở Ai Cập
được ghi lại sau đó bắt nguồn từ tích Kulabob, cũng như truyền thuyết đại hồng
thủy ghi lại thành thiên trường ca Gilgamesh xứ Ur cổ xưa bắt nguồn từ một tích
gốc Nam Đảo và do thảm kịch nước biển dâng ngập đại lục thềm Sunda mà ra. Từ
các chuyện cổ và từ những chi tiết như dấu xâm mình, mắt xếch trên tượng Ur cổ,
Oppenheimer kết luận là nền văn minh Lưỡng Hà và Ai Cập đã bắt nguồn từ văn
hoá Nam Đảo nông nghiệp. Sự phân chia ngôi thứ xã hội, tổ chức chính trị, tín
ngưỡng, phù phép (magic) đều do những người sống trên thềm Sunda mang đến
Trung Đông bằng đường biển khi Sundaland bị nhận chìm dưới nước.
Thuyết về nguồn gốc xưa của văn minh Đông Nam Á và đường thiên di người
Nam Đảo nói chung rất "quyến rủ", có mạch lạc, giá trị, nhưng không thể khẳng
định vì chưa có những phương pháp định "tuổi" các truyền thuyết, cho phép xếp
chúng theo thứ tự trước sau, thêm vào đó những chứng minh về ảnh hưởng Nam
Đảo trên hai nền văn minh cổ sáng chói này theo tôi không đủ sức thuyết phục.
Bởi vì vùng Cận Đông là vùng có người hiện- đại H. sapiens sống từ rất lâu (-100
000 năm ). Những người ở đấy cũng lập nên làng xã từ gần 10 000 năm nay, từ
Turkey đến Israel, và từ lâu đã sống bằng nghề canh nông (lúa mạch, lúa mì), chăn
nuôi (dê, cừu, bò ). Cái nôi các giống lúa mạch, lúa mì, dê, cừu, bò. thuần dưỡng
Oppenheimer có thể có lí về điểm này, nhưng ông không hề nói dân Ần nói chung
có gốc gác ở Đông Nam Á. Nhóm dân rất cổ tại Ần Độ là Dravidians (hiện còn
người kế thừa ở nam Ần) gần với tổ tiên Phi châu, nhưng cũng đã lai với các
chủng đến sau. Chỉ có thổ dân các hòn đảo đông Ần Độ (Nicobar ) còn nhiều nét
của tổ tiên đến từ Phi châu là cổ hơn cả, vì họ ít gặp di dân khác để lai giống.
Chúng ta biết rằng càng gần gốc Phi châu, các di tố càng đa dạng. Genes của dân
Đông Nam Á đa dạng hơn genes những dân phía đông bắc Á châu, nghĩa là dân
Đông Nam Á gần tổ tiên Phi châu hơn Đông Bắc Á. Cần nói thêm là kết luận của
bài Chu & Su (xem sách tham khảo) được rút ra từ kết quả mới về phân tích genes
các giống dân thiểu số tại nam Trung Hoa (kết hợp với kết quả phân tích genes
khác như thổ dân Đài Loan v v ); genes "Đông Nam Á" là genes (một) người
Kampuchia, còn genes người Việt Nam không có trong những genes nghiên cứu !.
Trung Hoa đã đóng góp nhiều vào kết quả này qua chương trình "Chinese Human
Genome Diversity Project".
Kết luận tương tự thật ra đã được Ballinger rút ra ở di truyền học từ 1992 (xem
phần sách tham khảo). Ba mươi năm trước, Bình Nguyên Lộc cũng đề nghị là
người cổ Việt Nam (ông gọi là "Mã Lai đợt I, hay Lạc bộ Trãi") đã từ phía nam
tiến lên làm chủ phía bắc Trung Hoa, nhưng sau đó bị giống dân phía bắc (lai dân
Nhục Chi) đẩy lùi trở xuống. Kết quả phân tích genes của các nhóm Chu/ Su cho
biết nói chung dân Đông Nam Á gần "tổ" Phi châu, nhưng không đủ chi tiết để
cho biết những sự lai giống trước sau nào đã đưa đến các giống dân khác nhau
hiện nay. Tất cả các dân tộc trên thế giới ngày nay đều đã lai "giống" (ít) nhiều dù
tất cả đều cùng gốc tổ Phi Châu, vì người hiện- đại đã không ngừng thiên di từ lúc
sinh ra hơn trăm ngàn năm trước tại Phi Châu.
2- Có phải Người Hoà Bình tràn lan về phía nam (Indonesia ?) , lên hướng bắc
(Trung Hoa ?) và sang hướng tây (Thái Lan ?).
Văn hoá Hòa Bình (với giai đoạn muộn từ 7000 đến 12000 năm trước đây) được
3- Kĩ thuật làm đồ đồng thau (dụng cụ, vũ khí) của cư dân Đông sơn có trình độ
cao nhất nhì thế giới ?
Trình độ đúc đồng của cư dân Đông Sơn ( 700 năm trước công nguyên đến sau
công nguyên) quả rất cao, nhưng không thể nói là cao hơn trình độ thợ các nơi
khác, trong các nền văn minh có lâu trước Đông Sơn. Điển hình là nền văn minh
Sanxingdui nói trên, xưa hơn Đông Sơn đến mấy ngàn năm. Nền văn minh bắc
Trung Hoa thời Thương (thiên kỷ thứ hai trước công nguyên) đã làm ra hàng loạt
đỉnh đồng to như trống Đông Sơn với nhiều khắc chạm độc đáo. Còn đồ đồng tìm
thấy ở Thái Lan tuy không to bằng nhưng xưa hơn Đông Sơn khá nhiều (một ngàn
năm ) và cũng có sắc thái riêng. Đó là không kể đến những đồ đồng làm tại các đô
thị văn minh cổ ở Irak, vùng Cận Đông, Ai cập sớm hơn đồ đồng Đông Sơn rất
nhiều. Đồ đồng Đông Sơn có mặt trễ hơn đồ đồng của rất nhiều nơi khác, tôi tự
hỏi biết đâu cư dân Đông Sơn cũng đã có dịp học hỏi thêm kĩ thuật đến từ những
nơi gần Việt Nam. Kết quả khảo cổ cho thấy cư dân Phùng Nguyên chỉ mới bắt
đầu luyện đồng mà chưa biết đúc vật dụng. Đến thời Đồng Đậu trên dưới 3000
năm trước đây, đột nhiên cư dân sống ở đấy đúc được nhiều đồ kĩ thuật cao như
lưỡi giáo, mũi tên. Phải chăng có một (hay nhiều?) thời kì cư dân bản địa được dịp
tiếp xúc, gặp gỡ các kĩ thuật khác qua những sứ giả, thương khách? Hay một lí do
khác? (Tôi sẽ trở lại về thay đổi này ở phần sau) Nghĩa là thợ Đông Sơn vào
khoảng 2500 năm trước đã chứng minh khả năng sáng tạo kĩ thuật và mĩ thuật, khi
làm được một số lượng lớn trống to giá trị cao, dùng trong lãnh vực thương mại,
ngoại giao khắp cõi Đông Nam Á, nhưng khả năng nội tại này không loại trừ việc
kết hợp và ứng dụng các đặc tính nhân bản là hiếu học, óc tò mò, ý muốn cách tân.
4- "Đồ gốm Việt Nam xuất khẩu khắp Đông Nam Á đến tận Melanesia, trước khi
có ảnh hưởng của Ần Độ" ?.
Tôi e rằng có nhầm lẫn về điểu này: Việt Nam cổ xuất khẩu trống đồng chứ không
xuất khẩu đồ gốm. Đồ gốm thời Phùng Nguyên, trước Đông Sơn, có hoa văn độc
đáo, sau đó được dùng trang trí đồ đồng Đông Sơn.
Tôi cũng không tin rằng hai nền văn hoá Yangshao và Longshan (bắc Trung Hoa)
đến từ Hoà Bình như N. V. T đã viết. Vùng Bắc Trung Hoa hầu như không có dấu
vết văn hoá Hoà Bình trong nghiã "phức hợp kĩ thuật". Thật vậy, nền văn hoá
Yangshao (5000 năm trước) nổi tiếng với gốm vẽ hình màu đen trên nền gốm đỏ
là văn hóa gốc của tộc Hán ở Thiểm Tây (bắc Trung Hoa) vốn là những người
trồng kê, sống trong nhà thấp đào sâu dưới đất, và văn hoá Longshan (tỉnh Sơn
Đông) nổi tiếng về đồ gốm rất mỏng, màu đen bóng (đưa đến nền văn hoá triều
Thương), là những văn hoá đặc thù, hoàn toàn khác với văn hoá sống trong nhà
sàn, trồng lúa nước, ở Bắc Việt.
5- "Quê hương của kĩ thuật trồng lúa là ở quanh vùng Đông Nam Á" ?
Ngay ông Oppenheimer cũng không dám khẳng định như thế. Khi nói về vết tích
hạt lúa theo ông cổ nhất thế giới ở Thái Lan, Oppenheimer hai lần nhấn mạnh "nếu
phần định tuổi này được xác nhận là đúng". Thật vậy, nhà khảo cổ Thái
Pookajorn, người khám phá ra dấu vết lúa cổ trong gốm thời đồ đá mới, đã định
tuổi theo loại hình di vật tìm được trong các hang Sakai, Ban Kao vào giai đoạn
nối tiếp văn hoá loại Hoà Bình (tìm thấy trong lớp đất bên dưới), là khoảng 9260 -
7620 năm trước. Nhưng theo nhiều nhà khảo cổ, đa số di tích, di vật tìm thấy ở
Thái Lan, khi định tuổi lại thì thấy "trẻ" hơn nhiều so với tuổi định ban đầu.
Ngoài ra, so với Thái Lan, số chỗ có di tích lúa tìm thấy dọc theo nam sông Dương
tử không những nhiều hơn, mà còn rất xưa hơn. Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với
gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới, -13 000 năm, được một nhóm khảo cổ Mỹ
-Trung hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương tử (bắc tỉnh
Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này đã biết thử nghiệm các giống lúa và cách
trồng trong thời gian dài tiếp theo đó. Điều này đã được nhóm khảo cổ chứng
minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa ( phần thực vật hoá thạch, tồn tại nhờ
giàu chất silica) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin này đã được
đăng trên báo khoa học hàng đầu thế giới Science, năm 1998. Các nhà khoa học
ta là thầy dạy người Hán trồng lúa nước?
Theo tôi, diều này đúng. nếu ta chấp nhận rằng cư dân trồng lúa sống ở phía nam
Trường giang(thuộc nhóm Bách Việt, theo sử Tàu ) là tổ tiên của dân Việt Đông
Sơn hoặc là anh em ruột với tổ tiên người Việt Đông Sơn, mà vì lí do nào đó tổ
tiên này đã rời vùng nam Trường Giang về trụ tại Đông Sơn. Vì người Hán đã học
được nghề trồng lúa với dân nam Trường giang (Nam Trung Hoa) trước khi tiếp
xúc thẳng với người Việt cổ ở Đông Sơn vào những năm trước công nguyên. Và
các kết quả về di truyền lẫn hình dáng sọ cho thấy là các bộ tộc Nam Trường giang
khác với chủng gốc bắc Trung Hoa. Trong các dân đã "dạy" người Hán trồng lúa,
phải kể đến dân U Việt . Mà dân U Việt vùng Cối Kê lại là con cháu của cư dân
trồng lúa lâu đời tại Hemudu.
Ngoài ra, tuy người Việt Đông Sơn đã biết trồng lúa, nhưng di tích lúa tìm được ở
Việt Nam không xưa như di tích lúa ở Thái Lan, và không thể nào xưa hơn di tích
lúa vùng nam Trường giang. Di tích xưa nhất là những hạt gạo cháy thành than tìm
thấy trong văn hoá Đồng Đậu ở châu thổ sông Hồng, nằm trong trấu trộn với đất
làm đồ gốm, không quá 3500 năm trước. Do đó, tôi xem vùng nam Trường Giang
mới thật là quê hương đầu tiên của lúa, không như Oppenheimer, ông xem Thái
Lan là quê hương của lúa nhưng Oppenheimer (xin lập lại lần nữa ) cũng lưu ý là
thời điểm có lúa cổ ở Thái Lan cần được xác quyết.