Âm và Dương trong Âm nhạc truyền thống Khi nói đến âm dương, chúng tôi không nghĩ đến thuyết âm dương trong Kinh
dịch của Trung Hoa mà muốn đề cập về tư tưởng triết lý của dân tộc Việt Nam từ
ngàn xưa, thể hiện ngay trên chiếc trống đồng do tổ tiên chúng ta chế tạo vào thế
kỷ thứ 6, thứ 7 trước Công nguyên. Các nhà nghiên cứu đã nhận ra trên mặt chiếc
trống đồng có những hình ảnh mô tả sinh hoạt của người dân sống vào thời kỳ xa
xưa ấy, đồng thời có chạm khắc hình các con thú, đặc biệt là hươu và cá. Con
hươu tượng trưng cho núi, cá tượng trưng cho nước, vốn là hai yếu tố vô cùng
quan trọng đối với người Việt. Chúng ta vẫn dùng hai chữ giang sơn để chỉ đất
nước, điều này cho thấy núi với nước tuy hai mà một. Liên hệ đến lịch sử của dân
tộc, chúng ta thấy có huyền thoại con Rồng cháu Tiên, tượng trưng cho hai yếu tố
nước và núi. Hoặc truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh đề cập đến việc người xưa
bảo vệ đất nước chống thiên tai, trong đó núi và nước giúp chúng ta xác định rõ tư
duy và quan niệm sống của dân tộc cho rằng vũ trụ có được do sự phối hợp của hai
yếu tố âm và dương, tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau.
Lưỡng phân mà lưỡng hợp: đó chính là một trong những tư tưởng triết lý của Việt
Nam - như cố giáo sư Trần Quốc Vượng thường nói.
Quan điểm âm dương bàng bạc trong mọi sinh hoạt của đời sống người Việt, từ
cách ăn uống hàng ngày cho đến cách chữa bịnh trong y học. Ở đây chỉ xin nêu ra
một số nhận xét trong lãnh vực âm nhạc để làm sáng tỏ tư tưởng lưỡng phân,
lưỡng hợp đó.
Đi từ cụ thể đến trừu tượng, chúng ta thử xem trong nhạc khí, trong bài bản và
trong cách biểu diễn, quan điểm âm dương được thể hiện như thế nào trong âm
nhạc truyền thống Việt Nam.
Nhạc khí
Trước hết, hãy xem qua bộ môn Ca trù. Một nhóm Ca trù thường có ba người,
người ngồi giữa là đào nương vừa hát vừa nhịp phách. Phách là một thanh tre hay
một miếng gỗ được gõ bằng hai cái dùi, một dùi tròn có chuôi nhọn và một dùi chẻ
làm hai, tượng trưng cho dương và âm. Tiếng chuyên môn trong giới Ca trù
Nhớ nàng như bút nhớ nghiên
Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông
Hình dáng của bút và nghiên ở đây tượng trưng cho nam và nữ, như thế trong câu
đó đã phảng phất dương và âm, cũng như thuyền là dương mà sông là âm.
Trong các bài bản Nam xuân, Nam ai của Ca nhạc tài tử thì có những lớp gọi là
lớp trống hay lớp mái cũng hàm ý nhắc đến quan điểm âm dương.
Từ quan điểm âm dương nảy sanh ra những bài bản dài ngắn khác nhau như lưu
thủy trường và lưu thủy đoản, những bản trước và sau mang tên ngũ đối thượng,
ngũ đối hạ (thượng và hạ đồng nghĩa với trên và dưới), hoặc một bản mau, một
bản chậm như phú lục và phú lục chậm.
Cách biểu diễn
Trong truyền thống Ca trù, người ca phải là đào nương, ả đào, người đờn phải là
nam gọi là kép, rất hiếm khi có phụ nữ đờn đáy cho đào nương ca.
Trong loại hát Đối ca nam nữ thì - như tên đã gọi - người hát hai bên phải là khác
phái. Trong khi đối ý, nếu bài hát xướng là Lên non hay Lên rừng thì bài hát họa
phải là Xuống sông hay Xuống bể và quan điểm lên, xuống cũng từ âm, dương mà
ra.
Trong truyền thống Quan họ, liền anh luôn luôn cầm cây dù còn liền chị thì tay
cầm chiếc nón quai thao, một vật nhọn một vật tròn cũng là thể hiện quan điểm âm
dương.
Trong loại múa dân gian, khi cầu cho được mùa - theo chuyên gia Lâm Tô Lộc -
phía nam phải cầm cây tre nhọn còn bên nữ thì cầm mo cau. Cả hai vật này đều
mang hình dáng ẩn dụ tượng trưng cho nam và nữ.
Trong Ca nhạc tài tử, khi hòa đờn thì luôn luôn lựa tiếng thổ (trầm và đục) để hòa
với tiếng kim (cao và trong) cũng từ quan điểm âm dương mà ra.
* * *
Tóm lại, nếu nhìn những sự kiện trong âm nhạc với đôi mắt và tâm hồn thấm
nhuần triết lý âm dương trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam nói riêng và của