HỌC VIỆN ÂM NHẠC HUẾ
KHOA CƠ BẢN
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP NCKH
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN
KHOA ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG HỌC VIỆN
ÂM NHẠC HUẾ SAU KHI RA TRƯỜNG.
Sinh viên thực hiện: Đinh Học Hải Nam
Lớp ĐH3 – CN: Đàn Bầu
Huế, ngày 10 tháng 11 năm 2014
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Tình hình nghiên cứu 1
1.3 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
1.5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
1.6 Phạm vi nghiên cứu 2
1.7 Giả thuyết khoa học 2
1.8 Phương pháp nghiên cứu 3
1.9 Đóng góp của công trình 3
CHƯƠNG 2: PHẦN NỘI DUNG 4
2.1 Vài nét về Khoa Âm nhạc Truyền thống – Học viện Âm nhạc Huế 4
2.2 Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Âm nhạc Truyền thống sau khi ra trường 5
2.3 Nguyên nhân gây ra sự khó khăn về vấn đề việc làm của sinh viên sau khi ra trường 9
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP, KẾT LUẬN 13
3.1 Biện pháp để giải quyết vấn đề việc làm của sinh viên sau khi ra trường 13
3.2 Kết luận 14
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
- Đưa ra những đánh giá và đề xuất ý kiến.
- Đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện vấn đề việc làm sau
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Có cái nhìn tổng thể chính xác hơn về tình trạng việc làm của sinh
viên Khoa Âm nhạc Truyền thống sau khi ra trường.
- Khảo sát, điều tra đánh giá thực trạng việc làm của sinh viên sau khi
ra trường( những khó khăn, bất cập…) từ đó giúp cho sinh viên hiểu và định
hướng chuẩn bị nghề sau này.
- Giúp cho xã hội, nhà trường biết rõ thực trạng việc làm của sinh viên
khoa nói riêng và sinh viên nhà trường nói chung. Đề xuất các biện pháp để
sinh viên nói riêng và nhà trường, xã hội nói chung có một cái nhìn khách
quan cụ thể của vấn đề việc làm.
1.5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
- Khách thể nghiên cứu: Trường Học viện Âm nhạc Huế, Khoa Âm
nhạc Truyền thống.
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Âm
nhạc Truyền thống – Học viện Âm nhạc Huế sau khi ra trường.
- Đối tượng khảo sát: Sinh viên đã tốt nghiệp ra trường các khóa trước.
1.6 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu tình thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt
nghiệp các khóa trước của Khoa Âm nhạc Truyền thống – Học viện Âm nhạc Huế.
1.7 Giả thuyết khoa học.
Nếu vấn đề việc làm của sinh viên sau khi ra trường được làm rõ thì sẽ
giúp rất nhiều sinh viên có được định hướng tốt, rèn luyện tốt chuyên môn, tư
cách đạo đức. Bên cạnh đó còn giúp cho nhà trường, xã hội có cách nhìn nhận
2
lại vấn đề nằm nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên co đủ tài đủ đức, để sau
khi ra trường có một công việc đúng chuyên ngành và nhu cầu của xã hội.
1.8 Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận, phân tích, tổng hợp,
tính là 70 sinh viên. Học vị các giảng viên khoa thống kê như sau: Học vị tiến
sỹ chưa có(0%), thạc sĩ 5 người( 31,25%), cao học 8 người( 50,0%), cử nhân
3 người( 18,75%).
Được trình bày trên biểu đồ như sau:
4
2.2 Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Âm nhạc Truyền thống sau
khi ra trường.
Kết quả khảo sát thực tế một số sinh viên Khoa Âm nhạc Truyền thống
sau tốt nghiệp. Số người được khảo sát: 32 người.
• 53,1% đang có việc làm (17 người).
• 46,9% chưa có việc làm ( 15 người).
Trong số người có việc làm có:
• Có 58,8% ( 10 người) làm đúng chuyên ngành.
• Có 41,2% ( 7 người) làm trái chuyên ngành.
• Có 76,5% ( 13 người) vừa làm vừa học cao học.
• Có 23,5% ( 4 người) không tiếp tục học cao học.
Trong số những người chưa có việc làm có:
• Có 26,7% ( 4 người) tiếp tục học cao học.
• Có 73,3% ( 11 người) không tiếp tục học cao học.
Khảo sát bằng phương thức lập câu hỏi: gồm 6 câu.
+ Đối với câu hỏi: Sau khi ra trường anh ( chị) có nhận được sự giúp
đỡ giới thiệu việc làm không?
Kết quả trên cho thấy: phần lớn các sinh viên khi ra trường phải dựa
vào năng lực bản thân dể tìm kiếm việc làm, phải tự thân vận động (42,1%),
5
qua sự giúp đỡ của bạn bè (31,6%), điều này nói lên mối quan hệ tốt với bạn
bè và có nhiều bạn bè cũng giúp rất nhiều cho việc tìm kiếm việc làm của bản
thân, còn về sự giúp đỡ của gia đình khá thấp cũng vì đa phần sinh viên điều
xuất thân từ gia đình nông thôn, đời sống còn nhiều khó khăn.
+ Tiếp theo với câu hỏi: Sau khi ra trường Anh, (Chị) có tìm ngay được
Qua bảng trên cho ta thấy mức lương ảnh hưởng đến tâm lý tìm việc
của sinh viên. Với trình độ đại học của mình làm cho sinh viên có xu hướng
chọn ngành có mức lương cao phù hợp với khả năng và trình độ. Mà ngành
Âm nhạc có mức lương đối với sinh viên ra trường không cao, chỉ dưới 1.5
triệu chiếm 15.8%, lại chưa được vào biên chế. Chính vì thế, phần lớn họ làm
trái nghề với hy vọng mức lương cao: 1.5 đến 2.5 triệu chiếm 52.6% đáp ứng
nhu cầu bản thân.
8
Có ý kiến cho rằng: “Phần đông sinh viên ra trường làm trái ngành
nghề” . Anh (Chị ) có ý kiến gì?
Qua khảo sát trên cho thấy, phần đông sinh viên đồng ý với nhận định
trên. Điều này cho thấy, thực trạng sinh viên ra trường làm trái ngành nghề
đang là vấn đề bức xúc và cần được sự quan tâm, giải quyết từ phía khoa, nhà
trường, xã hội và chính bản thân mỗi sinh viên.
* Nhận xét
Qua khảo sát thực tế, cho thấy phần lớn sinh viên ra trường khó tìm
kiếm được việc làm ngay, hầu hết tìm được việc làm nhưng trái ngành nghề
đào tạo, lương tương đối thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt chung,
đặc biệt đối với những người làm việc ở thành phố. Sinh viên ra trường chủ
yếu phải tự tìm việc làm, sự giúp đỡ từ phía nhà trường còn hạn chế. Những
kiến thức được học chưa được ứng dụng nhiều vào công việc nhưng nó là nền
tảng cho sinh viên thực hiện công việc một cách dễ dàng hơn.
Từ việc phân tích những thực trạng trên cho chúng ta thấy nhiều
nguyên nhân gây khó khăn cho sinh viên khi tìm kiếm việc làm, đặc biệt là
việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo.
2.3 Nguyên nhân gây ra sự khó khăn về vấn đề việc làm của sinh viên sau
khi ra trường.
9
Đất nước ta đang phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
do đó khoa học kĩ thuật đang được đầu tư phát triển mạnh đặc biệt là các ngành
bạn trẻ mất điểm trước nhà tuyển dụng. Không tự lượng sức mình, tham vọng
quá cao cũng là những sai lầm mà ứng viên trẻ thường mắc phải.
Nguyên nhân cuối cùng là sinh viên không biết cách nói về mình. Một
lợi thế của sinh viên là họ ham học hỏi, có tinh thần cầu tiến và lĩnh hội nhanh
được công việc được giao. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm cũng là
những yếu tố mà doanh nghiệp hiện nay đang rất cần trong quá trình cạnh
tranh và hội nhập. Ngoài ra, yếu tố sức khỏe, chấp nhận đi xa, cũng như dễ
hòa nhập đã trở thành điểm mạnh nổi trội ở những người trẻ tuổi. Vì vậy, sinh
viên nên tận dụng và phát huy tối đa những thế mạnh của mình đẻ nâng cao vị
thế cạnh tranh trong tìm việc.
* Nguyên nhân từ phía nhà trường
Môi trường học đại học luôn tạo cho người học tính chủ động, sáng tạo,
luôn tìm tòi phát hiện cái mới, tạo ra công trình cho xã hội. Chất lượng giáo
dục đào tạo của nhà trường chưa thích ứng nhu cầu học tập của sinh viên,
giáo trình giảng dạy chưa được dồng bộ hóa. Có rất nhiều câu hỏi luôn được
đặt ra mà trả lời thì quá mơ hồ. Bên cạnh đó nội dung học chưa đi sâu vào
thực tế, việc phân bố thời gian học, tiết học chưa khoa học, tình trạng nhồi
nhét kiến thức nhiều dẫn đến sự tiếp thu của sinh viên bị hạn chế. Một nguyên
nhân khác là trong quá trình học nhiều giáo viên còn nặng tính lý thuyết yếu
về thực hành, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ. Việc quan tâm đến số
lượng hơn chất lượng, không quan tâm đến việc tiếp thu của sinh viên. Sự liên
kết của nhà trường, khoa với các tổ chức xã hội, các nhà tuyển dụng còn hạn
chế. Phải chăng đó là những bức xúc cần được quan tâm, giải quyết.
* Nguyên nhân từ phía nhà tuyển dụng
11
Đòi hỏi bằng cấp, đáp ứng mọi yêu cầu từ phía nhà tuyển dụng đưa ra,
và trên thực tế thì sinh viên ra trường chưa có việc làm phần lớn không làm
đúng chuyên môn. Nhà tuyển dụng đòi hỏi trình độ học vấn, kinh nghiệm
nghề nghiệp. Bên cạnh đó, tin học và ngoại ngữ luôn luôn đi kèm. Do sinh
viên chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng, một phần thất bại
Để thành công ở bất kỳ vị trí nào, bạn cần có kỹ năng, kiến thức, nhiệt
huyết, lòng đam mê và làm việc có mục đích ngoài những kỹ năng chuyên môn,
sinh viên ra trường cần có kỹ năng quản lý, có niềm tin với công việc mình làm,
bình tĩnh và sử dụng giao tiếp bằng mắt là yếu tố quyết định thành công.
Việc học thêm tin học và ngoại ngữ rất quan trọng đối với công việc,
tạo điều kiện tốt cho sinh viên xin việc làm. Sinh viên không nên có tư tưởng
học đối phó, học cho có bằng mà phải biết học để áp dụng kiến thức đó vào
thực tế, tìm hiểu, phát triển thêm phần lý thuyết, thực hành.
Bản thân sinh viên phải tạo cho mình sự hưng phấn, thích thú, cần phải
học thêm một số chuyên ngành khác để hỗ trợ cho công việc mình làm và tìm
13
kiếm một công việc ổn định trong tương lai. Sinh viên cần phải đặt cho mình
mục tiêu và nhiệm vụ. Phải trả lời những câu hỏi học để làm gì? Học như thế
nào? Bên cạnh đó cần tạo mối quan hệ với bạn bè, với doanh nghiệp, nhà
tuyển dụng để học hỏi kinh nghiệm từ họ và có hướng đi cho tương lai.
* Về phía nhà trường
Để tạo điều kiện cho sinh viên sau khi ra trường tìm kiếm một việc làm
một cách dễ đàng hơn thì việc đào tạo sinh viên cần đi sâu vào thực hành, chỉ
có như thế, sau khi ra trường sinh viên sẽ bắt nhịp được ngay với công sở,
nắm bắt và vận dụng được công việc.
Có chương trình môn học thiết thực và chuyên sâu hơn về chuyên ngành
đào tạo. Tìm hiểu thực tế việc làm sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường.
Tạo cho sinh viên có nhiều cơ hội để giao lưu, làm việc với các công
ty, doanh nghiệp. Nhà trường cần tổ chức chó inh viên những buổi giao lưu,
gặp gỡ giữa sinh viên các khoa, các khóa để học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, để
rèn luyện thêm khả năng giao tiếp.
* Về phía xã hội
Nhà tuyển dụng là cầu nối giữa sinh viên với cơ sở sử dụng lao động
kết hợp với các công ty trong quá trình tuyển dụng, là nơi cung cấp thông tin,
đòa tạo và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giúp sinh viên trong quá trình tìm