MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
***
1
LỜI MỞ ĐẦU
***
1, Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa cùng với sự đi lên của khoa học kỹ
thuật, sự phát triển của mỗi quốc gia không còn phụ thuộc nhiều vào nguồn
tài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn đầu tư vì tài nguyên thiên nhiên đang
dần cạn kiệt, còn nguồn lực tài chính cũng là có hạn. Chính vì thế, nguồn
nhân lực đang trở thành một trong những yếu tố then chốt quyết định tới sự
tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Hiện tại,Việt
Nam có hơn 46 triệu lao động, một lực lượng khá hùng hậu và đông đảo. Vấn
đề luôn luôn được quan tâm là giải quyết vấn đề việc làm cho 46 triệu lao
động như thế nào? Thực tế hiện nay chỉ ra rằng đối tượng sinh viên – lực
lượng lao động đã qua đào tạo lại rất khó xin được việc sau khi ra trường
trong khi đó bên phía doanh nghiệp, nhu cầu về lao động cũng rất cấp thiết
nhưng lại không thể tuyển dụng được đúng vị trí mà mình mong muốn. Đây
quả thực là một vấn đề cấp thiết cần được giải quyết nhanh chóng, kịp thời để
nâng cao chất lượng nguồn lao động cho đất nước trong giai đoạn phát triển
hiện nay, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO.
Xuất phát từ thực trạng trên mà em lựa chọn đề tài: ‘’ Tiêu chí ưu tiên
khi lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh doanh, trường
ĐH Kinh tế Quốc Dân sau khi ra trường’’ với mong muốn có thể góp một
phần nào đó vào việc giải quyết vấn đề việc làm cho sinh viên hiện nay.
2, Tổng quan về nghiên cứu:
Vấn đề việc làm, đặc biệt là việc làm cho sinh viên hiện nay đang là một
vấn đề được quan tâm ngày càng sâu rộng bởi lẽ nó là yếu tố có ảnh hưởng
trực tiếp tới chất lượng đào tạo Đại học nói riêng và chất lượng của cả nền
giáo dục Việt Nam nói chung mà giáo dục chính là quốc sách hàng đầu, là
năm 2009. Bài viết có đề cập tới vấn đề cần gắn kết nhà trường, doanh
nghiệp và sinh viên với nhau để nhằm giải quyết một vấn đề, đó là vấn đề
việc làm sau khi ra trường cho sinh viên. Bài viết còn chỉ rõ: “ …Theo số
liệu khảo sát của dự án giáo dục đại học về việc làm cho sinh viên sau khi
3
tốt nghiệp thì trong khoảng 200 000 sinh viên ra trường hàng năm chỉ có 30
% đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng, 45 – 62 % sinh viên tìm được
việc sau khi tốt nghiệp trong đó chỉ có 30 % là làm đúng ngành nghề đào
tạo… Bên cạnh số sinh viên tốt nghiệp hàng năm không tìm kiếm được
việc làm ngày càng tăng lên thì số sinh viên có việc làm cũng không đáp
ứng được yêu cầu về chất lượng của các nhà tuyển dụng. Sinh viên các
trường đại học sau khi được tuyển dụng vào các doanh nghiệp thường phải
được tiếp tục đào tạo 2 đến 3 năm nữa mới có thể đáp ứng được nhu cầu sử
dụng của doanh nghiệp, điều này gây lãng phí rất lớn về thời gian và tiền
bạc của doanh nghiệp. Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới, khoảng 50
% công ty may mặc, hóa chất đánh giá lao động được đào tạo không đáp
ứng được yêu cầu của mình. Khoảng 60 % lao động trẻ tốt nghiệp từ các
trường dạy nghề và trường cao đẳng cần được đào tạo lại ngay sau khi
được tuyển dụng. Một số doanh nghiệp phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1
năm cho khoảng 80 – 90 % cho những sinh viên tốt nghiệp vừa được tuyển
dụng…’’.
3, Gần đây nhất là hội thảo quốc gia: “Xây dựng và hoàn thiện chương trình
đào tạo cử nhân Quản trị kinh doanh (QTKD) ở Việt Nam” được tổ chức
tại Trường ĐH Kinh tế quốc dân ngày 12/10/2011. Tại hội thảo này, một
vấn đề bức thiết đã được đặt ra đó là:’’Tại sao tốt nghiệp ‘’bằng đỏ’’ vẫn
trượt tuyển dụng’’. Phân tích về thực trạng nhân lực ngành QTKD hiện nay
của Việt Nam, TS. Đoàn Hồng Lê, Cục Hải quan TP Đà Nẵng, cho biết:
“Sản phẩm đào tạo QTKD vẫn còn một khoảng cách xa so với nhu cầu
doanh nghiệp. Tình trạng thiếu hụt nhân lực trình độ cao, có kỹ năng quản
trị ngày càng trầm trọng, nhất là các vị trí chủ chốt trong công ty. Đặc biệt,
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu chính của nghiên cứu là thu thập các thông tin cụ thể và sát
thực về xu hướng lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh
doanh, trường Đại học Kinh tế Quốc Dân sau khi tốt nghiệp nhằm giải quyết
câu hỏi nghiên cứu: Số lượng, tỷ lệ sinh viên lựa chọn các ngành nghề là bao
nhiêu? Sinh viên lựa chọn việc làm dựa vào các yếu tố nào, họ ưu tiên yếu tố
nào khi đưa ra lựa chọn việc làm cho mình. Cuối cùng là suy nghĩ của cá nhân
5
sinh viên về thực trạng thất nghiệp và làm trái ngành, trái nghề của sinh viên
sau khi ra trường cũng như các gợi ý để giải quyết vấn đề trên. Từ đó, góp
phần tìm ra được nguyên nhân và đưa ra được các giải pháp khả quan để đề
xuất lên phía nhà trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao được chất lượng
đầu ra và giúp sinh viên có được việc làm ổn định sau khi ra trường.
4. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu: Khoa Quản trị kinh doanh, trường Đại học Kinh
tế Quốc Dân.
Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên khóa 51 của 3 chuyên ngành thuộc
Khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, không theo tỷ lệ
nam/nữ.
Loại hình nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả.
Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp cả định tính và định lượng.
- Phương pháp định tính: Thu thập các loại dữ liệu thứ cấp về vấn đề
việc làm của sinh viên nói chung và sinh viên Kinh tế nói riêng.
- Phương pháp định lượng: Tiến hành điều tra tất cả các sinh viên tới
từ 3 chuyên ngành QTKD Công nghiệp & Xây dựng, QTKD Tổng hợp và
QT Chất lượng của khoa Quản trị kinh doanh bằng phiếu điều tra có cấu trúc.
Tổng số phiếu phát ra là 365 phiếu, số phiếu thu về là 225 phiếu và số phiếu
cuối cùng thu được sau khi đã làm sạch là 186 phiếu, đạt tỷ lệ gần 51 %. Kết
quả nghiên cứu được xử lý và phân tích trên Excel.
Thời gian nghiên cứu: 1 tháng ( từ 10/3 đến 10/4/2012).
giảm xuống 4,3 điểm phần trăm do sự gia tăng tỷ trọng lao động làm công ăn
lương (2,9 điểm phần trăm) và gia tăng lao động tự làm (8,2 điểm phần trăm).
Tuy nhiên, sự gia tăng tỷ trọng lao động gia đình không được trả công (4,0
điểm phần trăm) trong cùng kỳ đi ngược lại xu hướng giảm của nhóm việc
làm dễ bị tổn thương.
Việt Nam có tỷ số việc làm trên dân số tương đối cao, với gần 75% dân
số từ 15 tuổi trở lên. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bất ổn của khủng hoảng tài
chính toàn cầu, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam đã giảm trong
giai đoạn từ 2007 đến 2009. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng đối với
nam giới và nữ giới trong độ tuổi 15 – 19 (từ 37,1% năm 2007 lên 43,8% năm
2009) cho thấy rằng đã có một lượng lớn thanh thiếu niên rời bỏ nhà trường
để tìm việc kiếm sống và hỗ trợ gia đình.
Ngành chiếm nhiều lao động nhất ở Việt Nam là các ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, với gần 23 triệu lao động trong năm 2008. Số
liệu trên cho thấy sự chuyển đổi cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam từ
những việc làm trong ngành nông nghiệp có năng suất lao động thấp, đòi hỏi
8
nhiều lao động sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao
hơn, được đầu tư công nghệ và tài chính nhiều hơn. Trong hầu hết các dự báo,
việc làm trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có chiều hướng
giảm và sẽ ở mức 21,1 triệu lao động vào năm 2020. Người lao động có trình
độ và kỹ năng cao hơn sẽ là chất xúc tác cho quá trình chuyển đổi này cũng
như sự tăng trưởng thành công của Việt Nam trong vai trò là quốc gia có thu
nhập trung bình.
Xu hướng của thị trường lao động trong giai đoạn 2010-2015
Lực lượng lao động của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng từ năm 2010 tới năm
2015. Xét về số lượng, Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những nước có
mức tăng lực lượng cao nhất trong khu vực ASEAN, chỉ sau Indonesia và
Philippines. Điều này vẫn sẽ tạo ra sức ép đáng kể đối với nền kinh tế để bảo
đảm việc làm đầy đủ.
Nội năm 2009 có chỉ rõ:’’…Theo số liệu khảo sát của dự án giáo dục đại học
về việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp thì trong khoảng 200 000 sinh
viên ra trường hàng năm chỉ có 30 % đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển
dụng, 45 – 62 % sinh viên tìm được việc sau khi tốt nghiệp trong đó chỉ có 30
% là làm đúng ngành nghề đào tạo… Bên cạnh số sinh viên tốt nghiệp hàng
năm không tìm kiếm được việc làm ngày càng tăng lên thì số sinh viên có
việc làm cũng không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của các nhà tuyển
dụng. Sinh viên các trường đại học sau khi được tuyển dụng vào các doanh
nghiệp thường phải được tiếp tục đào tạo 2 đến 3 năm nữa mới có thể đáp ứng
được nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp, điều này gây lãng phí rất lớn về thời
gian và tiền bạc của doanh nghiệp’’.
Thực tế cho thấy rằng, vẫn có trường hợp người lao động thất nghiệp
mà trình độ của họ về chuyên môn khá cao. Số liệu năm 2003 cho thấy:
những người tốt nghiệp đào tạo nghề lại dễ dàng tìm việc làm hơn là những
người có trình độ cao hơn: 1,39% người lao động thất nghiệp với trình độ đào
tạo nghề, 2,72% người thất nghiệp đã qua đào tạo chuyên nghiệp, 3,41% lao
động thất nghiệp trình độ cao đẳng và số người thất nghiệp có trình độ qua
đào tạo đại học là 3,61%. Một nghịch lí là trình độ càng cao thì tỉ lệ thất
10
nghiệp cũng nhảy vọt theo. Chính sự mâu thuẫn ấy lại gây nên sự hoang
mang, bày ra một thực tế khắc nghiệt cho việc lựa chọn nghề nghiệp của giới
trẻ hiện nay. Mục tiêu là phải tìm đươc việc làm sau khi đã qua đào tạo và chỉ
tiêu đó sẽ được giải quyết như thế nào, và giới trẻ sẽ căn cứ vào cái gì để mà
lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của mình?
Hơn thế nữa, hiện nay, về vấn đề việc làm của sinh viên sau khi tốt
nghiệp, về phía nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp thường chỉ tuyển dụng sinh
viên mới ra trường cho các vị trí ở cấp trung bình như vị trí thư ký hoặc các
công việc yêu cầu bậc nghề từ thấp đến trung bình, rất ít doanh nghiệp thuê
lao động trẻ vào vị trí quản lý. Hơn một nửa số doanh nghiệp cho biết, họ
không được đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng của cán bộ quản lý,
nhanh chóng, kịp thời vì nó không chỉ gây nên gánh nặng cho nền kinh tế mà
cho cả xã hội do các tệ nạn xã hội gia tăng theo tỷ lệ thất nghiệp.
12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XU HƯỚNG LỰA CHỌN VIỆC LÀM
CỦA SINH VIÊN KHÓA 51 KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN SAU KHI RA TRƯỜNG
***
2.1. Tổng quan về cuộc điều tra
Nội dung của đề tài NCKH này là về vấn đề xu hướng lựa chọn việc
làm của sinh viên sau khi ra trường, để vấn đề được xem xét toàn diện thì cần
phải tiến hành điều tra và phỏng vấn ở cả ba đối tượng là: nhà trường, doanh
nghiệp và sinh viên. Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian và nguồn lực không
cho phép nên chúng tôi xin phép được thực hiện điều tra với đối tượng thứ ba
là sinh viên.
Chúng tôi đã tiến hành điều tra trong phạm vi là khoa Quản trị kinh
doanh, trường đại học Kinh tế Quốc Dân. Đối tượng điều tra là sinh viên khóa
51 của 7 lớp chuyên ngành thuộc khoa Quản trị kinh doanh, trường ĐH Kinh
tế Quốc Dân. Thời gian thực hiện là trong vòng 1 tháng từ ngày 10/03/2012
đến ngày 10/04/2012. Do tổng thể không quá lớn và không mất nhiều thời
gian để tiến hành phát phiếu điều tra nên chúng tôi quyết định tiến hành điều
tra trên cả tổng thể, tổng số phiếu phát ra là 365 phiếu tương ứng với số lượng
sinh viên khóa 51 đến từ 7 lớp chuyên ngành (QTKD CN & XD 51
A,B,C;QTKD TH 51 A,B,C;QTCL51). Số phiếu thu về là 225 phiếu, sau khi
làm sạch thì tổng số phiếu cuối cùng thu được là 186 phiếu, chiếm xấp xỉ 51
% tổng số phiếu phát ra.
Các nội dung được khảo sát trong phiếu điều tra được chia làm hai phần:
- Xu hướng lựa chọn việc làm của sinh viên sau khi ra trường : yếu tố
và tiêu chí lựa chọn việc làm sau khi ra trường của sinh viên, lý do họ lựa
chọn công việc đó, yếu tố nào là yếu tố quyết định tới việc lựa chọn của họ.
sức hút rất lớn với hầu hết sinh viên lựa chọn. Điều này cũng xuất phát từ sự
phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay, Việt Nam chính thức gia nhập
WTO từ năm 2007, từ đó tới nay, đi kèm với việc nền kinh tế hội nhập với
nền kinh tế thế giới là việc đầu tư vào Việt Nam tăng cao và nhiều doanh
nghiệp được thành lập. Mỗi doanh nghiệp đó lại rất cần những đội ngũ quản
lý được đào tạo một cách bài bản và chuyên nghiệp. Chính vì vậy, nhu cầu về
nhân lực quản lý tăng cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó, tỷ lệ sinh viên ngẫu nhiên
lựa chọn ngành Quản trị kinh doanh cũng chiếm tỷ lệ khá cao 26,9 %, xấp xỉ
tỷ lệ sinh viên chọn ngành do đam mê, sở thích (32,3%) và định hướng từ
phía gia đình (22,6%). Lý do dẫn tới tình trạng này có thể là từ phía sinh viên
chưa có sự hiểu biết về ngành Quản trị kinh doanh hoặc chưa có định hướng
nghề nghiệp rõ ràng từ lúc đăng ký hồ sơ thi đại học. Vì vậy, cần có các buổi
định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà
trường Trung học phổ thông.
Thứ hai, về dự định sau khi ra trường của sinh viên, trong số 186
sinh viên đã điều tra thì có 104 bạn ( 55,9%) có xu hướng tìm một công việc
ổn định hoặc vừa học vừa làm sau khi ra trường. 31, 2 % số các bạn được hỏi
sẽ có ý định học lên các học vị cao hơn hoặc học thêm văn bằng hai trước khi
đi làm, có tới 10,8% các bạn trả lời rằng chưa có ý định và định hướng gì sau
khi ra trường và chỉ có 2,2 % còn lại có dự định khác như du học. Vậy lý do
gì khiến cho 82 bạn còn lại chưa có ý định làm việc ngay sau khi ra trường ?
Tại sao 31, 2% các bạn muốn học lên các học vị cao hơn hoặc học thêm văn
bằng hai và 2,2 % đi du học? Để lý giải cho điều này có thể vì hai lý do. Lý
do đầu tiên xuất phát từ phía chủ quan của sinh viên, có thể do sinh viên
muốn có mức lương cao hơn sau khi ra trường, muốn có thêm hiểu biết từ các
ngành khác để có thể có cơ hội việc làm nhiều hơn. Bên cạnh đó, có thể do
trong thời gian sinh viên học tập, gia đình đã có những định hướng khác dành
15
cho sinh viên và lý do khách quan nữa đó là do xu hướng lựa chọn nghề
nghiệp dựa theo các ngành đang ‘’hot’’ của nền kinh tế như: Tài chính – Ngân
giới, Việt Nam mở rộng kinh doanh, thương mại ra phạm vi quốc tế, các
doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều, mức
lương và chế độ đãi ngộ ngày càng được nâng cao nên rất thu hút được lao
động có trình độ như sinh viên ứng tuyển vào.
17
Biểu đồ 4: Loại hình doanh nghiệp mà sinh viên khóa 51, khoa QTKD
lựa chọn làm việc sau khi ra trường
Về các yếu tố thuộc về công việc như : mức lương khởi điểm, địa
điểm làm việc, vị trí công việc,… mà sinh viên lựa chọn sẽ được thể hiện ở 3
biểu dưới đây:
Biểu đồ 5: Vị trí công việc mà sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh doanh
mong muốn sau 5 năm làm việc
18
Biểu đồ 6: Mức lương khởi điểm mà sinh viên khóa 51 khoa
Quản trị kinh doanh mong muốn sau khi ra trường.
Biểu đồ 7: Địa điểm làm việc mong muốn của sinh viên khóa 51 khoa
Quản trị kinh doanh
Đầu tiên, về vị trí công việc mong muốn sau 5 năm làm việc, chiếm
đa số trong số các lựa chọn đó là các vị trí của quản trị viên cấp cao và quản
trị viên cấp trung ( 33,6 % và 51,4 %), số còn lại là các vị trí quản trị viên cấp
cơ sở và vị trí khác. Bất kì ai khi đi làm cũng đều mong muốn được làm đúng
với chuyên ngành mà mình đã học ở đại học. Một khi được làm việc đúng
19
chuyên môn, đúng sở trường thì chúng ta mới có thể phát huy được hết khả
năng của mình và đạt được kết quả cao nhất trong công việc. Sinh viên học
ngành Quản trị kinh doanh cũng vậy, một khi đã lựa chọn học Quản trị kinh
doanh các bạn phần nào cũng đã có ý định được làm một quản trị viên cấp
cao, là người điều hành doanh nghiệp, làm chủ doanh nghiệp của mình. Xu
hướng này cũng thể hiện rõ mục tiêu nghề nghiệp của sinh viên khoa Quản trị
được cải thiện, vậy thì không có lý do gì để sinh viên không chọn nơi đây để
ổn định cuộc sống và công việc của mình. Chính vì thế, đây là địa điểm thuận
lợi để sinh viên mới ra trường tìm kiếm việc làm và phát triển con đường sự
nghiệp sau này của mình.
Cuối cùng, một yếu tố không kém phần quan trọng trong quyết định lựa
chọn việc làm của sinh viên đó là lý do lựa chọn việc làm đó:
Biểu đồ 8: Lý do lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51, khoa
Quản trị kinh doanh
Qua biểu đồ, ta thấy rằng ba lý do được các bạn lựa chọn nhiều nhất đó
là đam mê, sở thích của bản thân, phù hợp với năng lực của bản thân và điều
kiện làm việc, chế độ đãi ngộ tốt, nhanh chóng thăng tiến. Lý do lựa chọn
việc làm của hầu hết các bạn sinh viên đều dựa vào khả năng thực tế, vào sở
thích, đam mê của bản thân và vào điều kiện thuận lợi của công việc, điều này
cũng xuất phát từ khi các bạn lựa chọn ngành học trên đại học của mình. Để
làm việc đạt hiệu quả cao nhất thì trước hết chúng ta phải yêu thích công việc
21
đó, tiếp đó là công việc đó phù hợp với khả năng của bản thân thì mới có thể
phát huy được hết năng lực của mình và sinh viên mới có định hướng đúng
đắn cho con đường sự nghiệp sau này của mình. Hơn thế nữa, một mức lương
hấp dẫn, một chế độ đãi ngộ tốt cùng với cơ hội thăng tiến cao sẽ là động lực
lớn giúp sinh viên gắn bó với công việc mà mình đã chọn, đồng thời vẫn có
cơ hội phát triển bản thân hơn nữa và đảm bảo tốt hơn cho cuộc sống của
mình.
2.2.2. Ý kiến của sinh viên về thực trạng việc làm của sinh viên sau
khi ra trường hiện nay
Khi được hỏi về vấn đề kiến thức trong trường đại học đáp ứng
được bao nhiêu % cho công việc thực tế sau này của sinh viên thì có tới 78
bạn cho rằng nó chỉ đáp ứng được 15 – 30% cho công việc sau này, 60 bạn
cho rằng tỷ lệ này từ khoảng 30 đến 50 %, 29 bạn cho rằng nó chỉ chiếm 0 tới
15% và 19 bạn còn lại cho rằng kiến thức trong trường đại học đáp ứng được
Biểu đồ 9: Ý kiến của sinh viên về mức độ đáp ứng của kiến thức trên đại học
với công việc thực tế sau khi ra trường.
Khi được hỏi về các yếu tố mà doanh nghiệp/các nhà tuyển dụng
yêu cầu ngoài kiến thức chuyên môn được học ở trường thì 100 bạn được
lựa chọn ngẫu nhiên trong số 186 phiếu điều tra có được câu trả lời dưới biểu
đồ sau: ( Sở dĩ chúng tôi chọn con số 100 không vì mục đích nào khác mà chỉ
nhằm giúp cho việc đơn giản trong tính toán và phân tích).
23
Biểu đồ 10: Các yếu tố mà doanh nghiệp yêu cầu ngoài
kiến thức chuyên môn
Trong đó:
A. Kinh nghiệm làm việc
B. Ngoại ngữ và Tin học
C.Các kỹ năng mềm
D.Khả năng thích ứng với môi trường làm việc
E.Tinh thần trách nhiệm với công việc cao
F. Đáp án khác (mối quan hệ thân quen, bản lĩnh và đam mê, sức khỏe,…)
Kết quả trên cho thấy, hầu hết các bạn sinh viên đều ưu tiên cho ba
phương án đầu tiên (kinh nghiệm làm việc, Ngoại ngữ và Tin học, các kỹ
năng mềm). Đây là những yếu tố mà các doanh nghiệp yêu cầu khi tuyển
dụng sinh viên vừa mới tốt nghiệp. Thực tế hiện nay cho thấy, hầu hết các
sinh viên sau khi ra trường và tìm kiếm việc làm đều không đáp ứng được yêu
cầu của các nhà tuyển dụng vì thiếu kinh nghiệm làm việc thực tế, trình độ
Ngoại ngữ và Tin học còn kém, và quan trọng nhất là các kĩ năng mềm như:
làm việc nhóm, giao tiếp, thuyết trình, đàm phán, lãnh đạo,… thì hầu như
không có. Trong thời đại hiện nay, khi nền kinh tế mở cửa và hội nhập với
nền kinh tế thế giới thì Ngoại ngữ là một yếu tố không thể thiếu với mỗi một
24
sinh viên nếu muốn có được công việc ổn định, thế nhưng hầu hết sinh viên
nói chung và sinh viên kinh tế nói riêng thì đó lại là một điểm yếu. Đó chính