1
Chuyên đề:
SỰ THAY ĐỔI QUAN NIỆM VÀ CÁCH THỨC LỰA CHỌN VIỆC LÀM
CỦA NGƯỜI DÂN
KHU VỰC CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT PGS.TS Nguyễn Chí Dũng
Viện Xã hội học
Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh 1. Vài nét về địa bàn khảo sát
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm ở cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, là một trong
8 t
ỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có diện tích tự nhiên khoảng
1.371km
2
, dân số gần 1,2 triệu người và bao gồm 9 đơn vị hành chính: Thành
phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện là Mê Linh, Bình Xuyên, Yên Lạc,
Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo và Lập Thạch
1
. Một trong những ưu thế của
Vĩnh Phúc so với các tỉnh xung quanh Hà Nội là có diện tích đất đồi rộng, rất
thuận tiện cho việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị. Bên
cạnh đó nguồn lao động của Vĩnh Phúc khá dồi dào, chiếm khoảng 61,6% tổng
dân số
18%. Để đạt được những thành tựu này, tỉnh Vĩnh Phúc đã coi khâu giải phóng
mặt bằng là then chốt. Toàn tỉnh đã chuyển gần 7.000 ha đất dành cho công
nghiệp và phát triển đô thị. Với phương châm "có công nghiệp vào, đờ
i sống
nhân dân phải tốt hơn khi chưa có", Vĩnh Phúc tạo cơ chế cấp đất cho người dân
bị mất 30% đất sản xuất trở lên ở những vị trí thuận lợi để họ làm dịch vụ; có
chính sách ràng buộc nhà đầu tư thực hiện nghĩa vụ tạo việc làm cho con em
nông dân trong các doanh nghiệp trên địa bàn
4
.
3
Nguồn: Kiều Minh- Báo ĐT VnExpress (11/2006).
4
Nguồn: www.ASSET.vn l Nguyễn Văn Chữ - Bộ Tài nguyên và Môi trường
3
Thị xã Vĩnh Yên và huyện Bình Xuyên là hai địa bàn đang diễn ra tốc độ
chuyển đổi mục đích sử dụng đất, công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng
nên đã được chọn làm địa bàn khảo sát. Đặc biệt, tại huyện Bình Xuyên – hệ
thống chính trị đã vào cuộc, góp phần thiết thực trong công tác đền bù GPMB.
Khu công nghiệp Bình Xuyên và Khu công nghiệp Bá Thiện với tổng diện tích
trên 600 ha được giải phóng mặt bằng nhanh. Đồng chí Bí thư
huyện uỷ trực tiếp
làm Trưởng ban chỉ đạo GPMB, chính quyền cùng các tổ chức đoàn thể tuyên
truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương chung về GPMB. Gia đình
cán bộ, đảng viên gương mẫu nhận tiền, giao trả mặt bằng trước. Hai xã đông
đồng bào công giáo là Bá Hiến và Thiện Kế vốn có tập quán chỉ chôn người chết
một lần "nhất táng thiên thu", nhưng hưởng ứng "cu
ộc vận động vì công nghiệp
ệp, cơ quan trên địa bàn. Diện tích đất nông nghiệp
của thị trấn chỉ có 543,1 ha, đất phi nông nghiệp có 445,05 ha. Thời gian qua,
quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng được thực hiện trên địa bàn thị
trấn nhưng tốc độ chậm vì nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như giá đền bù chưa
hợp lý, ý thức trách nhiệm một số người chưa cao.
Xã Bá Hiến nằm ở phía Bắc huy
ện Bình Xuyên với 3216 hộ, 14 216 khẩu
(khoảng 35% số khẩu là đồng bào theo đạo Thiên chúa). Cơ cấu kinh tế của xã là
nông nghiệp, thủy sản – thương mại dịch vụ và xây dựng cơ bản. Những năm
qua, thực hiện chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chính quyền địa
phương đã tiến hành thu hồi và bàn giao hàng trăm ha đất cho các doanh nghiệp
và cơ quan trên địa bàn. Riêng năm 2008, địa phương
đã giao 83 ha cho tập đoàn
Hồng hải, 0.77 ha cho KCN Bá Thiện xây nhà máy nước. Hiện nay, chính quyền
xã vẫn đang tiếp tục thực hiện chính sách thu hồi và đền bù, giải phóng mặt bằng
cho các hộ dân trong xã. Những năm sắp tới, việc chuyển đổi mục đích sử dụng
đất sẽ giúp Bá Hiến trở thành một địa bàn có nhiều KCN với nhiều doanh nghiệp
cả trong và ngoài nước.
5
2. Sự thay đổi quan niệm và cách thức lựa chọn việc làm của người
dân khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
2.1. Chuyển đổi đất và lựa chọn nghề nghiệp:
Các hoạt động kinh tế có ảnh hưởng rất quan trọng đối với sự hình thành
các mô thức sống của người dân, trong đó đặc biệt quan trọng là các quan niệm
và việc lựa chọn nghề nghiệ
p. Bởi lẽ, chuyển đổi nghề nghiệp là vấn đề nổi bật,
là sự biến đổi xã hội trực tiếp và dễ thấy nhất dưới tác động của chính sách
chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở Việt Nam thời gian qua. Cũng chính bởi vậy
mà vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
7. Chủ cơ sở SX 0.0 0.5
8. Nội trợ 0.0 0.8
9 HS-SV 0.5 0.5
10 LL vũ trang 0.8 0.3
11 Hưu trí 1.0 2.0
12. Khác 0.0 0.8
Tổng 100.0 100.0
Có thể thấy, trước khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất – tức là khoảng 8
năm trước đây, tuyệt đại đa số những người được hỏi là nông dân (91.2%); chỉ
có tỷ lệ rất ít là cán bộ công chức (2.8%) hoặc làm lao động tự do (2.0%). Số liệu
này cho thấy địa bàn khảo sát trước khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một
địa bàn thuần nông v
ới cơ cấu nghề nghiệp khá đơn điệu. Tuy nhiên, đến thời
điểm khảo sát (tháng 5/2009), tình trạng trên đã thay đổi căn bản. Tỷ lệ cư dân
làm nông nghiệp tại 4 xã, phường khảo sát đã giảm gần một nửa, xuống còn
51.4%. Trong khi đó, số người làm lao động tự do tăng lên đáng kể, chiếm
30.9% số người được hỏi; số người chuyển sang buôn bán chiếm 5.8%. Đi
ều
đáng ngạc nhiên là, địa bàn khảo sát là nơi diễn ra quá trình CNH rất mạnh mẽ
với rất nhiều khu công nghiệp và đô thị mới nhưng số người làm công nhân công
nghiệp và công chức nhà nước lại gia tăng không đáng kể, tương ứng là 2.8% và
3.8% vào thời điểm năm 2009. Theo lý giải của người dân, thực trạng này có thể
7
bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như: trình độ học vấn, tay nghề, tuổi
tác, giới tính vv của người lao động khu vực chuyển đổi không đáp ứng được
yêu cầu của các công việc mới.
“ Các cháu trẻ, còn tuổi thì vào khu công nghiệp. Tuổi tôi làm sao vào
được? Đi chợ cũng khó khăn, tranh mua tranh bán, mỗi ngày may thì được 15-
nơi khác khi đó là điều bắt bu
ộc. Ngược lại, khi cơ hội vẫn còn thì họ luôn có xu
hướng gắn bó với gia đình và cộng đồng truyền thống của mình.
Bảng 2: Sự thay đổi về nơi làm việc của người được hỏi (Tỷ lệ %)
Nơi làm việc
Trước khi
bị thu
hồi đất
Hiện nay (2009)
1 Tại nhà 61.3 33.8
2 Trong xã 35.9 62.2
3 Trong huyện, khác xã 1.0 2.8
4 Trong tỉnh, khác
huyện
1.0 0.8
5 Tỉnh khác 0.5 0.3
6 Khác 0.3 0.3
Total 100.0 100
Để có thêm bằng chứng về sự thích ứng nghề nghiệp của người dân khu
vực chuyển đổi, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu thêm về phương tiện đi làm của
người được hỏi tại hai thời điểm khác nhau.
Bảng 3: Phương tiện đi làm của người dân tại hai thời điểm (Tỷ lệ %)
9
Thời điểm
Phương tiện đi làm
Trước khi
bị thu hồi đất
của người dân đã thay
đổi. Kết quả khảo sát cho bảng số liệu sau:
Bảng 4: Các yếu tố quan trọng đối với công việc chính của người được hỏi
(Tỷ lệ %; 1-2-3 là mức độ quan trọng, trong đó 1 là quan trọng nhất)
Năm bị thu hồi đất Hiện nay (2009)
Các yếu tố
1 2 3 1 2 3
1. Vốn
45.3
11.3 10.2
47.5 16.8
11.8
2. Kiến thức, kỹ năng 8.9 12.3 7.1
6.3 16.1
7.1
3. Kinh nghiệm SX, KD 7.9
16.6 12.0
3.8 13.8
13.6
4. Quan hệ xã hội 0.3 2.3 1.0 1.8 3.0 3.8
5. Sức khỏe
24.9 33.5
10.7
31.9 26.1
8.8
6. Diện tích đất SX, KD
9.9 13.9
7.9 1.0 5.3 3.8
7. Vị trí đất SX, KD 0.3 2.5 9.7 2.0 8.3
ện nay.
Như vậy, có thể thấy sự chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang các
nghề phi nông nghiệp đã làm thay đổi nhận thức, thái độ của người dân đối với
các yếu tố liên quan đến công việc chính của họ. Để có một công việc ổn định
với thu nhập tốt, đảm bảo cuộc sống thì rõ ràng người dân khu vực chuyển đổi
đã phải đề cao các yế
u tố mới như: kiến thức, kỹ năng, sự năng động của bản
thân, địa điểm sản xuất kinh doanh…chứ không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố
truyền thống và phổ biến như sức khỏe, kinh nghiệm và diện tích đất. Sự thay
đổi về nhận thức như vậy chắc chắn có ảnh hưởng rất tích cực đến khả năng
thích ứng của người dân vào cộng đồng xã hội mới với tính chất công nghiệp và
đô thị ngày càng rõ.
Mong muốn về nghề nghiệp cho các thành viên trong gia đình khi đến tuổi
lao động là một chỉ báo có thể cho thấy định hướng giá trị, quan niệm của người
dân khu vực chuyển đổi về vấn đề lao động – việc làm. Kết quả khảo sát cho
12
thấy, về tổng thể, lĩnh vực làm việc và các loại công việc mà những người được
hỏi mong muốn lần lượt là: cán bộ, công chức nhà nước (51.1%); Làm cho
doanh nghiệp nước ngoài (17.7%); Làm cho doanh nghiệp trong nước (16.5%);
Tự tổ chức sản xuất kinh doanh (7.1%) và Làm thuê tự do (7.6%). Kết quả khảo
sát cũng cho thấy một mâu thuẫn đáng chú ý, đó là: đa số người được hỏi hiện tại
đang làm nông nghiệp và lao động t
ự do nhưng chỉ rất ít trong số họ mong muốn
thành viên trong gia đình tham gia vào thị trường lao động tự do (chỉ 7.6% số
người trả lời); thậm chí không ai trong số họ mong muốn thành viên gia đình làm
việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Trong khi đó, làm việc trong khu vực nhà nước vẫn chiếm ưu tiên hàng
đầu, kế đó là khu vực doanh nghiệp, cả doanh nghiệp trong nước và liên doanh.
Bảng số liệu dưới đây cho th
trường lao động tự do, vốn rất bấp bênh, thu nhập thấp và không ổn định. Bởi
vậy, mong muốn cho các thành viên gia đình được làm việc trong khu vực chính
thức, ổn định (nhà nước, doanh nghiệp) là có phần hợp lý. Đồng thời, nó cũng
cho th
ấy những khó khăn của người dân trong quá trình thích ứng vào một hệ
thống kinh tế mới, đòi hỏi nhiều yếu tố mà người lao động ở khu vực nông
nghiệp truyền thống không dễ có được.
2.3. Chuyển đổi đất và hành vi tiêu dùng:
Cách thức tiêu dùng hay thói quen chi tiêu phản ánh rõ nét phần nào lối
sống của một cá nhân hoặc gia đình trên bình diện kinh tế. Từ kết quả khảo sát,
nhóm nghiên cứu nhận thấy có một m
ối liên hệ mật thiết giữa quá trình chuyển
đổi đất và hành vi tiêu dùng trong các hộ gia đình được nhận tiền đền bù. Trong
đó, tổng diện tích đất bị thu hồi có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng rõ rệt hơn
thời gian gia đình bị thu hồi đất. Diện tích đất bị thu hồi càng lớn, số tiền được
đền bù càng nhiều thì càng có nhiều ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu của các hộ
gia đình. Kết quả khả
o sát mục đích việc sử dụng tiền đền bù đất cho thấy rõ
điều này:
Bảng 6: Diện tích đất bị thu hồi và hành vi chi tiêu tiền đền bù(Tỷ lệ %)
Tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi
14
Mục đích chi tiêu tiền đền bù
Dưới
35%
diện tích
Từ 35%
– 70%
4.8 15.2 80.0 100
5. Cho vay lãi
Không
33.6 27.4 39.1 100
Có
22.6 25.8 51.6 100
6. Đầu tư GD và việc
làm
Không
27.8 19.9 52.3 100
Bảng số liệu trên cho thấy, với những gia đình bị thu hồi nhiều đất và nhận
được nhiều tiền đền bù thì hành vi mua sắm được thực hiện nhiều hơn. Trong khi
tổng số hộ bị thu hồi trên 70% diện tích chỉ chiếm khoảng 50% số gia đình được
khảo sát thì có tới 63.5% số hộ này dùng tiền đền bù để xây, sửa nhà và 62.0%
dùng nguồn tiền đó để mua sắm phương ti
ện sinh hoạt. Ngược lại, cùng với hai
hoạt động nêu trên thì các hộ bị thu hồi ít đất lại thực hiện rất hạn chế: lần lượt là
17.2% và 19.0% số hộ bị thu hồi dưới 35% diện tích đất thực hiện xây, sửa nhà
15
và mua sắm phương tiện sinh hoạt (trong khi tỷ lệ các hộ diện này là 24.6%).
Cũng vậy, chỉ những hộ bị thu hồi nhiều đất mới có điều kiện chuyển hướng đầu
tư với quy mô lớn hơn như thuê đất để sản xuất kinh doanh hoặc mua sắm thiết
bị sản xuất kinh doanh.
Cũng liên quan đến hành vi chi tiêu, kết quả khảo sát cho thấy mối quan
hệ nhân quả
giữa diện tích đất chuyển đổi và việc mua sắm, sử dụng các phương
Trước
T.H
24.8 23.6 51.6 100
1. Tivi thường
Sau T.H 52.6 10.5 36.8 100
16
Tổng 26.4 22.8 50.7 100
Trước
T.H
12.2 12.2 75.6 100
Sau T.H 17.3 24.0 58.7 100
2. Tivi màn hình phẳng
Tổng 16.5 22.1 61.4 100
Trước
T.H
18.4 17.0 64.5 100
Sau T.H 23.2 26.5 50.3 100
3. Đầu đĩa
Tổng 21.1 22.4 56.5 100
Trước
T.H
20.0 10.0 70.0 100
Sau T.H 15.2 30.4 54.3 100
4. Máy tính
Tổng 16.1 26.8 57.1 100
Trước
Sau T.H 12.3 24.6 63.1 100
9. Tủ lạnh
Tổng 13.8 23.7 62.5 100
Trước
T.H
100.0 0.0 0.0 100
Sau T.H 10.0 30.0 60.0 100
10. Máy giặt
Tổng 12.9 29.0 58.1 100
Ghi chú: Trước T.H: Trước khi bị thu hồi
Sau T.H: Sau khi bị thu hồi đất
3. Kết luận:
Có thể thấy rõ một thực tế là quá trình chuyển đổi đất là nguyên nhân trực
tiếp khiến đa số người dân phải thay đổi việc làm. Xu hướng chung là họ lựa
chọn những công việc thuộc khu vực lao động tự do, gần nhà. Phổ biến nhất là
việc chuyển sang kinh doanh một số dịch vụ
đơn giản, buôn bán nhỏ và đặc biệt
là làm thuê tự do. Cũng giống như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Minh
18
(2003), Nguyễn Văn Đáng (2003), Nguyễn Thị Kim Hoa (2008), người dân khu
vực chuyển đổi gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tìm việc làm mới phi
nông nghiệp. Tâm lý chung, đa số người dân vẫn muốn các thành viên trong gia
đình có được việc làm trong khu vực nhà nước vốn mang tính chất ổn định hơn
các khu vực khác.
Các thông tin về nơi làm việc và phương tiện đi làm cho thấy người dân
vẫn có xu hướng muốn tìm kiếm công việc gần nhà, nhất là nhóm tuổ
i trung niên
nhóm nghiên cứu nhận thấy hiệu quả của các hoạt động đó vẫn chưa cao do
người dân chưa nhận được sự giúp đỡ cần thiết của các cơ quan quản lý nhà
nước.
Nói cách khác, sự thích ứng của người dân vào thị trường lao động m
ới
diễn ra một cách tự phát, thiếu sự hướng dẫn và giúp đỡ từ các cơ quan chức
năng. Bởi vậy, nhiều hộ gia đình tốn kém tiền của nhưng các thành viên vẫn
chưa thể có được công ăn việc làm, chưa hòa nhập được vào với cộng đồng xã
hội mới. Với tâm lý thất bại, những người như vậy rất dễ có những phản ứng
không tích c
ực với xã hội.
Chuyển đổi đất là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thói quen tiêu dùng của
người dân. Theo đó, nếu gia đình bị thu hồi càng nhiều đất, được đền bù càng
nhiều tiền thì họ càng chi tiêu nhiều cho xây, sửa nhà và mua sắm đồ dùng sinh
hoạt. Kết quả khảo sát cho thấy, hành vi chi tiêu của người dân trong diện
chuyển đổi đất còn mang tính tự phát, thiếu căn cơ do chủ yếu
đầu tư cho tiêu
dùng trong sinh hoạt trong khi đầu tư cho sản xuất, kinh doanh còn hạn chế.
Phản ứng này trước mắt tạo ra sự phồn thịnh nhưng về lâu dài rất dễ để lại hậu
quả tiêu cực khi nguồn tiền từ đền bù đất được sử dụng hết và không phát huy
được hiệu quả thiết thực, bền vững./. 20
Tài liệu tham khảo 1. Mai Huy Bích (2003): “Xã hội học gia đình”. NXB KHXH, Hà Nội.
2. Nguyễn Văn Đáng (2003): “Chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân
trong quá trình đô thị hóa”. Tạp chí Lý luận chính trị.
CT-HCQG HCM.
21
15. Văn Thị Ngọc Lan (1998), "Sự biến đổi cơ cấu nghề nghiệp ở khu vực đô
thị mới ven đô thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Xã hội học số, (2).
16. Michael Leat (2000), "Vùng ven đô của Việt Nam: Việc quản lý hành chính
sự phát triển đô thị của Hà Nội". Tạp chí Xã hội học, Số 3.
17. Nguyễn Thu Linh (2008): “Văn hoá doanh nghiệp - cách tiếp c
ận hiện đại
về doanh nghiệp”. />.
09:45, 7/7/2008 (GMT+7)
18. Trịnh Duy Luân (2008): “Biến đổi tâm lý-xã hội của cộng đồng dân cư đô
thi dưới tác động của đô thị hoá”, Tạp chí Xã hội học số 1.
19. Trần Lê (2007): “Quyền lợi của người nông dân bị thu hồi đất”. Nguồn:
vneconomy ngày 6/7/2007).
20. Nguyễn Hữu Minh (2003), "Đô thị hoá và sự phát triển nông thôn Việt Nam-
Một số vấn đề cần quan tâm nghiên cứu", Tạ
p chí Xã hội học, (3).
21. Nguyễn Hữu Minh (2003), "Những biến đổi kinh tế -xã hôi ở vùng ven đô
Hà Nội trong quá trình đô thị hóa", Đề tài cấp Viện.
22. Mai Quỳnh Nam (chủ biên, 2002): “Gia đình trong tấm gương xã hội học”.
NXB KHXH, Hà Nội.
23. Trần Ngọc Thêm (2001): “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”. NXB Thành
phố Hồ Chí Minh.
24. Trương Xuân Trường: “Động thái của mô hình văn hoá gia đ
ình nông thôn
những năm đầu thập kỷ 90” in trong Mai Quỳnh Nam (2002: 311 - 326):
“Gia đình trong tấm gương xã hội học”. NXB KHXH, Hà Nội.
25. Nguyễn Hữu Tiến: “Vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nông
trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá”. Tạp chí Cộng sản điện tử
người Việt Nan trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”. Nxb VHTT, H.2001.
36. Đỗ Văn Quân (2006) : “Biến đổi mức sống hộ gia đình đình ở nông thôn
vùng phụ cậ
n Hà Nội , Luận văn Thạc sĩ Xã hội học, Hà Nội.
37. Đình Quang (2005) : “Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt
nam. Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội
38. Trần Văn Thạch (2005), Biến đổi mức sống của nhóm cư dân sau tái định
cư ở Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Xã hội học, Hà Nội.
39. Nguyễn Đứ
c Truyến (2003): ‘‘Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở
nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ Đổi mới’’, Nxb. Khoa học
xã hội, HN.
40. UBND xã Bá Hiến (2008) : Báo cáo kinh tế xã hội năm 2008, phương
hướng nhiệm vụ năm 2009.
41. UBND thị trấn Hương Canh (2008) : Báo cáo kinh tế xã hội năm 2008,
phương hướng nhiệm vụ năm 2009.
42. UBND phường Khai Quang (2008) :
Báo cáo kinh tế xã hội năm 2008,
phương hướng nhiệm vụ năm 2009.
43. UBND phường Đồng Tâm (2008) : Báo cáo kinh tế xã hội năm 2008,
phương hướng nhiệm vụ năm 2009.
44. Lê Ngọc Văn (2002), "Một số đặc điểm biến đổi gia đình từ xã hội nông
nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hoá", Tạp chí Khoa học về
Phụ nữ, (1).